Phát triển Hệ thống đổi mới quốc gia ở một số
nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam Hoàng Thị Thinh Trường Đại học Kinh tế
Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phí Mạnh Hồng
Năm bảo vệ: 2014 Keywords. Kinh tế chính trị; Kinh tế tri thức; Hệ thống đổi mới quốc gia
Content
1.Tính cấp thiết của đề tài
Jeffrey Sachs, một chuyên gia về phát triển kinh tế của Liên Hợp Quốc, đồng tác giả của Chương
sách với tiêu đề: “Tiến bộ công nghệ và sự tăng trưởng kinh tế lâu dài của các quốc gia châu Á”, đã
nêu rõ sự cần thiết phải có chiến lược đổi mới ở các quốc gia này. Ông viết: “Sự cần thiết phải đề ra
chiến lược đổi mới là một thực tiễn đặt ra cho các quốc gia châu Á, cũng như ở các nơi khác trên thế
giới. Tuy nhiên, đối với châu Á trong đó có Việt Nam, nhu cầu này có lẽ còn cấp bách hơn, bởi vì
nhiều nền kinh tế châu Á hiện nay đang đứng ở ngưỡng cửa của một giai đoạn phát triển mới, đòi
hỏi một cách tiếp cận mới về công nghệ và tăng trưởng” [20]. Từ chỗ nhập khẩu, ứng dụng công
nghệ của Mỹ và Tây Âu một cách thành công, các nền kinh tế này phải phấn đấu để tự mình đổi mới
công nghệ.
Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu… đã đưa nhân loại tới nền kinh tế tri thức. Tri thức đã thực sự trở thành nguồn lực quyết
định cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Sự thay thế nhanh chóng của công nghệ tất yếu
Cambridge Journal of Economics,, February, 5-24. Chris Freeman đã phân tích và làm rõ thực chất
của NIS. Theo ông, NIS là một mạng lưới các tổ chức, thiết chế trong các khu vực tư nhân và công
cộng cùng phối hợp hoạt động lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu, nhập khẩu, cải tiến và phổ biến
các công nghệ mới.
“Technological advances and the long-term economic growth of Asian countries” của Sachs, J.D
(2001). Trong công trình nghiên cứu này, Sachs đã phân tích sự cần thiết phải có chiến lược đổi mới
ở các quốc gia này. Ông nhấn mạnh sự cần thiết phải đề ra chiến lược đổi mới là một thực tiễn đặt ra
cho các quốc gia châu Á, cũng như ở các nơi khác trên thế giới, bởi vì nhiều nền kinh tế châu Á hiện
nay đang đứng ở ngưỡng cửa của một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi một cách tiếp cận mới về
công nghệ và tăng trưởng.Từ chỗ nhập khẩu, ứng dụng công nghệ của Mỹ và Tây Âu một cách
thành công, các nền kinh tế này phải phấn đấu để tự mình đổi mới công nghệ.
“National Innovation Systems: Towards a Theory of Innovation and Interactive Learning” của
Lundvall, B.A. Trong tài liệu này, Lundvall đã dùng khái niệm NIS để phân tích các quá trình đổi
mới, bao gồm các doanh nghiệp và các tổ chức tri thức tương tác với nhau nhằm mục đích thúc đẩy
đổi mới và nâng cấp liên tục năng lực công nghệ.
“The ensence and importance of the National innovation system” của Patel, P và Pavitt, K (1994).
Trong công trình nghiên cứu này, hai tác giả đã phân tích và làm rõ bản chất và tầm quan trọng của
NIS. Theo các ông, NIS bao gồm các tổ chức thiết chế trong nước, hệ thống các kích thích và năng
lực quyết định tốc độ và chiều hướng cải tiến công nghệ (hoặc là tốc độ và cấu thành của các hoạt
động tạo ra đổi mới) trong một nước.
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng NIS trong một vài năm gần đây thu hút được sự chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu. Đã có một số công trình nghiên cứu về NIS như:
“Vận dụng cách tiếp cận NIS để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”, Lê Đình Tiến, 2000 [8]. Tác giả đã
phân tích khái quát cách tiếp cận về NIS và hướng nó vào vấn đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
“Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, Những kiến thức cơ bản về đổi mới”
của TS. Trần Công Yên [14] cũng đã trình bày những tất yếu của đổi mới công nghệ và nhấn mạnh
đến sự đổi mới theo cách tiếp cận NIS.
Công trình “NIS của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á” [11] của trung tâm thông tin khoa
học và công nghệ năm 2006. Trong tổng luận này cũng phân tích và làm rõ NIS của các nền kinh tế
đang phát triển ở châu Á và bước đầu đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để
phát triển NIS ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự phát triển NIS của một số nước ở châu Á là đối tượng nghiên cứu của luận văn. Trên cơ sở
đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho sự phát triển NIS ở Việt Nam thông qua phân tích thực trạng, quá
trình hình thành và phát triển, đặc điểm của NIS ở Việt Nam. Đánh giá những kết quả đạt được và những
vấn đề còn tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát triển NIS ở Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu NIS của ba nước ở châu Á là: Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn
Quốc. Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp cho việc phát triển Hệ thống đổi mới
quốc gia ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp chung của luận văn là sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp cụ thể khác, như: phương pháp trừu
tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê…
6. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ cách thức hình thành và phát triển NIS của một số nước ở châu Á, qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm, chính sách nhằm phát triển NIS ở Việt Nam.
- Luận văn phân tích, đánh giá NIS của Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển NIS của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
chương, 9 tiết:
Chương 1: Tổng quan chung về Hệ thống đổi mới quốc gia
một số nước đang phát triển ở châu Á, Cục KH&CN Quốc gia, tr. 25.
13. Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á –Thái Bình Dương (ESCAP) (1970), “Định
nghĩa công nghệ”, Cục KH&CN Quốc gia, Hà Nội.
14. Trần Công Yên (2012), Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan: Những
kiến thức cơ bản về đổi mới, NXB Khoa học và Kỹ Thuật, tr.153.
Tiếng Anh
15. Charles Edquist, C. (1997), Systems of Innovation: Technologies, Institutions and
Organizations, Pinter, London.
16. Chris Freeman, C. (1987), “The National System of Innovation in Historical Pespective”,
Cambridge Journal of Economics, (19), pp.5-24.
17. Lundvall, B.A (1992), National Innovation Systems: Towards a Theory of Innovation
and Interactive Learning, London, Pinter Publishers.
18. OECD (2010), Innovation strategy, London, Pinter Publishers.
19. Patel, P. và Pavitt. K. (1994), The ensence and importance of the National innovation
system, (14), OECD.
20. Sachs, J.D (2001), Technological advances and the long-term economic growth of Asian
countries, pp.158-185.
Website:
21. www.globalinnovationindex.org
22. www.tiasang.com.vn
23. www.vietnamnet.vn/vn