Trị giá hải quan của WTO, thực trạng và áp dụng tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐÀO NGỌC THÀNH
TRỊ GIÁ HẢI QUAN CỦA WTO,
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


Trang

Lời cam đoan Mục lục Danh mục chữ viết tắt Danh mục bảng biểu MỞ ĐẦU
1

Chƣơng 1: KHÁI NIỆM VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CÁC PHƢƠNG PHÁP
XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN
5
1.1.
Khái niệm trị giá hải quan
5
1.2.
Khái quát các hệ thống xác định trị giá hải quan
8
1.2.1.
Xác định trị giá hải quan theo định nghĩa Brusels

Công tác xác đinh trị giá Hải quan của Trung Quốc
54
2.2.4.
Tình hình gian lận thương mại qua giá tại Trung Quốc
61
2.2.5.
Các biện pháp quản lý của hải quan Trung quốc trong
phòng, chống gian lận thương mại qua giá
65
2.2.6.
Đánh giá pháp luật hiện hành và kết quả công tác quản lý
rủi ro trong lĩnh vực giá của hải quan Trung Quốc
84

2.3.
Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO của Việt Nam
88
2.3.1.
Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực Hải quan và quá
trình tham gia thực hiện hiệp định GATT/WTO
88
2.3.2.
Chính sách thuế quan khi tham gia WTO và tình hình thực
hiện cam kết về trị giá Hải quan theo Hiệp định Trị giá GATT
92
2.3.3.
Những khó khăn, tồn tại trong công tác xác định trị giá
cho hàng nhập khẩu
96


3.2.6.
Trong công tác điều tra chống gian lận thương mại
119
3.2.7.
Trong hoạt động của tỉnh báo Hải quan
121
3.2.8.
Cần có chế tài đủ mạnh trong xử lý các hành vi vi phạm
123
3.2.9.
Gắn cải cách hành chính với hiện đại hoá công tác hải quan
126
3.2.10.
Phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng trong và ngoài ngành
129
3.2.11.
Hợp tác chặt chẽ Hải quan quốc tế
133
3.2.12.
Thực hiện các biện pháp quản lý khác theo khuyến nghị
của tổ chức hải quan thế giới và các nước phát triển
136

KẾT LUẬN
139

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
141

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN
Association of South-East
Asean Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á
ASEM
Asia- Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
GATT
General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại
HS
Convention on the
Harmonized commodity
Description and Coding
System
(Harmonized System)
Công ước về Hệ thống hài
hòa về mô tả và mã hóa hàng
hóa
TRIPS
Agreement on Trade-
Related Aspects of
intellectual Property Rights
Hiệp định về khía cạnh liên
quan đến thương mại và
quyền sở hữu trí tuệ.
WCO

XNC
Xuất nhập cảnh
XNK
Xuất nhập khẩu DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1: Kim ngạch XNK của Trung Quốc
54
Bảng 2.2: Kim ngạch XNK của Việt Nam
92
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế. Để hòa vào “dòng chảy” của quá trình phát triển thương mại quốc
tế đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng các “luật chơi” chung, thực thi nghiêm
chỉnh các cam kết quốc tế, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã yêu
cầu: “…Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực
và thế giới. Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc
tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác…Chuẩn bị tốt các điều
kiện để thực hiện các cam kết sau khi nước ta gia nhập WTO. Khẩn trương

nghiệm cho Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật
quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam trước đây đã có một số công trình có đề cập đến công tác
QLNN về hải quan, một số đề tài về nghiên cứu hiện đại hóa hải quan, công
tác kiểm tra sau thông quan như: “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp quản lý
hải quan hiện đại nhằm tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế của Việt Nam”
của TS nguyễn Công Bình, Viện nghiên cứu thương mại - Bộ Công thương,
2009; “ Cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế” của TS Nguyễn Ngọc Túc, Tổng cục Hải quan, 2007; “Các
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ của kế hoạch cải cách, phát triển hiện đại hóa Hải quan giai
đoạn 2004- 2006” của ThS Nguyễn Viết Hồng, Tổng cục Hải quan, 2005;
…Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, những công trình này chỉ đề cập đến
công tác QLNN về Hải quan ở một góc độ, khía cạnh nhất định, chưa đi vào
các vấn đề nghiệp vụ chuyên biệt có tính chuyên môn sâu như công tác xác

3
định trị giá. Qua thời gian nghiên cứu tìm hiểu, tác giả không tìm thấy công
trình nghiên cứu tương tự nào trong lĩnh vực này.
3. Về mục đích, ý nghĩa của luận văn
Mục đích đề tài là làm rõ một số vấn đề về nguyên tắc xác định trị giá
tính thuế theo Hiệp định thực hiện điều VII Hiệp định Chung về Thuế quan và
Thương mại 1994 của WTO. Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng của
Trung Quốc để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, góp phần
hoàn thiện những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà nước
về hải quan đối với hoạt động XNK, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,
thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:

6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện trên cơ sở của phương pháp
duy vật biện chứng, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử,
phương pháp so sánh. Đề tài này được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhất là các quan điểm đổi mới
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Khái niệm về trị giá hải quan và quá trình hình thành, phát
triển các phương pháp xác định trị giá hải quan.
Chương 2: Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO tại
Trung Quốc và Việt Nam.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và những kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá hải quan ở Việt Nam.

5
Chƣơng 1
KHÁI NIỆM VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH, PHÁT TRIỂN CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH
TRỊ GIÁ HẢI QUAN

1.1. Khái niệm trị giá Hải quan
Thuế Hải quan đã ra đời và tồn tại khi những hình thái Nhà nước đầu
tiên xuất hiện, đó là thuế đánh vào hoạt động lưu chuyển hàng hóa từ phần
lãnh thổ này đến phần lãnh thổ khác. Tuy nhiên, phải đến thời kỳ cận đại và
hiện đại thì những quy định cụ thể, những đạo lý cụ thể của thuế Hải quan
mới chính thức được ghi lại thành các điều khoản luật. Theo ghi nhận của Tổ

“- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan
theo giá trị.
- Trị giá Hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
- Trị giá Hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo
giá trị của hàng hóa đó.
- Trị giá Hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan
và thống kê Hải quan” [11].
Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá Hải
quan như sau:
Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng
cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan.
Trị giá Hải quan bao gồm trị giá Hải quan của hàng hóa xuất khẩu và
trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu. Trị giá Hải quan của hàng hóa xuất
khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng mua bán, không
bao gồm các chi phí vận chuyển (F) và bảo hiểm (I) quốc tế. Còn trị giá Hải
quan của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập

7
đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6 phương pháp xác định
trị giá theo Hiệp định trị giá GATT/TWO và dừng lại ngay ở phương pháp đã
xác định được trị giá. Trị giá Hải quan được xác định cho tất cả các loại hàng
hóa do các tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu không phân biệt có hợp
đồng hay không có hợp đồng, nhằm mục đích thương mại hay không nhằm
mục đích thương mại, hoạt động kinh doanh đầu tư hay sản xuất xuất khẩu.
Trị giá Hải quan được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nhưng
chủ yếu được sử dụng vào các mục đích sau:
- Mục đích tính thuế: Khởi thủy đầu tiên của việc xác định trị giá Hải
quan là nhằm mục đích tính thuế, chính vì lẽ đó khi nói đến trị giá Hải quan
người ta thường đồng nhất với trị giá tính thuế.

Thuế đánh theo giá trị hàng hóa có nhiều ưu điểm nổi trội, đặc biệt
trong thời kỳ công nghiệp, nó phù hợp hơn với việc giá cả lên xuống thất
thường và sự khác biệt chất lượng hàng hóa. Nhưng nếu sử dụng các phương
pháp xác định giá không chính xác và không ổn định lại là một trở ngại lớn
cho sự tăng trưởng thương mại quốc tế. Vì thế ngay từ đầu thế kỉ 20, các nước
kinh tế phát triển Châu Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thống các phương pháp
xác định trị giá Hải quan áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc tế, nhưng chỉ
đến năm 1947 dưới sự bảo trợ của Hội Quốc liên (Tổ chức Liên hợp quốc
ngày nay) các nỗ lực này mới thực sự thu được kết quả. Lần đầu tiên các
nguyên tắc về xác định trị giá Hải quan được ghi nhận trong Hiệp định chung
về thuế quan và thương mại (GATT). Tuy nhiên, ở giai đoạn này các quy định
mới mang tính nguyên tắc và thu gọn tại Điều VII của Hiệp định, nhưng có
thể nói đây đã là sự khởi đầu quan trọng cho công việc hình thành nên hệ
thống các quy tắc về xác định giá trị Hải quan được nhiều nước công nhận và
áp dụng sau này.
Ba nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều VII Hiệp định là:
1. Phải căn cứ vào trị giá thực tế của hàng hóa.

9
2. Không được căn cứ vào trị giá của hàng hóa được sản xuất tại nước
nhập khẩu hoặc trị giá hư cấu hay áp đặt.
3. Phải là giá mà với mức giá ấy hàng hóa đó hoặc hàng hóa tương tự
được bán trong kỳ kinh doanh bình thường, với các điều kiện cạnh tranh
không hạn chế.
Do quy định của Điều VII mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra những
nguyên tắc chung mà chưa bao gồm các hướng dẫn sát với thực tế nên việc
xác định trị giá Hải quan vẫn không ổn định và không thể dự đoán trước
được. Với mục tiêu tạo ra hệ thống xác định trị giá Hải quan công bằng, ổn
định và trung lập, năm 1947 Nhóm Nghiên cứu trị giá Hải quan đã được thành
lập tại Brusselle, nhiệm vụ đặt ra cho Nhóm là phải dự thảo một Định nghĩa

đề cập đến vấn đề mua bán thực hiện trên thị trường (đề cập đến điều kiện thị
trường), tức vấn đề giá hàng hóa ở đây không bị ảnh hưởng bởi các điều kiện,
các mối liên quan giữa người bán và người mua. Như vậy các vấn đề nêu lên
của Định nghĩa Brusels hoàn toàn mang tính chất lý thuyết.
Điều 3 của Định nghĩa chỉ rõ rằng trị giá Hải quan đối với trường hợp
có các chi phí về bằng phát minh sáng chế, thiết kế, mẫu mã và mác, nhãn sản
xuất hoặc nhãn hiệu thương mại nước ngoài của hàng hóa thì cũng được cộng
vào giá trị thông thường của hàng hóa.
2) Những yếu tố cơ bản của Định nghĩa Brusels
Nội dung của Định nghĩa Brusels đã đưa ra một khái niệm lý thuyết về
trị giá Hải quan, trong đó đề cập đến các yếu tố về giá cả, thời gian, địa điểm,
số lượng, cấp độ thương mại và các yếu tố điều chỉnh.
- Yếu tố về giá: Giá thông thường trong Định nghĩa Brusels là một
khái niệm hoàn toàn mang tính chất lý thuyết, Định nghĩa bảo đảm cho hàng
hóa nhập khẩu luôn có một trị giá Hải quan, hay nói cách khác giá này luôn
xác định được ngay cả trong trường hợp trên thực tế không diễn ra giao dịch
bán hàng. Giá thông thường tức là giá được công nhận thực hiện trong điều

11
kiện cạnh tranh lành mạnh - giá mà hàng hóa sẽ được bán. Khi xem xét giá
thông thường của Định nghĩa cần lưu ý giá này đã bao gồm các loại phí hoa
hồng, phí môi giới và các loại phí khác bảo đảm cho việc giao dịch hàng tới
địa điểm của nước nhập khẩu. Đồng thời giá thông thường này cũng không
bao gồm các khoản thuế của nước nhập khẩu.
- Yếu tố về thời gian: Để xác định tiêu chuẩn của trị giá được áp dụng
cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa cần phải xác định một thời gian cố định.
Định nghĩa Brusels đã quy định đó là thời điểm làm thủ tục Hải quan đối với
hàng hóa nhập khẩu, tức là thời điểm cơ quan Hải quan thực hiện việc đánh thuế.
- Yếu tố địa điểm: Định nghĩa Brusels đưa ra một khái niệm trong hợp
đồng mua bán hàng hóa liên quan đến yếu tố địa điểm tức là giá được xác

phải điều chỉnh khi có những nhân tố bất bình thường, có nghĩa giá này không
phù hợp với các điều kiện cạnh tranh lành mạnh".
- Về chiết khấu và giảm giá: Định nghĩa Brusels mở ra cho tất cả các
việc mua bán hàng hóa thực hiện trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh là
được chấp nhận.
1.2.2. Xác định trị giá hải quan theo hiệp định trị giá GATT
1.2.2.1. Khái quát về Hiệp định trị giá GATT/WTO
Đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu nhận thức rõ
ràng hơn những nhược điểm của hệ thống xác định trị giá theo định nghĩa
Brusels, mà nhược điểm lớn nhất là hệ thống này là dựa trên một định nghĩa
rất mơ hồ về giá hàng hóa. Hơn nữa, giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ cùng
các cách áp dụng khác nhau mà sự khác biệt rõ nét nhất là mức độ can thiệp
của cơ quan quản lý vào việc xác định trị giá đã tạo nên sự không thống nhất
trong việc sử dụng định nghĩa này.
Từ năm 1973 đến 1979, các nước trên thế giới bắt đầu một loạt các
cuộc đàm phán mới nhằm đạt được những thuận lợi trong mở rộng và tự do
hóa thương mại quốc tế. Vấn đề xác định giá trị giá hải quan được đặt ra như

13
một trở ngại quan trọng của tiến trình này. Vòng đàm phán này được gọi là
vòng đàm phán Tokyo, mà kết quả của nó là một hiệp định mới về xác định
trị giá hải quan ra đời vào năm 1981.
Hiệp định trị giá Hải quan mới vẫn dựa trên nguyên tắc cơ bản chung
nhất là điều VII của hiệp định trị giá GATT. Tuy nhiên, nguyên tắc chung đã
được cụ thể hóa bằng các phương pháp xác định trị giá Hải quan cụ thể đi
kèm những hướng dẫn rõ ràng. Chính vì vậy Hiệp định đã tạo nên một sự ổn
định và thống nhất mới trong việc định giá chung trên thế giới, và được rất
nhiều nước ủng hộ.
Năm 1994, vòng đàm phán Uruguay kết thúc với kết quả là Hiệp định
thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có mục tiêu cao nhất là tự do

định trị giá không được sử dụng để làm hàng rào phi thuế quan đối với thương
mại. Một trong những mục tiêu có tính nguyên tắc của WTO là loại bỏ các
biện pháp này.
- Cơ sở để xác định trị giá của hàng nhập khẩu theo mục đích Hải
quan phải là trị giá giao dịch, với nghĩa rộng nhất trong chừng mực có thể.
Nói một cách đơn giản nhất, trị giá giao dịch được định nghĩa là giá thực tế đã
thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng nhập khẩu cộng thêm với các
khoản điều chỉnh. Trị giá giao dịch được coi là phương pháp chủ yếu để xác
định trị giá theo Hiệp định này. Trị giá giao dịch cho phép các doanh nghiệp
dự đoán chính xác số thuế phải nộp đối với hàng nhập khẩu của họ. Hơn nữa,
trị giá giao dịch còn đảm bảo một mức độ chắc chắn cho các doanh nghiệp,
bởi vì trị giá Hải quan của hàng nhập khẩu trước hết sẽ dựa trên giá thỏa
thuận giữa người mua và người bán.
- Trị giá Hải quan phải được xác định dựa trên những tiêu chí đơn
giản, bình đẳng và nhất quán với các thông lệ thương mại. Mặt khác, thủ tục
áp dụng trị giá cần được áp dụng chung không phân biệt nguồn cung cấp.
Việc áp dụng các phương pháp xác định trị giá phải phù hợp với các thông lệ

15
thương mại. Việc áp dụng Hiệp định này được thực hiện đối với tất cả các
nước không phân biệt nước xuất khẩu có phải là bên ký kết của Hiệp định hay
không. Không có bất cứ sự phân biệt nào giữa những người xuất khẩu hay
giữa các sản phẩm. Thông qua việc áp dụng các nguyên tắc này, Hiệp định trị
giá được kỳ vọng là sẽ tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế.
- Biện pháp chống phá giá đúng đắn phải áp dụng luật về chống phá
giá. Việc tùy ý nâng trị giá tính thuế lên để tăng nguồn thu thuế nhập khẩu
theo Hiệp định này là không được phép. Không được từ chối giá thỏa thuận
giữa người mua với người bán chỉ vì lý do đơn giản: giá đó được coi là
"quá thấp".
- Theo Hiệp định này, trị giá Hải quan cần được xác định căn cứ vào

GATT/WTO
Hiệp định qui định 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan:
1) Phương pháp 1: Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu
(Transaction Value);
Hiệp định trị giá GATT đã chỉ ra rằng cơ sở để xác định trị giá Hải
quan đối với hàng hoá nhập khẩu cho mục đích Hải quan trong phạm vi lớn
nhất phải là "Trị giá giao dịch". Vì vậy, phương pháp đầu tiên rất quan trọng
và có tính nguyên tắc của Hiệp định xác định trị giá GATT là trị giá giao dịch
được quy định tại Điều 1 và Điều 8 của Hiệp định.
* Điều 1
(a). Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức
là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để
xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều
8, với điều kiện là:
+ Không có sự hạn chế nào trong việc người mua định đoạt hay sử
dụng hàng hóa, trừ những hạn chế:
- Đã được áp dụng hoặc quy định bởi luật pháp hoặc bởi các cơ quan
có thẩm quyền tại nước nhập khẩu;

17
- Nhằm giới hạn những khu vực địa lý mà hàng hóa có thể được phép
bán lại hoặc:
- Không gây ảnh hưởng lớn tới giá trị hàng hóa.
+ Việc mua bán hoặc giá cả không phụ thuộc vào điều kiện hoặc suy xét
nào đó khiến không thể xác định được giá trị của hàng hóa đang được định giá.
+ Người bán sẽ không được trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng bất kỳ
phần nào từ số tiền do người mua thu được qua bán lại, nhượng lại hoặc sử
dụng hàng hóa này, trừ một số điều chỉnh hợp lý được phép tại Điều 8 ; và
+ Người mua và người bán không có liên hệ hoặc trong trường hợp có
liên hệ đó thì giá trị giao dịch chỉ được chấp nhận cho mục đích thuế quan

cho người mua có liên hệ.
+ Các phương pháp kiểm tra được sẽ được sử dụng theo đề xuất của
người nhập khẩu và chỉ nhằm mục đích so sánh. Các giá trị thay thế có thể sẽ
không được xây dựng theo các quy định.
* Điều 8
(a). Khi xác định trị giá thuế quan theo các qui định của Điều 1, cần
phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng
hóa nhập khẩu:
+ Các khoản sau, mà trong chừng mực nào đó người bán đã phải chịu
nhưng không bao gồm trong giá đã thực sự thanh toán hoặc phải thanh toán
cho lô hàng:
- Tiền hoa hồng và môi giới, trừ tiền môi giới mua hàng;
- Thi phí thùng gửi hàng được coi như chi phí nhằm mục đích thuế
quan với hàng hóa được đề cập ở đây;
- Các chi phí đóng gói (lao động hoặc vật liệu);
+ Giá trị, đã phân bổ hợp lý, của các hàng hóa và dịch vụ sau đây mà
người bán đã trực tiếp hoặc gián tiếp dành cho người mua không lấy tiền hoặc
với giá thấp, để sử dụng trong sản xuất và bán để xuất khẩu các hàng hóa
nhập khẩu đó mà chưa được gộp trong giá đã thanh toán hoặc phải thanh toán.

Trích đoạn Tác động của hiệp định trị giá GATT đối với kinh tế Trung Quốc và quá trình tham gia, thực hiện Hiệp định trị giá GATT Chính sách thuế quan của Trung Quốc khi gia nhập WTO Công tác xác định trị giá Hải quan của Trung Quốc Tình hình gian lận thương mại qua giá tại Trung Quốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status