Vấn đề bảo đảm an ninh trong lĩnh vực hàng không dân dụng theo pháp luật quốc tế thực tiễn áp dụng tại việt nam - Pdf 10

Vấn đề bảo đảm an ninh trong lĩnh vực hàng
không dân dụng theo pháp luật quốc tế. Thực
tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyễn Thị Hà

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS. TS Nguyễn Bá Diến
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tìm hiểu một cách cụ thể các quy định về an ninh hàng không dân dụng
trong pháp luật quốc tế thể hiện tại các điều ước quốc tế, các nghị quyết, quyết định
của ICAO….và trong pháp luật Việt Nam. Đánh giá đúng đắn và toàn diện về hệ
thống bảo đảm an ninh hàng không dân dụng. Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định về pháp luật để tạo niềm tin vững tâm cho các hành khách khi tham
gia sử dụng dịch vụ vận chuyển bằng đường hàng không.

Keywords: An ninh hàng không; Hàng không dân dụng; Pháp luật quốc tế; Pháp luật
Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành hàng không dân dụng có lịch sử phát triển lâu dài. Ngày nay thì nó được sử dụng như
một công cụ hỗ trợ việc đi lại, vận chuyển con người, hàng hóa một cách nhanh nhất. Song
song với nhu cầu vận chuyển con người, hàng hóa và hành lý của họ thì một vấn đề được đặt
ra và đóng vai trò vô cùng quan trọng là vấn đề bảo đảm an ninh hàng không. Sở dĩ đặt ra vấn
đề này vì nó xuất phát từ việc bảo đảm trực tiếp tính mạng cho con người, hành lý, hàng hóa
của họ trên tàu bay. Không giống các hình thức vận chuyển khác như vận chuyển đường biển,
vận chuyển đường bộ là trong trường hợp khẩn cấp xảy ra tai nạn thì còn có thể nói đến cơ

- Nhiệm vụ:
+ Tìm hiểu một cách cụ thể các quy định về an ninh hàng không dân dụng trong pháp luật
quốc tế thể hiện tại các điều ước quốc tế, các nghị quyết, quyết định của ICAO….và trong
pháp luật Việt Nam.
+ Đánh giá đúng đắn và toàn diện về hệ thống bảo đảm an ninh hàng không dân dụng.
+ Với mục đích hoàn thiện các quy định đề ra các phương hướng hoàn thiện pháp luật để tạo
niềm tin vững tâm cho các hành khách khi tham gia sử dụng dịch vụ vận chuyển bằng đường
hàng không.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, tôi chỉ đề cập tới các vấn đề có liên quan:
+ Các vấn đề chung về an ninh hàng không dân dụng và mối liên hệ mật thiết của an ninh
hàng không với an toàn hàng không và ngành hàng không dân dụng nói chung.

3
+ Hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế về an ninh hàng không dân dụng và nội dung cụ thể
của các văn bản này. Nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia điển hình để từ đó
có thể đánh giá, rút ra bài học cho pháp luật Việt Nam.
+ Thực tiễn bảo đảm an ninh hàng không tại Việt Nam thông qua các quy định cụ thể thực
hiện trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam về an ninh hàng không. Đồng thời đưa ra các kiến
nghị, giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về an ninh hàng không dân dụng.
+ Đưa ra các phương hướng và giải pháp khắc phục trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được vận dụng trong luận văn là các phương pháp: diễn
dịch, quy nạp, so sánh, lịch sử, khảo sát, thống kê.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương với
cấu trúc như sau:
Chương 1: Lý luận chung về an ninh hàng không dân dụng
Chương 2: Các quy định về vấn đề bảo đảm an ninh hàng không dân dụng theo pháp
luật quốc tế và pháp luật một số nước điển hình trên thế giới.


1.1.4. Mối liên hệ giữa an ninh và an toàn hàng không dân dụng
An ninh và an toàn hàng không dân dụng là hai vấn đề quan trọng cốt lõi trong hệ thống hàng
không dân dụng Việt Nam. Đây là hai vấn đề tuy khác nhau nhưng lại đan xen, xen kẽ không
thể tách rời. Trong yếu tố an ninh lại có an toàn và ngược lại. An ninh và an toàn đều nhằm
mục đích bảo vệ tính mạng cho con người, hành khách, tổ bay và hàng hóa, hành lý của họ.
1.3. Lược sử hình thành của ngành hàng không dân dụng
Ngành hàng không dân dụng có lịch sử phát triển lâu dài. Các quốc gia trên thế giới đã ứng
dụng thành tựu khoa học trong lĩnh vực hàng không dân dụng. Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐIỂN HÌNH
TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Pháp luật quốc tế

5
2.1.1.Các điều ước quốc tế đa phương
2.1.1. 1. Các điều ước quốc tế
+ Các công ước có liên quan đến việc bảo đảm an ninh hàng không dân dụng
Ngay từ khi công ước Chicago được kí kết năm 1944 đã có một phụ lục riêng biệt về lĩnh vực


6
Chương 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN NINH HÀNG KHÔNG
DÂN DỤNG TẠI VIỆT NAM
3.1. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam
3.1.1. Các quy định chung của pháp luật Việt Nam
Trước tiên phải kể đến là Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 có quy định :
Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay ; Tội cản trở giao thông đường không ; Tội điều
động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường
không
Tiếp theo đó là Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, các nghị định của Chính phủ,
các văn bản dưới luật của Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết những vấn đề cần đạt được
đảm bảo tiêu chuẩn an ninh, an toàn. Theo quy định pháp luật thì các tiêu chí, mục đích cần
phải đạt được để đảm bảo an ninh hàng không.
3.1.2. Các quy định chuyên ngành của pháp luật Việt Nam
3.1.2.1. Các vấn đề liên quan đến tàu bay
3.1.2.1.1. Quốc tịch tàu bay
- Tàu bay đăng ký mang quốc tịch Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
+ Chưa có quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào hoặc đã xóa quốc tịch nước ngoài;
+ Có giấy tờ hợp pháp chứng minh về sở hữu tàu bay;
+ Phù hợp tiêu chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc
công nhận.
- Tàu bay thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam và do tổ chức, cá nhân Việt
Nam khai thác phải đăng ký mang quốc tịch Việt Nam, trong trường hợp là cá nhân thì cá
nhân phải thường trú tại Việt Nam.
Như vậy, điều đầu tiên chúng ta phải chú ý về các điều kiện đăng ký tàu bay, tiêu chuẩn kỹ
thuật rất quan trọng, các thông số phải đảm bảo để tránh các vấn đề phát sinh trong quá trình

năm sinh và ảnh của trẻ em được ghi và dán vào hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật,
bao gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi hoặc người giám hộ.
- Đối với chuyến bay nội địa :
+ Hành khách từ 14 tuổi trở lên khi làm thủ tục đi tàu bay trên các chuyến bay nội địa phải
xuất trình hộ chiếu (đối với khách mang quốc tịch nước ngoài) ; Đối với hành khách mang
quốc tịch nước ngoài: hộ chiếu; Đối với hành khách mang quốc tịch Việt Nam phải xuất trình
một trong các loại giấy tờ sau: hộ chiếu; Giấy chứng minh nhân dân; Giấy chứng minh, chứng
nhận của các lực lượng vũ trang; Thẻ đại biểu Quốc hội; Thẻ đảng viên; Thẻ nhà báo; Giấy
phép lái xe ôtô, môtô; Thẻ kiểm soát an ninh hàng không; Thẻ nhận dạng của các hãng hàng
không Việt Nam; Giấy chứng nhận nhân thân có xác nhận của Công an phường, xã nơi cư trú.
+ Hành khách dưới 14 tuổi khi làm thủ tục đi tàu bay trên các chuyến bay nội địa phải xuất
trình các loại giấy tờ sau:

8
a, Giấy khai sinh, trường hợp dưới 1 tháng tuổi chưa có giấy khai sinh thì phải có giấy chứng
sinh;
b, Giấy xác nhận của tổ chức xã hội đối với trẻ em do tổ chức xã hội đang nuôi dưỡng, chỉ có
giá trị sử dụng trong thời gian 6 tháng kể từ ngày xác nhận;
Điều lưu ý là hành khách dưới 14 tuổi đi tàu bay một mình trên các chuyến bay nội địa, ngoài
giấy tờ quy định trên thì phải có giấy cam kết của người đại diện theo pháp luật để miễn trừ
trách nhiệm cho nhà vận chuyển trong các trường hợp xảy ra mà không phải do lỗi của nhà
vận chuyển.
Trong trường hợp hành khách đi tàu bay là phạm nhân, người bị dẫn độ… thì phải kèm theo
quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp hành khách đó là khách nối chuyến, quá
cảnh thì phải xuất trình vé và giấy tờ sử dụng đi tàu bay còn giá trị sử dụng. (khi kiểm tra an
ninh thì hành khách phải tuân thủ theo các quy định về an ninh hàng không: kiểm tra hành ký
xách tay, vật dụng cá nhân khi đi qua điểm kiểm tra soi chiếu).
* Kiểm tra giám sát an ninh đối với thành viên tổ bay.
Kiểm tra an ninh hàng không là công tác đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hãng hàng không
trong quá trình vận chuyển hành khách. Thông thường, hành khách lên máy bay phải qua

không và cơ quan có trách nhiệm. Nhưng để tạo tâm lý thoải mái cho các khách hàng của
mình, nhà vận chuyển yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm không được còng người bị áp giải
vào bất cứ bộ phận nào của tầu bay.
Trên đây là quy định riêng dành cho chỗ ngồi của phạm nhân. Tuy vậy, không có nghĩa là khi
bạn vô tình bắt gặp một vị hành khách bất kỳ trong cùng chuyến bay của mình “ngồi ở hàng
ghế cuối cùng, không ngồi gần hoặc đối diện cửa ra, vào và xa cửa thoát hiểm” mà vội kết
luận họ là phạm nhân.
Bởi là phạm nhân trong suốt hành trình bay, người bị áp giải sẽ không có những quyền tự do
cá nhân. Ngay cả việc vệ sinh và ăn uống, người bị áp giải hoàn toàn phụ thuộc vào người áp
giải.
* Hành khách là người bị tâm thần có được kiểm tra an ninh hàng không?
Thông thường, hành khách bị tâm thần hoặc rối loạn thần kinh phải có bác sĩ hoặc thân nhân
của hành khách đó đi kèm và có khả năng kiềm chế được các hành vi bất bình thường của
hành khách đó. Tuy nhiên, hành khách bị tâm thần hoặc rối loạn thần kinh luôn được nhà vận
chuyển yêu cầu gây mê trước khi lên tầu bay với điều kiện là thời gian bay không được lâu
hơn thời gian hiệu nghiệm của thuốc. Vậy, khi bị gây mê hoàn toàn, người bị bệnh tâm thần
có phải bị kiểm tra an ninh hàng không?
Trong lúc hành khách bị gây mê hoàn toàn, quá trình kiểm tra an ninh hàng không đối với họ
sẽ rất dễ dàng. Lực lượng an ninh cảng hàng không vẫn phải chịu trách nhiệm giám sát họ ra
tầu bay hoặc từ tầu bay ra ngoài khu vực hạn chế của cảng hàng không.
Khi đăng ký sử dụng dịch vụ hàng không, bạn là một khách hàng hoàn toàn bình thường và có
đủ mọi quyền lợi từ phía hãng hàng không cung cấp. Thật là một câu chuyện khôi hài nếu đến
ngày chuyến bay của bạn cất cánh, bạn đến sân bay trong trạng thái say khướt vì bia, rượu

10
hoặc bị tác động của các loại dược phẩm, ma tuý đến mức mất khả năng làm chủ bản thân.
Lúc này đây, nhà vận chuyển sẽ “liệt” bạn vào danh sách những khách hàng được tiếp đãi
“đặc biệt”.
Trong trường hợp này, hãng hàng không có quyền từ chối chuyên chở những hành khách gây
rối trước khi lên tầu bay hoặc trên tầu bay khi chưa bay. Như vậy thì dù bạn có là ai đi chăng

“Thẻ kiểm soát an ninh hàng không” là thẻ cấp cho người, cơ quan ngoại giao được phép ra,
vào, hoạt động tại khu vực hạn chế của nhà ga, sân bay tại cảng hàng không, sân bay.
“Giấy phép kiểm soát an ninh hàng không” là giấy phép cấp cho phương tiện được phép ra,
vào, hoạt động tại khu vực hạn chế của nhà ga, sân bay tại cảng hàng không, sân bay[28,3].
3.2.1. Sự đồng bộ của pháp luật Việt Nam so với pháp luật quốc tế về an ninh hàng
không dân dụng
Hiện nay đối với lĩnh vực hàng không dân dụng thì văn bản pháp luật trong nước có tính chất
áp dụng rộng rãi và mang tính quốc gia không thể không kể đến Luật hàng không dân dụng
Việt Nam 2006 và các văn bản hướng dẫn, thi hành luật; các nghị định hướng dẫn, quyết định,
quy chế liên quan đến lĩnh vực này.
Văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh lĩnh vực hàng không là Luật hàng không dân dụng Việt
Nam năm 1991.
3.2.2. Điểm bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về an ninh hàng không dân dụng.
Theo em thì để phát triển ngành hàng không Việt Nam ngang tầm với các nước khác trên thế
giới thì Việt Nam nên có sự đầu tư thích đáng vào các phương tiện kỹ thuật hiện đại, tiên tiến
trên thế giới vì thực trạng còn một số vấn đề bất cập như :
- Hiện nay ngành hàng không Việt Nam còn thiếu cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở.
+Hệ thống đường cất hạ cánh còn ít. Ví dụ như tại sân bay quốc tế Nội Bài hiện tại có
2 đường cất hạ cánh là 11L/29R và 11R/29L để phục vụ hơn 100 chuyến bay lên, xuống hàng
ngày tại Nội Bài. Tuy nhiên, đường băng với các thông số kỹ thuật chưa đạt tiêu chuẩn, về
chiều dài, độ dày nên chỉ phục vụ được các chuyến bay từ Boeing 747 trở xuống, còn các
chuyến bay lớn hơn như Airbus 380 không thể hạ cánh tại Nội Bài được vì chất lượng đường
cất hạ cánh không đảm bảo. Với 1 chiếc máy bay lớn như vậy có thể làm cho đường băng bị
lún sụt vì sải cánh của A380 lớn hơn chiều rộng của đường băng.
Như vậy, để có thể đón được nhiều chuyến bay cất hạ cánh tại Việt Nam thì các cảng hàng
không nên đầu tư, nâng cấp thêm nhiều đường cất hạ cánh để có thể đảm bảo rằng mọi tàu
bay có thể đến và đi từ Việt Nam.
+ Hệ thống đèn đường băng, đèn tín hiệu, đèn tiếp cận : phải bố trí, lắp đặt sao cho
phù hợp. Khi có sự cố xảy ra cần phải được khắc phục ngay. Hệ thống ánh sáng chiếu vừa đủ,
phù hợp thuận tiện cho việc tàu bay có thể cất hạ cánh trong trường hợp thời tiết xấu. Phải có

+ Phi hành đoàn phải được trang bị những kiến thức cần thiết để xử lý tình huống
trong trường hợp khẩn cấp : đe dọa đặt bom, khủng bố Nếu không được trang bị những kiến
thức cần thiết thì khi xảy ra sự cố thì phi hành đoàn hoàn toàn bị động, không thể xử lý được.
Do vậy, điều cần thiết cho sự an toàn của chuyến bay là phi hành đoàn phải được đào tạo,
thực hành, diễn tập thường xuyên các tình huống khẩn nguy xảy ra.

13
+ Phải có hiệp đồng chặt chẽ, giữa các cơ quan cấp phép bay với các cảng hàng không
để tránh tình trạng sử dụng máy bay không được cấp phép gây hậu quả khó lường.
+ Hệ thống mạng lưới, bộ đàm, thiết bị vô tuyến điện tử phải được liên lạc thông suốt
tránh các tần số có nguy cơ bị nhiễu loạn sóng. Do vậy phải có sự phối hợp chặt chẽ các bộ
phận trên không và các bộ phận dưới mặt đất.
- Chính sách pháp luật :
Hiện nay các văn bản pháp luật về ngành hàng không dân dụng còn được quy định nằm rải
rác tại các văn bản cá biệt. Do vậy, khi muốn tra cứu hoặc tìm hiểu về các vấn đề an ninh an
toàn thì chúng ta phải tham khảo nhiều văn bản mới có thể đáp ứng được nhu cầu công việc.
Đây là một trong những vấn đề bất cập của pháp luật việt nam. Ngay các văn bản cá biệt tại
cảng hàng không Nội Bài thì vấn đề xử lý tình huống khẩn nguy cứu nạn của lực lượng an
ninh và lực lượng an toàn đã có phần không khớp nhau nên khi xảy ra tình huống rất khó tháo
gỡ và thực hiện.
Các văn bản vừa nhiều, vừa chồng chéo trách nhiệm, nghĩa vụ của các bộ phận, lực lượng
tham gia vào hoạt động hàng không.
Các quy định mang tính chất xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hàng
không chưa nhiều : chỉ có 1 vài quy định lỏng lẻo trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 chưa
mang tính chất hình sự hóa vấn đề. Đây là kẽ hở của luật nên rất khó xử lý hành vi vi phạm.
- Vấn đề hợp tác quốc tế :
Hiện nay Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng không về chống
khủng bố, phát hiện bom mìn Tuy nhiên, để nâng tầm hàng không Việt Nam với các quốc
gia khác trên thế giới, Việt Nam cần phải đầu tư hệ thống giám sát, trang thiết bị hiện đại để
khai thác khoảng không vũ trụ tạo tiền đề cho sự phát triển, mở đường cho ngành hàng không

có duy nhất 4 điều luật trong Bộ luật hình sự Việt Nam về hành vi vi phạm bị xử lý hình sự.
- Có nên tách bộ phận an ninh ra khỏi Cục hàng không dân dụng Việt nam để tách
riêng thành một Cục An ninh riêng rẽ như bên Mỹ không ? Như vậy sẽ phân chia tách trách
nhiệm một cách rõ ràng hơn.
- Ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã và đang triển khai nhiều giải pháp, biện
pháp nhằm củng cố, tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức hàng không
như: Kiện toàn nâng cấp Trường hàng không Việt Nam thành Học viện hàng không, chỉ đạo
các đơn vị xây dựng các cơ sở đào tạo, huấn luyện nhân viên hàng không đáp ứng nhu cầu
đào tạo huấn luyện trước mắt và lâu dài từ hệ nghề, trung cấp đến đại học; xây dựng quy
hoạch phát triển cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên gia theo từng giai đoạn đảm bảo phát triển
đội ngũ cán bộ, lao động có cơ cấu phù hợp giữa các lĩnh vực, từng bước đáp ứng theo tiêu
chuẩn và quy định thông lệ quốc tế. Khuyến khích hợp tác quốc tế trong đào tạo, huấn luyện
nhân viên hàng không, đặc biệt tập trung cho các lĩnh vực an ninh, an toàn hàng không, kỹ
thuật, khai thác tàu bay, quản lý cảng hàng không và quản lý điều hành bay, phi công, kiểm
soát viên không lưu, khí tượng, tiếp viên,…

15
- Ngành hàng không là một ngành có liên quan đến việc sử dụng vùng trời bay để khai
thác. Tuy nhiên, chưa thấy có văn bản nào về an ninh hàng không dân dụng quy định về quy
chế khai thác khoảng không vũ trụ. Vậy nó có cần thiết không ?
Hiện nay, hai trong số ít các văn bản pháp luật của Việt Nam có liên quan đến vấn đề Khoảng
không Vũ trụ là Luật Biên giới quốc gia số 06/2003/QH11 ngày 17/06/2003 và Nghị định
140/2004/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Biên giới quốc gia. Nhưng các văn bản
pháp luật này chưa đưa ra khái niệm rõ ràng về các thuật ngữ "biên giới quốc gia trên không",
"độ cao của biên giới quốc gia trên không", "vùng trời", "độ cao vùng trời" và các khái niệm
khác nhằm xác định chủ quyền của Việt Nam trong mối liên hệ với Khoảng không Vũ trụ
quốc tế. Bởi vậy, những khái niệm cơ bản đó cần được ghi nhận một cách rõ ràng, cụ thể hơn
tại đạo luật Vũ trụ của Việt Nam trong tương lai.
Việc đưa ra mô hình lý luận hay những ý tưởng pháp lý chi tiết cho đạo luật Vũ trụ Việt Nam
trong tương lai có lẽ sẽ mang tầm cỡ của nhiều công trình nghiên cứu khoa học đóng góp,

hết sức nóng bỏng và phức tạp. Có nhiều quy định khác nhau cả về mặt lý luận và trên thực tế
về vấn đề này. Tuy nhiên, nó được đánh dấu bằng sự ra đời của Công ước Chicago 1944. Sau
khi công ước ra đời đã mở ra một cục diện mới về vấn đề an ninh hàng không dân dụng. Công
ước đã đưa ra những khuyến cáo thực hành để các quốc gia lấy đó làm căn cứ thực hiện. Tiếp
sau đó là hàng loạt các công ước được ký kết. Cùng với sự phát triển như vũ bão của ngành
hàng không thì vấn đề an ninh ngày càng được quan tâm và thắt chặt hơn. Tuy nhiên trên thực
tế vẫn còn những kẽ hở mà bọn khủng bố bằng đường hàng không vẫn thực hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau : bom thư, đánh bom cảm tử
Tuy nhiên, các công ước có liên quan đến vấn đề an ninh hàng không dân dụng đó chỉ
đưa ra những chỉ tiêu, khuyến cáo các quốc gia thành viên. Do vậy, việc chuyển hóa các điều
ước quốc tế về an ninh hàng không vào pháp luật quốc gia còn gặp một số khó khăn và chưa
đồng bộ dẫn đến khó áp dụng khi có sự việc xảy ra.
Hiện nay, vấn đề an ninh hàng không đang được các quốc gia đặt lên hàng đầu đối với
ngành vận chuyển nhanh này. Tuy nhiên vấn đề này cũng phải được đặt trong bối cảnh mối
liên hệ mật thiết với vấn đề an toàn hàng không chứ không thể tách rời hai bộ phận ra được.
Do vậy, khi nghiên cứu vấn đề an ninh hàng không thì chúng ta phải nghiên cứu trong sự tổng
thể của an toàn hàng không.

References
A. Tài liệu Tiếng Việt
1. Lê Mai Anh (2008), Giáo trình Luật quốc tế, NX BCông an nhân dân.
2. Bộ luật hình sự Việt Nam 1999.
3. Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005.
4. Nguyễn Bá Diến (2001), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Hiệp định vận chuyển hàng không giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Chính phủ nhà nước Ixraen.
6. Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006.

17
7. Hồng Nam (2011), „‟Vụ Vinapco kiện Hội đồng Cạnh tranh Quốc gia: Chưa đúng thì

23. Quyết định số 13/2007/QĐ-BGTVT ngày26/03/2007 của Bộ Giao thông vận tải về
việc cấp, công nhận Giấy chứng nhận đủ điều kiện vận chuyển hàng nguy hiểm bằng
đường hàng không.

18
24. Quyết định số 12/QĐ-BGTVT ngày 21/03/2007 của Bộ Giao thông vận tải về việc ban
hành Quy chế khí tượng hàng không dân dụng.
25. Quyết định số 10/2007/QĐ-BGTVT ngày 27/02/2007 của Bộ Giao thông vận tải về
việc bồi thường ứng trước không hoàn lại trong vận chuyển hành khách bằng đường
hàng không.
26. Quyết định số 18/2007QĐ-BTC ngày 22/03/2007 của Bộ tài chính về việc in, phát
hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử.
27. Quyết định số 51/2007/ QĐ-BGTVT ngày 04/10/2007 của Bộ Giao thông vận tải Về
Sổ đăng bạ cảng hàng không, sân bay, cấp Giấy chứng nhận và Giấy phép kinh doanh
tại cảng hàng không, sân bay.
28. Quyết định số 06/2007/QĐ-BGTVT ngày 5/2/2007 của Bộ Giao thông vận tải về việc
ban hành chương trình an ninh hàng không dân dụng Việt Nam.
29. Quyết định số 32/2007/QĐ-BGTVT ngày 5/7/2007 của Bộ Giao thông vận tải về việc
ban hành quy chế không lưu hàng không dân dụng.
30. Xem http://vietnamtime.org/the-gioi/170159/23/Cuop-may-bay-tai-Jamaica-phi-hanh-
doan-bi-bat-giu.
31. Xem http://vi.wikipedia.org/wiki/Cuchangkhongdandungvietnam.
32. Xem http://antg.cand.com.vn/vi-vn/doday/2008/8/68697.cand.
B. Tài liệu Tiếng Anh
33. Agreement between the United state Government and the Republic of Bungaria on the
issue of civil aviation security, done at Sofia on the April 24th,1991.
34. Aviation code of the Russian Federation, Approved by the Council of the Federation
on March 5,1997.
35. Convention for the Unification of Certain Rules Relating to International carriage by
air, signed at Warsaw on October 12, 1929.

International Civil Aviation, supplementary to the Convention for the Suppression of
Unlawful Acts against the Safety of Civil Aviation, signed at Montreal on 24 February 1988.
(Deposited with the Governments of the Russian Federation, the United Kingdom and the
United States of America and with the Secretary-General of the International Civil Aviation
Organization).
51. Resolution 1373 (2001) adopted by the Security Council at its 4385th meeting, on 28
September 2001.
52. Regulations on Civil Aviation Security of the People‟s Republic of China.
53. Regulation (EC) no 300/2008 of the European Parliament and of the Council of 11
March 2008 on common Rules in the field of civil aviation security an Repealing regulation
(EC) no 2320/2002.
54. United states goverment Accountability Office (GAO), April 2007 report to
Congressional Requesters.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status