LUẬN VĂN:
Nghiên cứu, phân tích, nắm bắt những quy luật
khách quan và thực tiễn để đề ra chính sách
công nghiệp hoá
Lời mở đầu
Việt nam là một nước nông nghiệp lạc hậu bị tàn phá nhiều bởi chiến tranh, thực
hiện công cuộc đổi mới chuyển từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường mở cửa được
hơn mười năm. Trong thời gian đó nền kinh tế bắt đầu khởi sắc và đạt được một số thành
tựu quan trọng. Xuất phát từ đó chúng ta đang chuyển sang một thời kỳ phát triển kinh tế
mới: thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Với mục tiêu phấn đấu sau vài thập kỷ của thế kỷ XXI nước ta cơ bản sẽ trở thành
“một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
Quan niệm này có những mặt chưa hợp lý. Trước hết nó không cho thấy mục tiêu
của quá trình cần thực hiện. thứ hai trong nội dung trình bày quan niệm này gần như đồng
nhất với quá trình công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghiệp. thứ ba quan
niệm này cũng không thể hiện được tính lịch sử của quá trình công nghiệp hoá. Chính vì
vậy quan niệm này được USE rất hạn chế trong thực tiễn.
Trong điều kiện ngày nay, quan niệm về công nghiệp hoá dù ở trên góc độ nào cũng
không đồng nhất với quá trình phát triển công nghiệp. Công nghiệp hoá là quá trình rộng lớn
và phức tạp với nội dung cốt lõi thể hiện :
“Công nghiệp hóa, Hiện đại hoá là sự phát triẻn và chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi
mới căn bản kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ các nghành có hàm lượng khoa
học công nghệ hiện đại nhằm mục tiêu tăng trưởng và phát triển kỹ thuật cao, lâu bền”.
2. Vai trò của công nghiệp hoá
Từ khái niệm công nghiệp hoá ở trên ta thấy được vai trò của công nghiệp hoá đối
với sự phát triển kinh tế là rất quan trọng. Nó được thể hiện qua những mặt chủ yếu sau.
- Công nghiệp hoá là chìa khoá để phát triển kinh tế thật vậy công nghiệp hoá có
nghĩa là năng suất lao động trong cong nghiệp cao dần đến sự gia tăng thu nhập bình
quân đầu người, tăng sức mua, mở rộng thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ. Đặc biệt là
sự phát triển của công nghệ chế biến vì đây là ngành tạo ra khả năng thay thế nhập khẩu
có hiệu quả và cũng là nghành có khả năngtăng xuất khẩu giải quyết đầu ra cho sản xuất
nông nghiệp làm tăng giá trị nông sản phẩm.
Mặt khác công nghiệp càng đóng góp nhiều trong tổng sản phẩm quốc dân là điều
kiện để thu nhập theo đầu người được nâng cao.
- Công nghiệp hoá thực hiện quá trình đô thị hoá đất nước thông qua việc phân bố
sản xuất công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp, chế xuất mà ta có thể phân bố lại
dân cư ở các vùng cho phù hợp để thúc đẩy quá trình đô thị hoá đất nước là động lực phát
triển kinh tế và ạo điều kiện công bằng xã hội.
- Công nghiệp hoá tạo ra việc làm.
nghiệp hoá.
II. Chính sách công nghiệp hoá
1. Khái niệm chính sách công nghiệp hoá
Đặc điểm có tính chất bao trùm của quá trình công nghiệp hoá như đã diễn ra trên
thế giới trong suốt lịch sử của nó là sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, một mặt là sự
giảm phần của khu vực nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế do năng suất và sản lượng
của khu vực này đã tăng lên, sau đó là sự giảm tương đối của khu vực công nghiệp do sự
tăng của khu vực dịch vụ do chính kết qủa phát triển khu vực công nghiệp, mặt khác là sự
thay đổi cơ cấu trong nội bộ khu vực của công nghệ chế tạo.
Sự thay đổi cơ cấu trong nội bộ khu vực công nghệ chế tạo đã diễn ra như sau:
Trong thời kỳ đầu của công nghiệp hoá thế giới sản xuất công nghiệp đã tập trung
vào hàng dệt sau đó chuyển sang sắt thép và các sản phẩm cơ khí sử dụng thép tiếp đến là
hoá chất các sản phẩm điện và cuối cùng ngày nay các sản phẩm điện tử và vi điện tử tức
là cơ cấu trong công nghiệp đã bắt đầu từ những ngành nghề có công nghệ thập đến
những ngành công nghệ cao.
Vì vậy vấn đề đặt ra là phải lựa chọn sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới
công nghệ như thế nào. Đó chính là chính sách công nghiệp hoá.
2. Nội dung của các chính sách công nghiệp hoá
Theo báo cáo của ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII của Đảng thì nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 -
2000 là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với chính sách chủ yếu
là.
2.1. Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu ngành : Hoàn thiện cơ cấu nông-công nghiệp và dịch vụ để tạo tiền đề
chuyển sang cơ cấu kinh tế mới : cơ cấu công-nông-dịch vụ cụ thể.
+ Thứ nhất: ưu tiên phát triển các ngành thu hút lao động, có khả năng duy trì chỉ
vùng này phải có chiến lược cơ cấu ngành hợp lý của mình và hình thành những trung
tâm tăng trưởng mạnh, đóng vai trò xung lực của tăng trưởng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành trên vùng lãnh thổ.
- Cơ cấu thành phần kinh tế:
Tiếp tục thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách nhiều thành phần kinh tế,
khuyến khích mọi doanh nghiệp và cá nhẩn trong và ngoài nước khai thác tiềm năng ra
sức đầu tư phát triển, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước là hạt nhân của quan hệ sản
xuất mới.
- Cụ thể.
- Hình thành nhiều thành phần kinh tế với các hình thức tổ chức kinh doanh đa
dạng. Các thành phần chủ yế là: kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản Nhà
nước, kinh tế tiểu chủ cá thể và kinh tế tư bản tư nhân.
- Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền
tảng. Cần phải đánh giá cao vai trò của kinh tế tư bản Nhà nước trong việc động viên
tiềm năng vốn, công nghệ kinh nghiệm tổ chức quản lý và khẳng định cần phát triển phổ
biến hình thức kinh tế tư bản Nhà nước.
- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ có một vị trí quan trọng lâu dài cần phải giúp
đỡ, giải quyết các khó khăn về vốn, khoa học công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Hướng dẫn thành phần kinh tếnày đi vào con đường hợp tác tự nguyện hoặc làm vệ tinh
cho các doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã.
- Hướng tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, phát triển lâu dài phục vụ cho công
cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
2.2. Chính sách đổi mới công nghệ:
* Chính sách chuyển giao công nghệ tập trung đầu tư, nhập trực tiếp hoặc hợp tác
liên doanh với những ngành công nghệ có tầm chiến lược, các ngành công nghệ mũi
nhọn.
- Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành.
tập trung hơn cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ chiến lược nghiên cứu khoa học
với giáo dục, đào tạo, chuyển một số viện nghiên cứu chuyên ngành về trực thuộc các
tổng công ty, gắn các chương trình kinh tế xã hội với quy hoạch phát triển các vùng lãnh
thổ.
III. Kinh nghiệm của các nước trong việc áp dụng chính sách công nghiệp
hoá đối với sự phát triển kinh tế
1. Kinh nghiệm của các nước NICS và ASEAN trong việc lựa chọn chính sách
chuyển dịch cơ cấu
a. Các nước NICS
Cùng với việc nghiên cứu, phân tích nắm bắt những quy luật khách quan và thực
tiễn để đề ra chính sách công nghiệp hoá một cách khoa học và phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh của việt nam việc tham khảo học tập kinh nghiệm của các nước phát triển và
các nước trong khu vực đang tiến hành công nghiệp hoá là rất cần thiết Qua đó chúng ta
có thể tim ra được các chính sách tốt nhất nhằm rút ngắn các quá trình công nghiệp hoá
và đưa nền kinh tế phát triển vững chắc.
Đài Loan thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung phát
triển nông nghiệp bằng con đường hiện đại hoá, hoá học hoá, thâm canh hoá đồng thời
phát triển dần các ngành công nghiệp có khả năng như điện - điện tử, hàng tiêu dùng phổ
thông và hàng tiêu dùng cao cấp. Do vậy kinh tế Đài Loan đã phát triển đều cả về nông
nghiệp và công nghiệp. Bộ mặt nông thôn được nhanh chóng đổi mới theo xu hướng
nhích dần tới như kiểu các đô thị năm 1992, tốc độ tăng kinh tế của đài loan là 6,8% và
tốc độ tăng xuất khẩu là 9,2% trong đó có những sản phẩm nông nghiệp chế biến. Hiện
nay đài loan đang tập trung đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉ ra 300 tỷ USD cho
kế hoạch 6 năm xây dưng đường quốc lộ, đường sắt và nhà máy điện. Sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế như vậy đã tạo nên sự phát triển kinh tế đạt tới trình độ khá cao, được quốc tế
chú ý, GDP bình quân đầu người là 10.000 USD.
công nghiệp nặng tạo điều kiện chuyển mạnh sang chiến lược hướng về xuất khẩu.
Ngành sợi hoá chất đã trỡ thành mũi nhọn của công nghiệp xuất khẩu góp phần tạo ra
kinh tế tăng trưởng nhanh chóng.
Bước vào giai đoạn công nghiệp hoá Hàn Quốc đã tập trung đầu tư vào hai hướng,
đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn đồng thời phát triển mạnh công nghiệp nặng
và công nghiệp hoá chất bảo đảm hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Hàn Quốc
coi các ngành công nghiệp luyện thép, đóng tàu, điện tử, ô tô là những ngành công
nghiệp chiến lược năm 1973, công bố kế hoạch phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp
hoá chất, ưu tiên các ngành đóng tàu, sản xuất ô tô, sản xuất thép và hoá dầu. Đối với
quốc gia Hàn Quốc thì các tập đoàn là các đầu tàu để phát triển công nghiệp bên cạnh đó
các doanh nghiệp nhỏ là chân rết bổ sung, hỗ trợ với tập đoàn để phát triển kinh tế.
b, Các nước ASEAN:
Cách đây 20 năm, Thái Lan có cơ cấu kinh tế tương đối giống Việt Nam, từ đầu
những năm 70, chính phủ Thái Lan đã có nhiều cuộc bàn luận để xác định hướng phát
triển kinh tế. Hai xu hướng chủ yếu là: phát triển nông nghiệp toàn dân, thâm canh và
hiện đại để trở thành nền nông nghiệp hàng hoá phát triển mạnh công nghiệp hàng tiêu
dùng, đồng thời xây dựng ngành công nghiệp điện tử. Sau vài lần đièu chỉnh hướng phát
triển đến nay nền kinh tế Thái Lan đã trở nên một nền nông-công nghiệpkhá phát triển có
sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới. Xu hướng đang tiến tới sản phẩm
điện tử sẽ thay thế hàng dệt trở thành mặt hàng xuất khẩu hàng đầu. Song công nghiệp
thái lan đang trong tình trạng khó khăn về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá chủ trương thực
hiện nền nông nghiệp phân tán, trở lại nền nông nghiệp hàng hoá ở những vùng trọng
điểm.
Việc đầu tư cho phát triển sẽ được tập trung cho các đô thị, khu công nghiệp và
các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá trọng điểm. Tuy nhiên sản phẩm khác của thái
lan vẫn có chất lượng cao, có vị trí trên thị trường thế giới. Do đó Thái Lan luôn đạt được
tốc độ tăng trưởng cao, kinh tế phát triển.
tích luỹ ngày càng cao, cùng với trình độ văn hoá được nâng lên, các nước và lãnh thổ
này đã triển khai các công nghệ cao hơn, cần nhiều vốn kỹ thuật hơn. Các ngành công
nghiệp như luyện kim, đóng tàu, máy điện và sản xuất thiết bị văn phòng được đầu tư và
nâng cấp. Chính sách công nghệ cũng chuyển hướng từ lấy nhập khẩu công nghệ làm
phương thông chính nhanh chóng hình thành công nghiệp mới sang tập trung đầu tư
nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ mới.
Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore tỏ ra năng động đặc biệt và tích
cực khai thác triệt để những khoảng trống trong phát triển công nghệ cao của thế giới.
Cách thức xây dựng vào hình thành các ngành công nghiệp kỹ thuật cao của các nước
này khác với con đường mà các cường quốc công nghệ Âu-Mỹ-Nhật Bản đã trải qua. Họ
không tập trung nghiên cứu cơ bản để phát triển những “kỹ thuật công nghệ tương lai“.
Vì điều đó đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn mà chưa đưa lại ngay hiệu quả kinh tế xã hội. Điều
họ quan tâm hàng đầu là những nhu cầu cấp bách mang tính ngắn hạn và trung hạn của
thị trường.
Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore đều ra sức lợi dụng kỹ thuật công
nghệ của công ty siêu quốc gia và biết “Đứng trên vai những người khổng lồ“ này để
chen chân vào thị trường công nghệ bằng những hướng đi phù hợp cho mình từ những
lĩnh vực trò chơi điện tử, thiết bi âm thanh cấp thấp cho đến máy tính cá nhân cao cấp và
linh kiện bộ nhớ. Sau khi tiếp nhận kỹ thuật công nghệ mới, họ thường nghiên cứu, cải
tiến để chế tạo ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và tiện lợi hơn.
Họ còn kết hợp công nghệ tiên tiến phương tây ưu thế nhân công rẻ, quy mô sản xuất vừa
và nhỏ, có khả năng đổi mới công nghệ nhanh để tăng thêm khả năng cạnh tranh trong
việc chế tạo sản phẩm theo giấy phép hoặc đơn đặt hàng nước ngoài. Đặc biệt, các công
ty của các NIE có thể chuyển đổi rất nhanh kiểu dáng công nghiệp, chủng loại sản phẩm
như chuyển từ sản xuất máy tính theo kiểu “quyển vở gấp“ thậm chí chuyển sang sản
xuất máy di động các kiểu.
VD: Chỉ một công ty ở Hồng Kông - Công ty đa thanh- với 30 nhân viên kỹ thuật
nhưng đã có thể đáp ứng nhanh chóng mọi nhu cầu rất đa dạng về kính thủy tinh của từng
hướng: nâng cao tỷ trọng và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng
của nông nghiệp (bảng 1). Nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn tăng lên: tổng sản
phẩm trong nước của nông nghiệp năm 1996 so với năm 1991 tăng 26%, bình quân mỗi
năm tăng 5,73%, năm 1997 so với năm 1996 tăng: 4,8%, năm 1998 dự kiến tăng khoảng
3%.
Bảng 1. Cơ cấu kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Năm
Khu vực
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Nông nghiệp 40, 5 33, 9 29, 9 28, 7 28, 4 27, 2 26, 22
Công nghiệp 23, 8 27, 3 28, 9 29, 6 29, 9 30, 7 31, 23
Dịch vụ 35, 7 38, 8 41, 2 41, 7 41, 7 42, 1 42, 55
2. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Được thực hiện trên cơ sở có sự tăng trưởng khá và đều của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân và của cả 3 khu vực. Tính chung năm 1991-1995, tổng sản phẩm trong nước
(GDP) tăng 48,3%, bình quân mỗi năm tăng 8,2%; 1996 so với năm 1995: 9,3%; 1997 so
với năm 1996: 8,8% (ước tính); năm 1998 so với 1997 ước tính tăng 6,1%- 6,3%. Trong
5 năm 1991-1995;công nghiệp tăng bình quân năm 13,7%; năm 1996 so với năm 1995
tăng 14,1%; năm 1997 so với năm 1996: 13,07 (ước tính); năm 1998 so với năm 1997
ước tính tăng 11,5%. Cùng trong thời kỳ 1991-1995: tốc độ tăng GDP của nông nghiệp
bình quân 3,4%: dịch vụ 9,3% (sau khi trừ yếu tố giá). Năm 1996 so với năm 1995: nông
nghiệp tăng 4,4%, năm 1997 so với năm 1996 tăng 4,8%, năm 1998 so với năm 1997 ước
tính tăng 3% ; dịch vụ năm 1996 so với năm 1995 tăng 9,29%; năm 1997 so với năm
1996 ước tính tăng 8,29%, năm 1998 so với năm 1997 tăng 6%.
điều lớn trên thế giới, năm 1996 lên tới 250 ngàn đôla, đứng thứ tư trong xuất khẩu nông
sản (sau lúa gạo, cao su, cà phê).
Công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng :
Hình thành, phát triển một số ngành và sản phẩm mới thay thế nhập khẩu mà trước
đây trong nước chưa có như: lắp ráp ôtô, sứ vệ sinh cao cấp, kính xây dựng điện tử.
Phát triển nhanh một số ngành thị trường có nhu cầu và đất nước có nguồn lợi tạo
tiền đè để hình thành và phát triển một số ngành trọng điểm và mũi nhọn :
- Thép, bình quân giai đoạn 1991-1995 tăng 25,83%/năm; 1996-1997 tăng
43,07%/năm.
- Dệt may, bình quân giai đoạn 1991-1995 tăng 26,2%/năm; 1996-1997:
28,6%/năm.
- Da giầy, bình quân giai đoan 1991-1995 tăng 22,1%/năm; 1996-1997 tăng
29,7%/năm.
- Xi măng, giai đoạn 1991-1995 tăng trưởng bình quân 22%/năm.
Tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp truyền thống trên cơ sở gắn các ngành
đó với thị trường bằng các giải pháp thích ứng (coi trọng cải tiến và nâng cao chất lượng
sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm ). Nhờ vậy giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm
1995 so với năm 1990: ngành sản xuất vật liệu xây dựng tăng 1,27 lần, ngành chế biến
thực phẩm( bia, bánh kẹo. . . ) tăng 1, 56 lần.
Các ngành dịch vụ bước đầu đã có sự phát triển đa dạng, chất lượng được nâng
cao từng bước.
- Các loại dịch vụ liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế như: Dịch vụ xuất nhập
khẩu, dịch vụ thương mại, dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, dịch vụ bưu chính viễn thông.
. .
- Các loại dịch vụ liên quan đến đời sống người dân như: dịch vụ y tế, giáo dục. . .
Đi đôi với phát triển mạnh các ngành xuất khẩu và các ngành sản xuất hàng tiêu
dùng đã chú ý thoả đáng tới phát triển có chọn lọc một số ngành sản xuất tư liệu sản xuất
ngoài quốc doanh tăng 6,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22%.
- Những ngành có tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài cao là: công nghiệp 62%
tổng số vốn và kết quả sản xuất. chiếm 25,1% trong tổng giá trị sản xuất năm 1996. Tiếp
đến là các ngành kinh doanh khách sạn: 13,7% kinh doanh bất động sản: 10,9%, vận tải
và thông tin liên lạc: 5,3% tổng số vốn. Những ngành có đầu tư nước ngoài thường là
những ngành có kỹ thuật công nghệ cao như khai thác dâù khí, sản xuất ôtô, xe máy, một
số mặt hàng gia dụng điện tử và thiết bị điện tử. . . Đó là những ngành có ý nghĩa quan
trọng đối với phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hàng năm thu hút khoảng
3 - 4 vạn người làm việc trong khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1996 có
khoảng 19 van người làm việc ở khu vực này.
5. Cơ cấu kinh tế ngành đã chuyển dịch dần theo hướng vào xuất khẩu đồng
thời thay thế nhập khẩu
Trong những năm đổi mới vừa qua nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất hướng
nội, thay thế nhập khẩu nhưng về mặt chủ trương và biên pháp thực hiện đã coi trọng
hướng vào xuất khâủ. Từ năm 1991 đến năm 1995 bình quân kim ngạch xuất khẩu đạt
16,9 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân 16, 7% năm tăng gấp 2 lần tốc độ tăng bình quân của
GDP, năm 1997 so với năm 1996 kim ngạch xuất khẩu tăng 20% nhập khẩu tăng 0,5%
mức nhập siêu 37,5% năm 1998, kim ngạch xuất khẩu đạt 9,3 tỷ USD bằng năm 1997,
nhập siêu bằng 20% so với kim ngạch xuất khẩu.
Cơ cấu hàng xuất khẩu biến đổi theo hướng tăng chút ít tỷ lệ hàng công nghiệp
nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, hàng công nghệ và khoáng sản. Với số liệu thay đổi theo các
năm như sau:
Năm 1990 1995 1996
Hàng Công Nghiệp
và khoáng sản
25, 66 25, 28 28, 73
- Cơ cấu thành phần kinh tế.
Từ năm 1986 đến nay, trong tiến trình đổi mới, đảng ta đã chủ trương chuyển nền
kinh tế nước ta sang nền kinh tế hàng hoá gồm nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà
nước. Do đó phải tiến hành điều chỉnh lại các thành phần kinh tế được tiến hành từng
bước bổ sung và hoàn thiện cả về măt lý luận cũng như thực tiễn phù hợp với tình hình
phát triển nền kinh tế của đất nước.
Đại hội lần thứ VI nêu rõ thành phần kinh tế ở nước ta bao gồm. kinh tế xã hội
chủ nghĩa, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế tư
nhân.
Đại hội lần thứ VII nêu lên cơ cấu thành phần kinh tế gồm : kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân.
Thực trạng cơ cấu các thành phần kinh tế ở nước ta về tổng sản lượng công
nghiệp (tính theo %).
Năm Kinh tế Nhà nước Kinh tế tư nhân
1976 68, 6 31, 4
1977 69, 2 30, 0
1987 55, 4 44, 1
1988 56, 5 43, 5
1989 57, 0 43, 0
1990 59, 0 40, 2
Đến nay kinh tế Nhà nước vẫn nắm những ngành, nông nghiệp lĩnh vực kinh tế
then chốt và các doanh nghiệp trọng yếu, chiếm 70% tổng vốn đầu tư những hiệu quả
kinh tế nói chung còn thấp.
Kinh tế tập thể bao gồm toàn bộ lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Từ
năm 1986 đến nay, nhất là từ sau khi có nghị quyết 10 của bộ chính trị, 2/3 số hợp tác xã
sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn rất ít tác dụng đối với kinh tế hộ gia
đó có một công nghệ tiên tiến. Với chính sách “chú trọng công nghệ đòi hỏi mất đầu tư
thấp, thu hồi vốn nhanh, có khả năng tạo thêm nhiều chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp
tranh thủ đổi mới thiết bị, hiện đại hoá công nghệ trước hết ở một số khâu có ý nghĩa
quyết định việc nâng cao chất lượng sản phẩm nhất là hàng xuât khẩu”. Cách làm này đã
được hết sức coi trọng hiện nay khi khả năng vốn của ta còn nhỏ bé. Thực tế mấy năm
qua nhiều cơ sở sản xuất đã thực hiện khá thành công theo hướng này. Xí nghiệp Điện tử
Vietronis (Thủ Đức), Xí nghiệp Xà phòng Đánh răng P/S, xí nghiệp Gạch men Kim Long
Hầu (Thái Bình)
Là những cơ sở điển hình biết lựa chọn đầu tư cho khâu mấu chốt trong quy trình
công nghệ phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình, mang lại hiệu quả cao.
- Kết quả hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài trong
thời gian qua đã góp phần nâng cao một cách rõ rệt trình độ công nghệ của sản xuất trong
nước so với thời kỳ trước đây. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến, tiếp
cận với trình độ hiện đại của thế giới. Trong đó, phải kể đến ngành bưu chính viễn thông,
thăm dò, khai thác dầu khí, một số dây chuyền sản xuất tự động đã được đưa vào trong
nước như công nghệ CAD, CAM được đưa vào trong thiết kế cơ khí, chế tạo, dệt may. . .
thông qua các dự án đầu tư nước ngoài một số công nghệ mới được nhập vào nước ta như
sản xuất cáp quang, sản xuất ống thép bằng phương pháp cuốn và hàn tự động theo
phương pháp xoắn ốc.
Nhà nước đã ban hành và sửa đổi các bộ luật đầu tư, pháp lệnh chuyển giao công
nghệ nước ngoài vào Việt Nam, các văn bản của chính phủ về chuyển giao công nghệ đã
khuyến khích và thu hút được một số lượng lớn công nghệ nhập từ nước ngoài, có nhiều
mối để nhập công nghệ các thiết bị như thiết bị sản xuất xi măng, sản xuất phân bón. v. v.
. . đã được nhập vào nước ta một khối lượng lớn chất lượng công nghệ nhập ngày một
cao hơn. Nhà nước ta đã biết tân dụng được lợi thế của các nước đi sau để tận dụng
những công nghệ mới hiện đại đi thẳng vào phát triển các ngành mũi nhọn, trọng điểm
như nhà máy dệt long an đã đầu tư nhập các thiết bị hiện đại nhất từ Mỹ, Nhật, Tây Âu để
- Chưa hình thành rõ các ngành trọng điểm và mũi nhọn.
Ngay khái niệm về ngành trọng điểm và ngành mũi nhọn vẫn chưa có sự thống
nhất và sự lựa chọn ngành trọng điểm mũi nhọn vẫn chưa cụ thể. Nghị quyết 7 Trung
ương và văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII có dùng khái niệm ngành trọng
điểm và ngành mũi nhọn. Nghị quyết 7 (khoá VII) chỉ rõ “Chính sách công nghiệp nhằm
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải hướng tới hình thành một số ngành công
nghiệp trọng yếu đối với phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, trong đó trọng
tâm là công nghiệp chế biến và chế tác mà công nghiệp cơ khí và điện tử có vị trí hàng
đầu“. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII xác định có chọn lọc một số cơ sở
công nghiệp nặng trọng yếu. . . Hình thành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến
nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu khí, một số ngành cơ khí chế tạo, công
nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, du lịch phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào