Tài liệu LUẬN VĂN:Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở nước ta a. Phần mở đầu Khái quát về mấy đại hội gần đây của Đảng ta có thể nói rằng : Nếu như đại hội của
Đảng là cột mốc quan trọng đánh dấu sự mở đầu quá trình đổi mới mọi mặt đời sống đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đại hội VII tiếp tục đưa công cuộc đổi mới đi vào
chiều sâu nhằm từng bước đưa nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội tạo ra thế
và lực mới cho sự phát triển đất nước thì đại hội VIII là đại hội đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng
văn minh vững vàng đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, đại hội VII một lần nữa xác định :

gian khổ nhưng nhất định phải làm. Nó đòi hỏi toàn Đảng toàn dân ta đồng tâm hiệp lực,
có đường đi nước bước rõ ràng có ý chí và bản lĩnh vững vàng để sẵn sàng tạo lập nắm bắt
và tận dụng thời cơ, khắc phục nguy cơ tụt hậu, vượt qua thử thách đưa đất nước vượt lên
sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ đã nói công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước là mong ước ngàn đời của cha ông ta, là sự giao phó của lịch sử Việt nam hàng
nghìn năm văn hiến và hiển hách chiến công cho thế hệ hôm nay tiếp nối và thực hiện
bằng được. Đây cũng là khát vọng của nhân dân ta hiện nay, mong muốn đất nước ta có
một tiềm lực to lớn đủ khả năng xây dựng cuộc sống ấm no - tự do - hạnh phúc cho toàn
dân, xã hội công bằng văn minh, bảo vệ vững chắc nền độc lập của tổ quốc, hội nhập với
cộng đồng quốc tế.
Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng : Phát triển kinh tế xã hội là quy luật khách quan của
tồn tại phát triển xã hội loài người và của bất cứ nước nào không loại trừ cả những nước
giàu mạnh đã đạt đến trình độ phát triển cao. Vấn đề khác nhau giữa các nước chỉ là mục
tiêu, nội dung và cách thức phát triển hay như Mác đã nói : Những thời đại kinh tế khác
nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào và
những tư liệu lao động nào. Và như vậy mỗi một phương thức sản xuất nhất định đều có
cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất của một xã hội nhất định thường là vật
chất của lực lượng sản xuất cùng với kết cấu xã hội đã đạt được một trình độ phát triển
tương úng. Quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ đòi hỏi một cơ sở vật chất kỹ thuật tương
ứng mà theo Lênin "Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là một nền đại công
nghiệp cơ khí"
Đặc trưng cơ sở vật chất kỹ thuật của các phương thức trước công nghiệp tư bản là
kỹ thuật thủ công lạc hậu. Còn cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại chỉ có thể là nền công nghiệp hiện đại và cân đối dựa trên trình độ khoa học và công nghệ ngày
càng cao. Để có cơ sở vật chất kỹ thuật như vậy, các nước đang phát triển cần phải tiến
hành công nghiệp hoá. Việt nam thuộc nhóm nước đang phát triển, là một trong những
nước nghèo nhất trên thế giới, nông nghiệp lạc hậu chưa vượt khỏi xã hội truyền thống
sang xã hội văn minh công nghiệp. Do vậy, điều kiện khách quan đòi hỏi phải tiến hành

càng tăng các nguồn của quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành
ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là óc một bộ phận chế
biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo
đảm cho nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã
hội". Quan niệm này cho thấy quá trình công nghiệp hoá bao trùm toàn bộ quá trình phát
triển kinh tế xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự phát triển kinh tế mà còn sự tiến bộ về mặt
xã hội.
Trong sách báo của Liên Xô cũ tồn tại một định nghĩa phổ biến : "Công nghiệp hoá là
quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả công nghiệp. Đó là
sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy". Với định nghĩa này,
công nghiệp hoá thường chủ yếu vào các ngành công nghiệp nặng và như vậy, phải chăng
định nghĩa này xuất phát từ tình hình thực hiện của Liên Xô(cũ) trong thời kỳ quá độ.
Song dù muốn hay không trên thực tế công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay trước mắt
nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Song sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Thực
tiễn nước ta và kinh nghiệm của các nước đang phát triển cho thấy ngay từ bước đầu tiên
của việc hoạch định chiến lược và chương trình phát triển nhất thiết phải đảm bảo tính
đồng bộ giữa kinh tế và xã hội, cùng với sự phát triển kinh tế phải xây dựng những mặt
thuộc hạ tầng của đời sống xã hội, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công
bằng xã hội, phát triển văn hoá, nâng cao đời sống nhân dân.
Qua những vấn đề phân tích trên ta có thể định nghĩa : Công nghiệp hoá là một quá
trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất
nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan
hệ kinh tế quốc tế , xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học công nghệ
ngày càng hiện đại.
b. Hiện đại hoá Khoa học công nghiệp hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại hoá. Hiện đại hoá có
nội dung lớn và phong phú, bao gồm các mặt kinh tế, chính trị xã hội và văn hoá. Hiện đại

quan trọng hàng đầu trong thời gian tới". Thế nhưng trên thực tế nước ta tiến hành và điều
kiện xuất phát điểm thấp về kinh tế xã hội, về phát triển lực lượng sản xuất và trạng thái
không còn phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất.
Công nghiệp chỉ chiếm 15,2% thu nhập quốc dân, lao động công nghiệp chiếm 7% lực
lượng lao động xã hội . Quan hệ sản xuất, trước hết quan hệ sở hữu được đẩy lên ở mức
cao, năm 1960, 85,8% số hộ nông dân và hợp tác xã, 10% tư sản công thương cải tạo,
80% thợ thủ công vào hợp tác xã. Thu nhập quốc dân theo đầu người thấp dưới 100 USD.
Hơn nữa công nghiệp hoá tiến hành trong điều kiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan hệ
bao cấp và chỉ 4 năm sau đó tiền chiến tranh phá hoại miền Bắc nổ ra song mặc dù vậy
công nghiệp hoá vẫn được tiến hành nhưng trong điều kiện hết sức khó khăn.
2. Sau đổi mới
Chiến tranh kết thúc đất nước độc lập, dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn bắt tay ngay
vào công cuộc xây dựng đất nước. Kế hoạch thực hiện công nghiệp hoá vẫn tiếp tục được
thực hiện. Nhưng chúng ta cũng cần thấy được rằng công nghiệp hoá trong thời kỳ này
khác với công nghiệp hoá vào những năm 60 bởi công nghiệp hoá ngày nay còn đi đôi với
hiện đại hoá và ngày nay chúng ta đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước trong hoàn cảnh và điều kiện mới. Với đường lối đổi mới của Đảng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đang được phát triển mạnh mẽ, đất nước có sự ổn định chính
trị xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô. Tốc độ gia tăng GDP từ 1991 đến nay, bình quân
8,2%/năm thu nhập bình quân quốc dân theo đầu người trên 220USD/năm.
Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang tăng lên, cuộc cách mạng khoa học công
nghệ diễn ra sôi động, khu vực Châu á Thái Bình Dương đang trên đà phát triển nhanh,
quan hệ quốc tế và kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng mở rộng, cho phép tranh thủ
ngày càng nhiều hơn nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
Qua phân tích trên ta thấy rằng phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong và sau
thời kỳ đổi mới có nhiều điểm khác biệt so với trươc cơ cấu kinh tế xã hội có nhiều thay
đổi nhưng điểm lớn nhất đó là việc thực hiện kinh tế nhiều thành phần, nhiều ngành vận
động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

2. Những thuận lợi
Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta có rất nhiều điều kiện thuận
lợi.
Trên thế giới cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển vào trình độ ngày càng
cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời
sống xã hội . Đây là một thời cơ thuận lợi cho phép chúng ta có thể khai thác được những
yếu tố nguồn lực bên ngoài(vốn, công nghệ thị trường ) và những nguồn lực bên trong
của đất nước có hiệu quả, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, kết hợp với
các bước đi tuần tự nhảy vọt, vừa tăng tốc vừa chạy trước đón đầu.
Nhà nước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi sau chúng ta có lợi thế của
người đi sau. Chúng ta có thể tiến hành khắc phục được những thất bại mà những nước đi
trước gặp phải. Lợi dụng cơ hội là đi thẳng vào công nghệ tiên tiến thích hợp với Việt
nam, đạt được sự phát triển nhanh bền vững.
Đất nước sau 10 năm đổi mới đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhiều tiền đề
cần thiết cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được tạo ra, chúng ta đã và đang có những
thế và lực mới, cả bên trong và bên ngoài để bước vào một thời kỳ phát triển mới.
Nước ta có vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển và giao lưu kinh tế. Nằm trên bán
đảo Đông Dương gần trung tâm Đông Nam á. Việt nam là cửa ngõ đầu mối giao thông
của các tuyến đường quốc tế quan trọng nơi diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động và
được coi là khu vực phát triển năng động nhất hiện nay. Do đó, chúng ta có điều kiện để
mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại có điều kiện thu thập và xử lý thông tin nhanh
chóng.
Sự kiện Việt nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN ngày 28/07/1995 và
Mỹ bỏ lệnh cấm vận ngày 03/02/1994 mở ra một hướng phát triển mới của nền kinh tế
Việt nam. Chúng ta có thêm điều kiện thuận lợi để hội nhập kinh tế với khu vực và thế
giới.
Hệ thống pháp luật ổn định, hợp lý, đặc biệt là luật đầu tư đang từng bước được sửa
đổi, bổ sung và hoàn thiện. Điều đó tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các quan

được những trình tự, bước đi giải pháp thích hợp. Trạng thái kinh tế xã hội của đất nước
hiện nay phải có những nhân tố đảm bảo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp
công nhân của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt nam đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chỉ như vậy
mới làm cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh.
Căn cứ vào sự đổi mới thực sự toàn diện về lý luận và thực tiễn của quá trình công
nghiệp hoá ở nước ta chia làm hai giai đoạn cơ bản: Giai đoạn từ 1960 - 1986 và giai đoạn
1986 đến nay.
a. Giai đoạn 1960 - 1986
Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là thực hiện một chiến lược nhất quán được xác
định từ đại hội Đảng lao động Việt nam lần thứ III (9/1960). Tại đại hội này Đảng ta khẳng
định : Nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa, mà vấn đề mấu chốt là ưu tiên công nghiệp nặng. Chủ trương về công
nghiệp hoá là : Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp
công nghiệp với nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ thực hiện chiến lược này, chúng ta đã tập trung một nguồn lực trong nước và nước
ngoài, tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đầu tư trang bị lại và
xây dựng mới hàng loạt các cơ sở sản xuất và các ngành kinh tế. Chỉ trong một thời gian
ngắn chúng ta đã hình thành cơ cấu kinh tế đa ngành trong đó các ngành quan trọng như cơ
khí, luyện kim, khai thác than
Cơ cấu kinh tế đã có sự cấu trúc lại, tỷ trạng giá trị sản phẩm công nghiệp trong tổng
sản phẩm xã hội không ngừng tăng từ 31,7% (năm 1960) lên 42,7% (năm 1978). Nông
nghiệp giảm từ 31,5% xuống 29,3% khối lượng vốn đầu tư và giá trị tài sản cố định trong
các ngành tăng nhanh đặc biệt là công nghiệp nặng.

ta gần như lập được cân đối giữa xuất và nhập khẩu trong tình hình nguồn viện trợ từ Liên
Xô và các nước Đông âu không còn nữa. Quá trình cấu trúc lại nền kinh tế quốc dân đang
được đẩy mạnh, nhanh theo hướng ngày càng hợp lý và có hiệu quả hơn. Tiếp đó, Đảng ta
tiến hành đại hội VII (1990) và đại hội Đảng VIII (1995) với cương lĩnh và mục tiêu tiến
lên xã hội chủ nghĩa thông qua quá trình công nghiệp hoá kết hợp với hiện đại hoá.
c. Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại hội Đảng VII Đảng ta đã đề ra mục tiêu chỉ thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá như sau :
"Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu quản lý hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình đã phát triển của lực
lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc dân giàu
nước mạnh xã hội công bằng văn minh."
Mục tiêu này, cũng gắn liền với mục tiêu kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta được xem xét trên các tiêu thức về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao của mọi thành viên xã hội.
2. Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm cuối của thập kỷ 90
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình được thực hiện gắn liền với những chặng
đường nhất định. Trong mỗi chặng đường đó, công nghiệp hoá, hiện đại hoá được tiến với
những nội dung khác nhau và tất yếu được hoàn thành với tốc độ không giống nhau.
a. Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
- Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm
thuỷ sản và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
- Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá và hoá học hoá.
- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm
tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp
khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục
vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- Hoàn thành cơ bản việc giao đất giao rừng cho hộ nông dân, điều chỉnh việc phân

Hình thành mạng lưới đô thị hợp lý, tránh không tạo thành các siêu đô thị. Tăng cường
công tác quy hoạch và quản lý đô thị.
g. Nội dung cuối cùng là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
- Đó là việc đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của
kinh tế đối ngoại. Tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô
và sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sau và tình trạng hàng xuất khẩu. Nâng cao
phần giá trị gia tăng trong quá trị gia tăng trong quá trình hàng nhập khẩu. Giảm dần nhập
siêu, có chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước . - Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, xử lý
đúng đắn lợi ích giữa ta với đối tác.
- Tính toán kỹ khả năng vay, sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả được nợ. Cải thiện cán
cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại tệ, thử nghiệm để tiến tới thực hiện việc đầu tư ra nước
ngoài.
c. Phần kết thúc

1. Khái quát nội dung đề tài
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam là quá trình nhằm mục tiêu biến
nước ta thành một nước công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với sự phát triển sản xuất, nguồn lực con người được
phát huy, mức sống vật chất tinh thần được nâng cao, quốc phòng an ninh ổn định vững
chắc dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh.
Như vậy, đẩy mạnh công cuộc nghiệp hoá, hiện đại hoá là một tất yếu khách quan đối

nước là cơ quan cao nhất sử dụng chính sách kinh tế vĩ mô, quản lý toàn bộ nền kinh tế
thông qua các bộ luật, các chính sách đòn bẩy kinh tế, hàng rào thuế quan Từ đó điều
chỉnh nền kinh tế vận hành đúng đắn và đạt được mục tiêu của mình
b. Giải pháp về công nghệ bảo vệ môi trường sinh thái .
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời là quá trình, cơ cấu kinh tế theo hướng các
ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao . Để đạt được mục tiêu này phải đẩy mạnh
phát triển công nghiệp đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế, phải sử dụng có hiệu
quả những thành tựu khoa học công nghệ kết hợp với việc bảo vệ môi trường sinh thái .
c. Giải pháp nâng cao trình độ người lao động . Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, lấy việc
phát huy nguồn lực con người làm yếu tố chiến lược cơ bản cụ thể là phải không ngừng
đào tạo lại nâng cao trình độ người lao động, xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lý năng
động, am hiểu về kinh tế thị trường, đội ngũ viên chức Nhà nước có phẩm chất đạo đức và
năng lực để điều hành nền kinh tế theo luật định.
d. Giải pháp về tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.
Vốn là tiền đề cơ bản cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nước ta tiến hành
công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện thiếu vốn trầm trọng, vì vậy vấn đề đặt ra ở
đây là làm thế nào để huy động đủ vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Có huy động được
nguồn vốn từ bên ngoài và phát triển nhanh chóng nguồn vốn trong nước mới có thể đáp
ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Phát triển nhanh chóng nguồn vốn trong nước. Hiện nay nguồn vốn trong dân cư vẫn
còn tồn đọng khá lớn nhưng chưa được sử dụng đúng mục đích do đó chưa phát huy được
sức mạnh của cơ cấu kinh tế, vì vậy cần có các giải pháp để triển khai và phát huy tối đa
nguồn vốn tối đa này.
Trong việc tìm kiếm các giải pháp đầu tư phát triển nền kinh tế trong thời gian tới ta
cần phải quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước.
Coi nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn bên ngoài là quan trọng. Để phát
triển nhanh chóng nguồn vốn trong nước cần tập trung giải quyết những vấn đề:

đầu tư hơn.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế tham gia tích cực hơn nữa vào quá trình phân công lao
động trong khu vực và trên thế giới. Thông qua nhiều hoạt động để tranh thủ sự giúp đỡ
của tất cả các chính phủ và nhân dân các nước tạo tiền đề cuốn hút các vốn đầu tư vào hoạt
động.
Bên cạnh đó chúng ta cần phải xây dựng và kiện toàn hệ thống hành chính cơ chế
quản lý các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Song song với việc khai thác tối đa các nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là việc sử dụng đồng vốn có hiệu quả tối ưu, chống tham nhũng
lãng phí trong việc sử dụng và coi đó là " tiền chùa "
Qua phân tích những giải pháp trên cho thấy, thông qua công nghiệp hoá, hiện đại
hoá để phát triển đất nước thì không còn cách nào khác là phải sử dụng tối đa các nội lực
sẵn có trong nước và ngoại lực. Quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường đầy gian nan vì vậy để đạt được tới đích chúng ta phải khắc phục khó khăn, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước sẽ giúp chúng ta có lực mới để có
thể tăng nhanh tốc độ phát triển. Không những thế, do có hiện đại hoá, chúng ta có điều
kiện để đi tắt đón đầu, tăng tốc, chạy tắt, chính là những yếu tố tổng hợp để giải bài toán
đất nước.
Trên đây là những đề xuất kiến nghị của em đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá hướng tới mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Cuối cùng em xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến thầy cô giáo hướng
dẫn đã hướng dẫn cho em đề cập đề tài một cách nghiêm túc và khoa học.
Do hạn chế về kiến thức nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sự góp
ý của thầy cô để bài viết lần sau được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
nội).
6. Tạp chí : Kinh tế 96 - 97 Việt nam và Thế giới (Thời báo kinh tế Việt nam ).
7. Tạp chí cộng sản 7 năm 1996 và 01/01/1997.
8. Tạp chí triết học số 1 tháng 02/1996 và số 5 tháng 10/1996.

Mục lục A. Phần mở đầu 1

B. Phần nội dung 2

I. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
2


2. Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm
của thập kỷ 90
10

C. Phần kết thúc 12

- Khái quát nội dung đề tài 12

- Một vài ý kiến cá nhân 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status