LUẬN VĂN:
Tiền tệ và họat động tài chính tại các
ngân hàn hiện nay
Phần I: Giới thiệu chung I. Chính sách tiền tệ.
Tiền tệ là một khái niệm dùng để chỉ những gì được chấp nhận làm môi giới trung
đích những biện pháp, những công cụ hữu hiệu nhất để tạo điều kiện cho chính sách tiền
tệ phát huy hiệu quả. Tiền tệ và lưu thông tiền tệ được coi là những mạch máu của nền
kinh tế, đó là một thứ dầu bôi trơn để bộ máy kinh tế hoạt động thật hiệu quả. Chính vì
những lý do trên mà chính sách tiền tệ là một chính sách đặc biệt quan trọng. Vậy những
công cụ của chính sách tiền tệ là gì? Làm thế nào để đạt được những mục tiêu đã đặt ra?
Để đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ những mục tiêu trung gian
được coi là những nấc thang đưa dần dần tác động của Ngân hàng Trung ương thông quan
hàng loạt các công cụ của chính sách này. Công cụ của chính sách tiền tệ được phân ra
làm hai loại: Công cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp. Cả hai công cụ này đều có đặc điểm
chung đó là có thể tác động đến mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động của chính sách
tiền tệ. Đó là lãi suất, đó là khối lượng tiền cung ứng, đó là khối lượng dự trữ bắt buộc đó
là lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng tất cả các mục tiêu đó đều được lựa chọn
vì chúng có ưu điểm là có thể đo lượng được, có thể kiểm soát được và quan trọng hơn đó
là chúng đều có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng. Hệ thống mục tiêu này bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau. Vì vậy để đạt được nó cần có những công cụ hỗ trợ đắc lực
và hiệu quả. Trong từng giai đoạn khác nhau của nền kinh tế có thể các mục tiêu này sẽ
tạm thời thay thế cho nhau. Vì vậy việc linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ sao cho phù hợp nhất với các mục tiêu là vô cùng quan trọng và Ngân
hàng Trung ương sẽ là người ra quyết định cuối cùng đối với các công cụ này. Hiện nay,
công cụ trực tiếp và gián tiếp của chính sách tiền tệ đó là: Hạn mức tín dụng, nghiệp vụ lãi
chiết khấu, dự trữ bắt buộc và hoạt động của Ngân hàng Trung ương trên thị trường tự do
này còn gọi là nghiệp vụ thị trường mở. Trong điều kiện thế giới khi nền kinh tế thị
trường đã phát triển đa số các nước tiên tiến thường sử dụng các công cụ gián tiếp trong
điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, Việt Nam là một nước mới chuyển sang nền kinh
tế thị trường, sự phát triển của hệ thống thị trường chưa được đầy đủ và hoàn thiện vì vậy
tiếp. ở Việt Nam hệ thống thị trường tài chính tiền tệ chưa phát triển vai trò của các Ngân
hàng Trung ương vẫn còn bị hạn chế, mặt khác việc tự do hoá tài chính tiền tệ luôn luôn
vấp phải sự can thiệp và điều tiết của Chỉnh phủ. Vì vậy hạn mức tín dụng đã từng là công
cụ điều tiết có hiệu quả của Ngân hàng Trung ương trong thời kỳ lạm phát. Trong điều
kiện phát triển hiện nay, công cụ này ngày càng tỏ rõ những mặt yếu kém do mức tín dụng
được Ngân hàng Trung ương đưa ra là không có căn cứ và sự lỏng lẻo trong công tác quản lý hạn mức này. Do đó, công cụ trực tiếp sẽ dần dần được thay thế bằng các công cụ gián
tiếp để chính sách tiền tệ được thực thi một cách có hiệu quả.
2. Công cụ gián tiếp.
a. Dự trữ bắt buộc.
Như chúng ta đã biết, hoạt động tài chính ngân hàng là một hoạt động vô cùng cần
thiết và quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển như ngày nay.
An toàn trong kinh doanh tiền tệ sẽ bảo đảm cho hoạt động này được thông suốt. Để đảm
bảo cho khả năng thanh khoản bảo đảm cho những rủi ro bất thường trong hoạt động của
hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Trung ương đã qui định bắt buộc với toàn bộ ngân hàng
trung gian một khoản dự trữ gọi là dự trữ bắt buộc dưới dạng tiền gửi hoặc tiền mặt ở
Ngân hàng Trung ương. Mỗi ngân hàng trung gian sẽ mở một tài khoản ở Ngân hàng
Trung ương, điều này có thể giúp cho việc thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với
nhau giữa ngân hàng trung gian và Ngân hàng Trung ương, việc chi trả các khoản phí giao
dịch Dự trữ bắt buộc bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đây là tỷ lệ phần
trăm tính trên tổng sốdư tiền các loại tại một thời gian nào đó. Dự trữ bắt buộc được sử
dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1913, sau những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài vào
những năm 30, nó dần dần được sử dụng phổ biến ở những nước khác và lúc này Ngân
hàng Trung ương đã nhận ra rằng dự trữ bắt buộc không chỉ có thể đảm bảo khả năng
thanh toán và an toàn cho các ngân hàng trung gian mà nó còn có thể là công cụ để điều
tình trạng kinh tế suy thoái. Để thực hiện mục tiêu nới lỏng tiền tệ nhằm kích cầu tạo đà phát triển kinh tế, ngân hàng nhà nước đã thực hiện việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối
với các tổ chức tín dụng.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng – 1999
(2)
Tổ chức tín dụng
T
ỷ lệ dự trữ bắt buộc (%)
1/1/99 1/3/99
1/6/99
1/7/99
1/10/99
1. NHTM quốc doanh, NHTMCP đô thị 10 7 6 6 5
Chi nhánh NH nư
ớc ngo
ài, NH liên doanh
và công ty tài chính
tiền, quy định cách quản lý điều tiết tiền, đây là yếu tố quyết định nhất đến việc qui định
này. Mục tiêu của chính sách tiền tệ trước tiên sẽ là điều chỉnh cơ cấu và khối lượng tiền
trong lưu thông sao cho hợp lý nhất và từ đó cách quản lý tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ đó
sẽ được xác định một cách tối ưu và hiệu quả.
Thứ đến đó là qui mô hoạt động của các tổ chức tín dụng khi sử dụng dự trữ bắt
buộc trong điều tiết của Ngân hàng Trung ương người ta coi đây là một thứ thuế đánh vào
các tổ chức tín dụng. Xét trên một khía cạnh nào đó dự trữ bắt buộc được coi như một
khoản thuế là quan niệm có thể chấp nhận được, vì hầu hết các khoản dự trữ bắt buộc đều
không được trả lãi. Vì vậy nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng nhỏ giảm mức độ gánh
nặng của dự trữ bắt buộc, người ta thường căn cứ vào qui mô tiền gửi của các ngân hàng
để định ra tỷ lệ dự trữ cho từng loại hình tổ chức tín dụng. Hiện nay các tổ chức tín dụng
thực hiện dự trữ bắt buộc theo Quyết định số 51/1999/QĐ-NHNN1 của Ngân hàng nhà
nước Việt Nam ngày 10/02/1999. Nhóm các Ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân
hàng thương mại cổ phần đô thị. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh
và công ty tài chính được áp dụng tỷ lệ 5% trên tổng số dư tiền gửi dưới 12 tháng. Cũng
với loại tiền gửi này tỷ lệ áp dụng cho các tổ chức tín dụng còn lạ là 1% và 0%
(1).1
Ngày nay các công cụ điều hành chính sách tiền tệ đã được củng cố và mở rộng,
hoàn thiện và phát huy vai trò kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng nhà nước. Vì vậy dự trữ
bắt buộc không còn là công cụ mang lại hoạt động cao nhất, trong việc điều hành chính
sách tiền tệ từ đó việc qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc thực chất đó là việc xác lập một tỷ lệ
1 Tạp chí Khoa học và đào tạo Ngân hàng số 3 ( 5 + 6/2000 )
dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển càng có nhiều loại công cụ
mới ra đời nhằm đáp ứng những điều kiện hiện nay tốt hơn. Tuy rằng những công cụ đó
không thể thay thế hoàn toàn được dự trữ bắt buộc nhưng nó cũng đã phần nào khắc phục
được những hạn chế của công cụ này như tác động của công cụ dự trữ bắt buộc đến khối
lượng tiền cung ứng là rất mạnh, chỉ cần một phần trăm thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tính
trên tổng số dư tiền gửi bình quân ngày mức dự trữ sẽ thay đổi đáng kể và dẫn đến sự thay
đổi theo cấp số nhân của lượng tiền cung ứng. Điều này làm cho công cụ dự trữ bắt buộc
trở nên thiếu linh hoạt vì nếu cứ thay đổi thường xuyên sẽ gây nên sự rối loạn mới ổn định
cho hoạt động của các Ngân hàng. Đi kèm theo đó là khoản chi phí cho các biến động
cũng tăng theo. Vì vậy công cụ này thường được sử dụng kết hợp với các công cụ khác
nhằm điều chỉnh lượng vốn khả dụng của ngân hàng khi cần thiết.
b. Chính sách tái chiết khấu
Về thực chất chính sách tái chiết khấu là toàn bộ các qui định và điều kiện cho vay
của Ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng thương mại là một hệ thống có hoạt
động cung cấp một lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu của xã hội bằng cách đi huy động các
nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Họ sẽ nhận tiền gửi và lấy khoản tiền đó cho người có
nhu cầu cần vay người ta gọi đó là hoạt động tín dụng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên khi
tiến hành kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trường không phải ngân hàng nào cũng có
thể hoạt động một cách trôi chảy do điều kiện cạnh tranh giữa ngân hàng này và ngân
hàng khác. Nhiều khi có những biến động bất thường mà các ngân hàng chưa hoặc không
thể xoay sở kịp vốn hoặc dự trữ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng lúc đó các ngân hàng này buộc phải đi tìm nguồn vốn bổ sung từ các ngân hàng khác hoặc từ Ngân hàng Trung
ương để bảo đảm kinh doanh. Trên cơ sở các ngân hàng thương mại yêu cầu mình cho vay
của mình để tránh những khó khăn có thể vấp phải trong tương lai. Chính sách tái chiết
khấu không những thể hiện được vai trò của Ngân hàng Trung ương trong việc điều tiết
lượng tiền cung ứng mà nó còn thể hiện vị trí không thể thiếu được của Ngân hàng Trung
ương trong hệ thống ngân hàng đó là cứu cánh cho vay cuối cùng. Khi cho vay thông qua
tái chiết khấu Ngân hàng Trung ương là người cuối cùng có thể cung cấp dự trữ cho hệ
thống ngân hàng khi các sự phá sản của ngân hàng đe doạ thoát khỏi sự kiểm soát do đó
mà ngăn chặn xảy ra những cuộc sụp đổ ngân hàng và tài chính.
ở Việt Nam chính sách tái chiết khấu cũng đã được sử dụng trong điều hành chính
sách tiền tệ. Tuy nhiên nó không được sử dụng như là một công cụ hữu hiệu của chính
sách tiền tệ mặc dù pháp luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã có những qui định
hướng dẫn trong điều 57 về chiết khấu tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác. Nguyên nhân chủ chốt của vấn đề này đó là ở Việt Nam chưa hội
đủ những điều kiện để có thể tiến hành hoạt động này. Trước tiên đó là hoạt động chiết
khấu thương phiếu của các ngân hàng thương mại còn hạn hẹp từ khi có quyết định số
198/QĐ-NH5 ngày 16/09/1994 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành thể lệ tín
dụng ngắn hạn cũng đã có quy định về “ chiết khấu chứng từ có giá” nhưng cho đến nay
nghiệp vụ này của ngân hàng thương mại hầu như không đáng kể, chủ yếu chỉ là mua các
tín phiếu, trái phiếu ngắn hạn của nhà nước chưa đến hạn
(1)
. Trong khi đó thương phiếu –
công cụ tài chính quan trọng nhất trong sản xuất kinh doanh lại là hình thức công cụ tài
chính chưa phát triển ở Việt Nam. Chúng ta mới chỉ có trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngắn
hạn vì vậy phát triển hình thức tín dụng mới này còn gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục
điều này, đa dạng hoá các công cụ tài chính để làm cơ sở cho tín dụng ngân hàng sẽ là một bước đột
trong việc cấp phát vốn vì chỉ khi nào ngân hàng thương mại thực sự cần vốn họ mới xin
tái chiết khấu, lúc Ngân hàng Trung ương mới có quyền ra quyết định của mình. Để khắc
phục nhược điểm này cần kết hợp với việc sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong việc
thực hiện tốt vai trò kiểm soát của Ngân hàng Trung ương.
c. Nghiệp vụ thị trường mở.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động của Ngân hàng Trung ương trên thị trường
mở thông qua việc mua bán các chứng khoán hoạt động này có ảnh hưởng trực tiếp đến
dự trữ của các ngân hàng thương mại và ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất trên thị
trường. Đây được coi là công cụ linh hoạt và có hiệu quả nhất của chính sách tiền tệ đã
được hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển sử dụng vô cùng hiệu quả.
Vậy Việt Nam nghiệp vụ này được áp dụng như thế nào? Tại sao đến bây giờ Việt Nam
mới đưa nghiệp vụ này vào hoạt động.
Chúng ta đã biết sau Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước, hệ thống ngân hàng hai cấp
đã cho phép Ngân hàng nhà nước đóng vai trò Ngân hàng Trung ương và từ đây đã ra đời
một hệ thống chính sách tiền tệ được rút đúc từ kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới.
Thật vậy, chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước thời gian qua đã góp phần quan
trọng thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, tuy nhiên trong việc vận hành
các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp nhiều trở ngại trước hết là sự am hiểu
về một phương pháp điều hành mới còn hạn chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn
thiếu những điều kiện để điều hành chính sách tiền tệ theo đúng nghĩa gốc của mỗi công cụ. Chẳng hạn chính sách tín dụng chúng ta cho vay theo hạn mức truyền thống tiền đến
cho vay theo chỉ định là chủ yếu với cách tính và trả lãi sau hàng tháng (khác với cho vay
chiết khấu là hình thức cho vay trả lãi trước ). Chiết khấu giấy tờ có giá mới bắt đầu tập
dượt trên thị trường sơ cấp đối với tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng nhà nước và tín
phiếu các ngân hàng thương mại. Trên thị trường thứ cấp nghiệp vụ này còn nằm trên bản
một năm) sau tiếp có thể giảm hiệu quả của nó. Thành viên tham gia thị trường mở bao
gồm tất cả hệ thống tài chính, phi tài chính và tư nhân hay chỉ có duy nhất hệ thống tài
chính ( điều này rất quan trọng vì nghiệp vụ thị trường mở có hiệu quả hay không phụ
thuộc vào hai yếu tố một là thành viên tham gia, hai là công cụ tài chính ). Phương thức
mua, bán là gì ( mua, bán hẳn, hợp đồng mua, bán lại ) thanh toán mua, bán bằng hình
thức nào ( bằng chuyển khoản, bằng séc, bằng điện tử ) Vì vậy em xin sơ lược đề xuất
các giai đoạn tổ chức, vận hành nghiệp vụ thị trường mở như sau: Các bước hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở
Phân tổ
Giai đoạn đầu
(có thể áp dung)
Giai đoạn hoàn thiện
1. Thành
viên tham gia
-
Ch
ỉ bao gồm các
đ
ịnh
chế tài chính
-
Lãi su
ất
đ
ấu thầu
4- Kỹ thuật thị trường mở - Mua, bán hẳn - Mua, bán hẳn
- Mua bán theo hợp đồng
mua lại
5- Thời gian hoạt động - 1 tuần, tháng - Hàng ngày, khi cần thiết
Ta cần lưu ý:
1- Mua hoặc bán chứng khoán tận tay tư nhân là cách can thiệp vào lượng tiền
cung ứng trực tiếp và nhanh nhất. 2- Khả năng thanh khoản của chứng khoán quyết định tính linh hoạt của thị trường
mở chứ không phải thời hạn của chứng khoán, do đó nghiệp vụ thị trường mở hoạt động
trên thị trường chứng khoán nói chung chứ không chỉ thu hẹp trên thị trường tiền tệ.
Sau đây em xin nêu một vài suy nghĩ và kiến nghị sau đây:
1- Để phù hợp với thông lệ quốc té đồng thời là điều kiệnh thực tế của Việt Nam
hiện nay đề nghị sửa lại Điều 9 và Điều 21 Luật NHNN. Có như vậy mới tạo được tiền đề
cho nghiệp vụ TTM hoạt động có hiệu quả. Cụ thể là cộng cụ mua, bán trên nghiệp vụ này
bao gồm GTCG nói chung chứ không chỉ GTCG ngắn hạn, hay nói cách khác nghiệp vụ
TTM hoạt động trên phạm vi cả thị trường vốn và thị trường tiền tệ, nhất là hiện nay trong
điều kiện nền kinh tế mới chuyển đổi chúng ta còn thiếu nhiều công cụ tài chính để giao
dịch mua bán. Thực tế cho thấy do yêu cầu chi tiêu dài hạn của Ngân sách Nhà nước nên
các trái phiếu kho bạc phát hành có thời hạn thanh toán trên một năm được bộ Tài chính
Phần II: Nghiệp vụ thị trường mở
1
I. Nghiệp vụ thị trường mở.
Chính sách tiền tệ ngân hàng Trung ương là tổng hoà các giải pháp bảo đảm ổn
định đồng tiền và thị trường tiền tệ góp phần giải quyết các mục tiêu vĩ mô của nền kinh
tế bao gồm công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế, ổn định lãi suất, ổn định hệ thống tài
chính, thị trường ngoại hối Đã có nhiều giải pháp được sáng tạo, hoàn thiện dần trong
1 Thị trường tài chính tiền tệ 12/1999.
quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng và được thừa nhận là những công cụ điều
hành sắc bén hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động lên khối lượng tiền tệ, phạm vi tín
dụng và mặt bằng lãi suất. Điểm xuất phát để tiếp cận khi áp dụng các giải pháp này là
làm thế nào để đạt được một khối lượng tiền nhất định tương ứng với một mức lãi suất.
Để đạt được những điều này, các nhà hoạch định chính sách cân nhắc các giải pháp thích
hợp khi áp dụng hàng loạt các biện pháp được thử nghiệm rồi tựu chung lại thành một số
giải pháp chủ yếu được sử dụng cho đến ngày nay. Nó đã đang và sẽ được các ngân hàng
Trung ương áp dụng làm công cụ của chính sách tiền tệ như: tái cấp vốn, lãi suất trần, tỷ
giá, dự trù bắt buộc, tái chiết khấu và đặc biệt nghiệp vụ thị trường mở. Ra đời vào những
năm 20 của thế kỷ này, nghiệp vụ thị trường mở tỏ ra là một trong những công cụ hỗ trợ
đắc lực nhất trong điều hành chính sách tiền tệ. Nghiệp vụ này là nơi diễn ra việc mua bán
các chứng khoán ngắn hạn giữa một bên là ngân hàng Trung ương, một bên là khách hàng
bao gồm các ngân hàng, các tổ chức phi ngân hàng và tư nhân
. Các công cụ
được sử dụng phải là các công cụ có tính linh hoạt, được sử dụng rộng rãi, khả năng thanh
toán cao, thích hợp với các hình thức giao dịch khác nhau. Ví dụ như dưới hình thức đấu
thầu các loại chứng khoán trên thị trường sơ cấp của kho bạc hay
ngân hàng Trung ương, nếu các khoản tiền thu được không dành riêng cho chỉ tiêu chính
phủ thì nó sẽ được coi là một nghiệp vụ tiền tệ. ở một số nước có thị trường tài chính phát
triển, thị trường đối với chứng khoán. Chính phủ thoả mãn các điều kiện đòi hỏi của
nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương các nước này thực hiện phần lớn các
nghiệp vụ thị trường mở thông qua thị trường này. Tuy nhiên để duy trì một thị trường
lành mạnh cần phải có những điều kiện chính trị xã hội ổn định, khi đó các loại chứng
khoán của chính phủ được bảo đảm như vậy rủi ro tín dụng với loại công cụ này coi như
không có và nó trở thành phương tiện tốt nhất cho hoạt động thị trường mở. Nếu hoạt
động mua bán các công cụ nợ phát triển mạnh trên thị trường sơ cấp thì đó cũng là yếu tố
khuyến khích thị trường thứ cấp hoạt động mạnh mẽ. Vì vậy ngân hàng Trung ương luôn
luôn nắm vững các thông tin và biến động thị trường sao cho thị trường sơ cấp hoạt động
đạt hiệu quả. Nếu như nói thị trường sơ cấp là điều kiện cần thị trường thứ cấp sẽ là điều
kiện đủ để hoàn thiện toàn bộ hệ thống thị trường của các công cụ nợ. Trên thị trường thứ
cấp, nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành linh hoạt với các loại chứng khoán
1
được xếp
loại tín nhiệm cao, chủ yếu dưới dạng hợp đồng mua lại và hợp đồng mua lại đảo chiều
(1)
.
nay vai trò của công cụ này đã bị hạ thấp vì các ngân hàng cho rằng họ bị bất công hơn so
với các định chế tài chính khác cũng hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng mà lại
không phải để lại một khoản dự trữ bắt buộc được qui định từ phía Ngân hàng Trung
ương. Do vậy một số nước như Anh không áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc chỉ duy trì
nó ở một mức cần thiết với một mức dự trữ tối thiểu, hoạt động thị trường mở sẽ tự phát
huy hiệu quả và ảnh hưởng của nó đến lãi suất và mức cung tiền. Tuy vậy song song với
nghiệp vụ này dự trữ bắt buộc vẫn và công cụ quan trọng của Ngân hàng Trung ương.
Song hành với nghiệp vụ thị trường mở, chiết khấu tái chiết khấu cũng được coi là
các công cụ chủ đạo Ngân hàng Trung ương nghiên cứu xác lập một cách phù hợp mối
quan hệ và trật tự vận hành giữa hai công cụ này khác với chiết khấu và tái chiết khấu, các
ngân hàng tham gia nghiệp vụ này không chỉ nhằm mục tiêu quản lý khả năng thanh
khoản của mình mà đây còn là cơ hội kinh doanh với những mục tiêu lợi nhuận rõ ràng.
Để hạn chế các ngân hàng tiếp cận được với Ngân hàng Trung ương thông qua “ cửa sổ
chiết khấu “ vì nếu không thì nghiệp vụ thị trường mở không thể sử dụng như một công cụ
1. Tạp chí Ngân hàng số 3+4 tháng 2 năm 1999 cơ bản được, cần có những chính sách về lãi suất chiết khấu và điều kiện chiết khấu chặt
chẽ. Như vậy “ cửa số chiết khấu “ sẽ trở nên kém hấp hẫn với các ngân hàng khi họ có ý
định tham gia vào nghiệp vụ này đồng thời đây cũng là biện pháp nhằm hạn chế việc lạm
dụng cửa sổ chiết khấu ở Ngân hàng Trung ương. Mặc dù nghiệp vụ thị trường mở và “
cửa sổ chiết khấu” có thể được triển khai song hành trong điều hành tiền tệ nhưng Ngân
hàng Trung ương còn bảo đảm rằng có sự tách bạch rõ ràng phạm vi tác động của chúng
để có thể điều hành và phối hợp hai công cụ này phát huy tác dụng tốt nhất theo mục tiêu
cuả chính sách tiền tệ.
Thị trường mở là công cụ kiểm soát tiền tệ chủ yếu ở các nước công nghiệp và