Tiểu luận
“Điểm khác biệt căn bản
giữa triết học phương Đông
và phương Tây”
1
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế
độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm
hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện
vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ
cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở
các nước khác.
Theo quan điểm của mác xít triết học là một hình thái
ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung
nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối
với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của
tự nhiên, xã hội và tư duy. Như vậy triết học là một hình
thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội và đặc
biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với
phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý dân số mà hơn
cả là phương thức của sản xuất của phương Đông là
phương thức sản xuất nhỏ còn phương Tây là phương thức
sản xuất của tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng
khác: văn hoá phương Đông mang nặng tính chất cộng
đồng còn phương Tây mang tính cá thể.
thì cũng có thể biết đến cái tính của vạn vật, trời đất: trời
có chín phương, con người có chín khiếu. Ở phương Đông
khuynh hướng duy vật chưa rõ ràng đôi khi còn đan xen
với duy tâm, mặc dù nó là kết quả của quá trình khái quát
3
những kinh nghiệm thực tiến lâu dài của nhân dân Trung
hoa thời cổ đại. Quan điểm duy vật được thể hiện rõ ở học
thuyết Âm dương, tuy nó còn mang tính chất trực quan,
chất phác, ngây thơ và có những quan điểm duy tâm, thần
bí về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học này đã bộ
lộ rõ khuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự
phát của mình trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động,
biến hoá của sự vật hiện tượng trong tự nhiên cũng như
trong xã hội.
Ở Ấn độ tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại được hình
thành từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước
công nguyên, bắt nguồn từ thế giới quan thần thoại, tôn
giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang
tính chất tự nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn
giáo tối cổ của nhân loại. Ở Ấn độ nguyên tắc “thiên nhiên
hợp nhất” lại có màu sắc riêng như:
Xu hướng chính của Upanishad lànhằm biện hộ
cho học thuyết duy tâm, tôn giáo trong kinh Vêđa về cái
gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao” sángtạo và chi phối thế
giới này. Để trả lời câu hỏi cái gì là thực tại cao nhất, là
căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta
sẽ nhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát
được linh hồn khỏi sự lo âu khổ nào của đời sống trần tục
và ràng buộc của thế giới này là “tinh thần vũ trụ tối cao”