1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LỚP: DH06SH
Yo0oZ Bài báo cáo môn: CNSH Thú Y GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Hải Sinh viên thực hiện:
Phi Mạnh Thái
Yo0oZ
3
A/ Đặt vấn đề:
Trong thế kỉ 20, ba loại virus cúm đã xuất hiện và gây nên những dịch cúm
chính là: virus gây dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, virus gây dịch cúm châu Á năm
1957,và virus gây dịch cúm Hồng Kông năm 1968. Dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918
đã giết chết khoảng 20 đến 50 triệu ngưòi trên toàn thế giới; năm 1957 và 1968 dịch
cúm đã giết chết từ 0.5 đến 1 triệu ngưới chỉ riêng ở Mỹ .
Virus gây dịch cúm ở người xuất hiện khi gene của virus cúm gia cầm, mà
trước đó không th
ấy ở đa số virus cúm người, được sát nhập vào virus cúm người theo
đó cho phép sự lây nhiễm hiệu quả của những loại virus này giữa người với người.
Virus cúm có nhiều protein khác nhau tạo nên độc tính: các protein bề mặt
hemagglutinin (HA) và neuraminidase (NA), phức hợp polymerase (bao gồm protein
PB1,HA,và PA) và protein phi cấu trúc (NS). Virus cúm châu Á năm 1957 thu nhận
các gene PB1,HA và NA, và virus cúm Hồng Kông năm 1968 thu nhận các gene HA
1.Xuất xứ:
Trong thế kỉ 20, ba loại virus cúm đã xuất hiện và gây nên những dịch cúm chính
là: virus gây dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, virus gây dịch cúm châu Á năm
1957,và virus gây dịch cúm Hồng Kông năm 1968. Dịch cúm Tây Ban Nha năm
1918 đã giết chết khoảng 20 đến 50 triệu người trên toàn thế giới; năm 1957 và
1968 dịch cúm đã giết chết từ 0.5 đến 1 triệu ngưới chỉ riêng ở Mỹ .Virus gây dịch
cúm ở người xuất hiện khi gene của virus cúm gia cầ
m, mà trước đó không thấy ở
đa số virus cúm người, được sát nhập vào virus cúm người theo đó cho phép sự lây
nhiễm hiệu quả của những loại virus này giữa người với người.
2. Sơ lược về đại dịch cúm .
a. Dịch cúm ở người:
100 năm, 3 đại dịch cúm:
Trong 100 năm qua, trên thế giới đã xảy ra 3 đại dịch cúm
lớn ở người:
1918-1919: ''Cúm Tây Ban Nha'', hay virus cúm
A(H1N1), gây số ca tử vong do cúm cao nhất trên thế giới:
hơn 500.000 người tại Mỹ đã chết và 20-50 triệu người khác
có lẽ cũng đã tử vong trên toàn thế giới. Nhiều người tử
vong trong vòng vài ngày đầu tiên sau khi nhiễm bệnh.
Những người khác chết do các biến chứng ngay sau đó.
Cúm Tây Ban Nha là độc nhất bởi gần 50% nạn nhân tử
vọng là những người trưởng thành trẻ tuổi, khoẻ mạnh.
1957-1958: Cúm châu Á, hay cúm A(H2N2), là thủ
phạm cướp đi sinh mạng của gần 70.000 người tại Mỹ. Cúm
đó nếu bịnh tái phát, sẽ có rất nhiều ngưòi bị vong mạng, nhất là những người sinh sau 1968
không có sự miễn nhiễm đối với Virus nầy.
¾ Sự xuất hiện của một tiểu loại cúm A mới không có nghĩa là một đại dịch cúm sẽ
xảy ra. Sau đây là thống kê và so sánh về những loại virus cúm A xuất hiện trong
30 năm trở lại đây. Chúng hiếm khi lây từ gia cầm và chim sang người:
Dạng virus cúm A Địa điểm
Số người tử
vong/nhiễm
Số gia cầm tử vong (con)
H1N1(virus cúm lợn) New Jersey, Mỹ, (1976) 0 0
H5N1(virus cúm gà) Hong Kong (1997) 6 chết - 18 nhiễm ~1,4 triệu
H9N2 Hong Kong (1999) 0 chết- 2 nhiễm
H5N1 Hong Kong (2003) 1 chết
H7N7(virus cúm gà) Hà Lan, Bỉ (2003) 1 chết - 83 nhiễm >15 triệu
H5N1(virus cúm gà) Hàn Quốc (2003-2004) 0-0 ~2 triệu
H5N1(virus cúm gà) Nhật Bản (2003-2004) 0-0 ~30 nghìn b. Dịch cúm ở gà
Bịnh cúm gà, gây bởi Virus nhóm H5 và H7, không là
một điều lạ trong lãnh vực chăn nuôi. Kể từ 1959 nhiều lần dịch
cúm gà đã xảy ra và đã gây sự tổn thất nặng cho những người
chăn nuôi. Virus gây bịnh cúm gà thật đa dạng: H7N3 ở Anh,
H5N9 ở Gia Nã Đại, H5N2 ở Ý, H7N3 ở Chí Lợi, H7N7 ở Hòa
Lan/Bỉ/Đức ,…. Nhưng đặc biệt ở Á Châu, trong thời gian vừa
qua, nhóm Virus H5N1 dã hoành hành ở Đại Hàn, Trung
Hoa/Hông Kông, lần xuống Việt Nam, Thái lan, Cam-Bốt, Nam
Dương,… và đến hiện tại vẫn còn là đề tài nóng bỏng được nói
23 quốc gia vùng Á Châu-Thái Bình Dương ngày 26 đến 28.2.2004), nhưng kết quả
đến hiện tại (2005) vẫn chưa hoàn hảo. Rải rác một đôi nơi sự bộc phát bịnh cúm gà
vẫn còn được ghi nhận (tháng 3.2005 ở Nam Dương, tháng 5/6.2005 ở
Qinghai/Xinjiang Trung Hoa,…) và cuối tháng 7.2005 người ta phát hiện bịnh cúm gà
ở các vùng Nga Sô phiá đông Ural (Altai, Tscheljabinsk, Kurgan, Omsk, ) ở
Kasachstan, Sibirien, Tây Tạng và Mông Cổ. Hiện nay cả Âu châu đang lo lắng sợ
bịnh sẽ truyền lần sang Tây phương qua đàn chim di cư theo mùa trở về
(Zugvögel/migratory birds). Ở Đức nhà cầm quyền đã ra nghị định cấp thời cấm nuôi
gà vịt ngoài trời kể từ 15.9.2005 đến 15.12.2005 để ngừa sự lây bịnh có thể xảy ra bởi
chim rừng (Wildvögel/wild birds), chim di cư theo mùa trở về Đức. Dịch cúm gà bộc phát được
ghi nhận từ năm 1959
Năm Địa phương Virus 1959 Scottland H5N1
1963 England H7N3
1966 Ontario H5N9
1976 Victoria H7N7
1979 Đức/Germany H7N7
7
1979 England H7N7
1983 Pennsylvania H5N2
1983 Ireland H5N8
1985 Victoria H7N7
1991 England H5N1
1992 Victoria H7N3
Nam
Dương
Số Số
bịnh
chết
Đợt 1
26-12-03
10-3-04
23 16 12 8 0 0 0 0
Đợt 2
19-7-04
8-10-04
4 4 5 4 0
0
0 0
Đợt 3
16-12-04
Đến 8-05
63 20 0 0 4 4 1 1
Tổng cộng
90 40 17 12 4 4 1 1
(tin mới nhất -FeedInfo 26.9.2005- cho biết dịch cúm gà đã tái phát ở Nam Dương
và tổng số người thiệt mạng liên hệ đến bịnh nầy lên đến 6 người ở quốc gia nầy;
riêng ở Việt Nam tổng số người chết lên đến 43 người ) 8
3. ĐẶC ĐIỂM VIRUT HỌC CỦA VIRUT CÚM
- Kháng nguyên Neuraminidaza.
(Hiện nay có 16 cấu trúc kháng
nguyên H (H1 đến H16) và 9 cấu
trúc kháng nguyên N (N1 đến N9)
khác nhau).
II. Phân loại.
1.Virus gây bệnh cúm bao gồm ba
type: type A, type B và type C. Căn
9
cứ vào sự hiện diện của các glycoprotein bề mặt (Glycoprotein gây ngưng kết hồng
cầu: Hemagglutinin (HA) và men tan nhầy Neuraminidase (NA). , virus thuộc type A
được chia thành các phân type (subtype). HA và NA được gọi là các yếu tố kháng
nguyên của virus.
Virus cúm với các yếu tố kháng nguyên H và N, lớp màng bao (envelop), protein liên
kết (matrix protein M1, ribonucleoprotein: RNP)
Hemagglutinin (H) cũng như Neuraminidase (N) là những Glycoproteine được
cấu tạo bởi những chuỗi Protein Polypeptide và chuỗi đường Oligosaccharide.
Sự cấu tạo khác biệt giữa H cũng như giữa N -dầ
u rất nhỏ- vẫn làm cho Virus
có dặc tính riêng biệt trong việc xâm nhập tế bào chủ (hoặc người, hoặc gà,
hay heo, ) và trong việc gây ra bịnh (chim rừng/chim di cư theo mùa tuy có
mang trong mình Virus nhưng không có triệu chứng bịnh gì, trong khi gà/vịt
nhà bị bịnh dịch cúm dễ chết)
2.Các subtype của virus cúm A và virus cúm B bao gồm các chủng khác nhau.
Virut cúm có tỉ lệ đột biến cao và kháng nguyên bề mặt luôn có xu hướng biến
được tiêm vaccine hàng năm.
(2) Các biến đổi lớn có tính chuyển đổi (antigenic shift) sảy ra khi virus cúm
nhiễm từ loài này sang loài khác hoặc do trộn lẫn, tái tổ hợp gene của virus cúm ở các
loài khác nhau (ví dụ giữa virus cúm A ở người và virus cúm A ở gia cầm). Khi loại
biến đổi này sảy ra sẽ cho ra đời mộ
t phân type virus mới mà tác hại của nó khó thể
lường trước được. Đây cũng là một trong những yếu tố để một đại dịch bùng phát.
4.Một số biến chủng virut cúm quan trọng
* H1N1: Là chủng virut cúm A được phân lập đầu tiên. Đầu tháng 10
năm 2005, các nhà khoa học tuyên bố rằng họ đã khôi phục thành công chủng
virut gây ra dịch cúm Tây Ban Nha. Những trình tự gen cho thấy đại dịch năm
1918 này là do virut H1N1 gây ra, thường được coi là chủng gây cúm lợn nhưng
có khả năng truyền nhiễm trực tiếp từ chim sang người. * H5N1
: H5N1 là phân nhóm cúm gia cầm có khả năng xâm nhiễm
cao. Từ năm 1997 đến nay, sự bùng phát của virut H5N1 đã làm nhiễm bệnh và
chết hàng chục triệu gia cầm. H5N1 được coi là tâm điểm của sự chú ý và cảnh
báo rằng một biến chủng từ phân nhóm H5N1 có thể tự biến đổi (hoặc tái tổ
hợp) để tạo thành một chủng virut có khả năng gây đại dịch cúm toàn cầu với tỉ
lệ tử vong trên người là cực lớn.
* H2N2: Gây nên dịch cúm châu Á vào năm 1957 và 1958 đã làm chết
khoảng 1 triệu người trên thế giới.
• Các loài gia cầm như gà và gà tây khi nhiễm virus cúm A có thể biểu hiện
triệu chứng cúm điển hình và nhiều khi bị chế
t.
• Có sự khác nhau đáng kể trong bộ gene giữa các phân type A chỉ nhiễm ở
người và các phân type nhiễm cả ở người và gia cầm.
Các virus cúm A đã được xác định nhiễm cả
người và gia cầm bao gồm:
- Cúm A H5: Gồm 5 phân type đã được xác đinh,
trong đó nhóm có độc lực cao H5N1 đã và đang
lưu hành tại châu Á và châu Âu.
- Cúm A H7: Gồm 9 phân type đã được xác đinh.
H7 có thể nhiễm từ các loài chim hay gia cầm
12
mang virus sang người. Người bị nhiễm các virus H7 có thể biểu hiện triệu chứng từ
viêm kết mạc mắt hay các triệu chứng tổn thương đường hô hấp trên hoặc cả hai. Đặc
biệt, H7 hiện diện trong cả nhóm có độc lực thấp và nhóm có độc lực cao. Nhìn
chung, H7 có thể gây bệnh cho người từ biểu hiện các triệu chứng dạng nhẹ cho đến
tử vong.
- Cúm A H9: Gồm 9 phân nhóm có thể nhiễm ở
người (ít sảy ra và có độc lực thấp).
2. Virus cúm B (influenza type B): Thường chỉ phát hiện thấy ở người và không bao
gồm các phân type. Virus cúm B cũng có thể gây bệnh nặng cho người nhưng ít gây
thành dịch như virus cúm A.
3. Virus cúm C (influenza type C): Người bị nhiễm virus cúm C có thể biểu hiện các
triệu chứng ở dạng nhẹ. Virus cúm C không gây thành dịch.
Điều kiện để đại dịch cúm xảy ra
Một đại dịch cúm (mang tính toàn cầu) sảy ra nếu hội tụ các điều kiện sau:
- Một phân type mới của virus cúm A được tạo ra và lưu hành trong cộng đồng
- Loại virus này gây các triệu chứng trầm trọng
Hồi tháng 3/2006, một con mèo bị chết ở Đức sau khi phát hiện bị nhiễm virut H5N1
có nguồn gốc từ những con chim hoang dã. Rồi đến những con lợn ở hai trang trại thuộc tỉnh Banten, gần thủ đô Jakarta,
Indonesia cũng bị chết do nhiễ
m virut H5N1 vào tháng 11/2005, nơi trước đó có ba
người bị chết do nhiễm loại virut này.
Gần đây nhất, cúm gia cầm đầu tiên xuất hiện ở thú hoang do một chuyên gia y tế của
Đức đã phát hiện một con chồn đá marten bị nhiễm chủng virus H5N1 còn sống trên
đảo Ruegen tại biển Baltic gần nơi 3 con mèo nuôi bị nhiễm chủng virus H5N1.
Tại Scotland một con chim thiên nga bị chết do nhiễm virut H5N1. Các nhà khoa học
đã xác nhận đây là một loạ
i biến dạng của bệnh cúm gia cầm.
Ngoài ra, vẫn còn những bản báo cáo loài "mèo lớn" (con hổ) cũng bị chết do nhiễm
virut H5N1 - đó là 147 con hổ bị chết trong một vườn bách thú Thái Lan sau khi ăn
thịt của những con gà bị nhiễm loại virut này.
2. H5N1 tiến hóa: Nguy cơ lây nhiễm H5N1 từ vật sang người
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Y khoa Erasmus, Rotterdam, Hà Lan cho biết. họ
chưa có đủ dữ liệu và bằng chứng để có thể
xác định chủng virut này có tiếp tục
truyền nhiễm sang các loài động vật có vú khác hay, tiến hóa thành một chủng virut
mới đủ sức lây nhiễm vào cơ thể người.
gây bệnh trên đàn 52 tuần tuổi có độc lực thấp trong khi ở đàn 24 tuần tuổi, virus được
xác đinh có độc lực cao
6
. H7N3 cũng được chứng minh gây bệnh cho hai người tiếp
xúc với gà mắc bệnh với các biểu hiện viêm kết mạc và triệu chứng điển hình của cúm
đồng thời được điều trị khỏi bằng Oseltamivir
5
. Trước đó, H7N3 cũng đã được phát
hiện trên các loài chim hoang dã tại Bolivia (năm 2001) và trên gia cầm thương phẩm
từ một vụ dịch tại Chile (2002), có liên quan đến H7N3 đã được phát hiện trên vịt
hoang dã vùng Nam Mỹ. H7N3 mang các đoạn gene từ virus phân lập được trên ngựa
và các loài chim hoang dã vùng Bắc Mỹ đồng thời có khả năng thích ứng khi nhiễm
vào gà tây
7
. Năm 2003, H7N3 gây dịch cúm gia cầm ở Hà Lan, 90 người bị nhiễm
virus trong đó một bác sỹ thú y
bị tử vong
8, 915
Như vậy, các loài chim hoang dã đóng vai trò quan trọng trong lưu trữ và vận chuyển
nguồn virus cúm trong đó có H7N3. Đây là một trong những yếu tố gây khó khăn
quan trong việc phòng chống dịch cúm trên thế giới.
4. Biện pháp phòng chống dịch trước mắt:
a.Cần có cảnh báo về nguy cơ do H7N3?
Ở các nước phát triển, chăn nuôi gia súc, gia cầm thường tập trung tại các trang trại
lớn với quy trình vệ sinh và kiểm soát bệnh hiện đại. Bên cạnh đ
ó việc giết mổ, kiểm
tra vệ sinh an toàn thực phẩm trước khi đưa ra thị trường được kiểm tra chặt chẽ để
b.Phòng và điều trị:
16
Cách điều trị hiện tại nhầm mục tiêu ngăn chận sự xâm nhập và bành trướng của Virus
qua cách làm thế nào để
• Virus không bám được vào tế bào cơ thể cũng như ngăn chận sự tổng hợp/điều chế
acít nucleic và Protein Virus
• Ngăn cản không cho Virus, khi đã được tạo lập trong tế bào cơ thể, thoát ra ngoài
xâm nhập tiếp những tế bào mới khác
• Ngăn chận sự truy
ền nhiễm bằng cách biệt lập người/thú bịnh; và riêng ở thú,
phương pháp -đồng thời cũng là luật định- hữu hiệu nhất là giết chết hết thú bịnh
cũng như thú chưa bịnh trong đàn
• Chích thuốc ngừa (Impfstoff/vaccine) để miễn nhiễm với Virus (Virusneutralisation)
Hiện tại có 4 loại thuốc để chống Virus trên thị trường đó là: Amantadin, Rimantadin,
Oseltamivir và Zanamivir. Sự quan sát/khảo cứu về bịnh cúm gà ở Á Châu vừ
a qua
cho thấy Virus H5N1 đề kháng (resistent) lại được đối với hai dược liệu phổ thông
Amantadin và Rimantadin
+8)
trong việc trị liệu bịnh cúm ở người. Hiệu lực đối với
Virus nầy chỉ có Oseltamivir và Zanamivir
+9)
còn được ghi nhận, đặc biệt Oseltamivir
có tên cầu chứng thương mãi là Tamiflu. Tuy nhiên dầu thuốc nào đi nữa, để trị liệu
hữu hiệu thuốc phải được dùng thật sớm. Theo ông Nguyễn Văn Bình, giám đốc văn
phòng ngừa bịnh trực thuộc bộ y tế, Đài Loan đã tặng cho Việt Nam 600 000 hộp
thuốc (tablets) Tamiflu và thuốc đã được phân phối đến những nơi cần thiết. Ngoài ra
nhà cầm quyề
Để khỏi bị lây bịnh, đương nhiên là phải tránh sự tiếp xúc trực tiếp với gà bịnh như có
thể. Sự truyền nhiễm lây bịnh chánh yếu là qua sự tiếp xúc với phân, nước dãi/nước
miếng, nước mắt của thú bịnh c
ũng như hít thở không khí nhiễm trùng ở chuồng nuôi
gà. Một câu hỏi quan trọng khác cũng được đặt ra là bịnh có thể lây qua thực phẩm,
qua thịt gà/trứng gà không? Câu trả lời tương đối lạc quan vì theo Viện Giám Định
Nguy Hiểm (Institut für Risikobewertung) ở Bá-Linh chưa có trường hợp người ta bị
lây bịnh "cúm gà" qua thực phẩm được xác nhận.
Trong ý lạc quan trên, bài cúm gà nầy có thể được kết thúc tại đây. Và dầu bịnh cúm
gà là một tai ách cho nhữ
ng người chăn nuôi, Virus H5N1 là một Virus độc hại cho
gia cầm, chúng ta vẫn còn có thể thoải mái ăn thịt gà mà không sợ bị bịnh, và nếu bạn
dè dặt, muốn thật chắc ăn thì nên nấu thịt thật chín (Virus sẽ bị hủy hoại khi nấu nóng
trên 70°C). Chúc các bạn vẫn còn thấy ngon miệng khi nhai nhẹ …chicken nuggets,
khi thưởng thức món gà "nhất phao câu nhì đầu cánh". 18
Tài liệu tham khảo.
/>%BAm_gia_c%E1%BA%A7m
/>
/>
in a South American wild duck is related to the Chilean 2002 poultry outbreak, contains genes from
equine and North American wild bird lineages, and is adapted to domestic turkeys. J Virol. 2006
Aug;80(15):7760-4