PHÁT HIỆN VIRUS GUMBORO
BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT TỦA TRÊN THẠCH GVHD:TS.Nguyễn Ngọc Hải
SVTH :Phan Thị Phương Thanh I.LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ khi các kỹ thuật sinh học phân tử ra đời,nó mở ra một cánh
cửa hy vọng mới đầy tiềm năng cho các nhà khoa học nói riêng và cho toàn
II.TỔNG QUAN
II.1.Giới thiệu về bệnh Gumboro
Gumboro là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gà và gà tây được gây ra bởi
Infectious bursal disease virus (IBDV),đặc trưng bởi sự phá huỷ túi
Fabricius . Đây là nhóm virus gây bệnh thuộc nhóm không có vỏ bọc, có sức
chịu đựng rất cao, thời gian nung bệnh ngắn, do đó khả năng truyền bệnh rất
mạnh.
Mầm bệnh có thể sống hàng tháng trong chuồng trại, hàng tuần trong nước
uố
ng, thức ăn, phân.
Lứa tuổi gà mắc bệnh cao nhất là từ 3 - 6 tuần tuổi, gà nhỏ hơn có thể mắc
bệnh ở thể tiềm ẩn, không biểu hiện triệu chứng, nhưng ảnh hưởng rất quan
trọng vì nó làm ức chế miễn dịch, gà dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác.
Mặt khác, nó trơ với việc chủng ngừa có hiệu quả. Trong những năm gần
đây, nhiều dòng chủng IBDV (vvIBDV), nguyên nhân chính gây ra sự tử
vong đồng loạt trên gà, đã xuất hiện ở châu Âu, Mỹ Latin, Đông Nam Á,
châu Phi và Trung Đông. Theo các điều tra gần đây tại nước ta, gà công
nghiệp có tỷ lệ mắc bệnh rất cao, Gumboro được coi là bệnh truyền nhiễm
chính trên gà hiện nay. Gà ta nuôi theo phương thức bán công nghiệp cũng
ện pháp phòng bệnh đã
được nghiên cứu, tuy nhiên ngày nay việc khống chế bệnh vẫn còn ở phía
trước.
II.3.Sơ lược về túi Fabicius
Túi Fabricius là cơ quan dạng lympho, nằm gần hậu môn. Trong quá
trình phát triển của bào thai, nó xuất hiện sau tuyến ức và giống như
tuyến ức, túi Fabricius có cấu trúc lympho biểu mô.
Túi Fabricius là cơ quan dạng lympho trung ương, quá trình biệt hóa
trong túi diễn ra không bị ảnh hưởng bởi kích thích kháng nguyên từ
bên ngoài.
( )
Túi Fabricius nhỏ đi rất sớm: gà khoảng tháng thứ 4 (tuổi dậy thì), nó
bắt đầu teo và tới tháng 11-12 thì mất hẳn.
Chia túi ra thành các đơn vị cấu trúc gọi là các nang (Foliculum). Mỗi
nang gồm có một vùng vỏ giàu lympho bào và một vùng tủy ít tế bào hơn
nhưng có chứa tương bào. (
)
Đây còn là nơi biệt hóa dòng lympho B.
II.4.Virus IBDV
II.4.1.Về cấu trúc sinh học
IBDV có dạng hình khối, nhiều gốc cạnh, khích thước: 55-65 nm,
để trở thành VP2 (40 kDa)
(Da Costa et al., 2002; Lejal et al., 2000). VP2 và VP3 là những protein cấu
trúc. Trong đó, VP2 chứa những vị trí kháng nguyên quan trọng và hệ thống
đáp ứng miễn dịch (Heine and Boyle, 1993).
II.4.2.Về miễn dịch
IBDV có hai serotype khác biệt rõ ràng, nhưng chỉ có loại serotype 1
mới có khả năng gây bệnh trên gia cầm.
Serotype 1: gồm nhiều chủng gây bệnh cho gà. Có ít nhất khoảng 6
loại kháng nguyên phụ của serotype 1 được xác định bằng các thử nghiệm
trung hòa trong ống nghiệm. Nh
ững virus thuộc một trong những loại kháng
nguyên phụ này thường được biết dưới dạng những biến thể, nguyên nhân
gây tỉ lệ tử vong trên gà từ 60-100%. Có sự khác nhau về kháng nguyên giữa
các chủng cổ điển và biến thể. Miễn dịch chéo giữa những biến chủng rất
nhỏ (Mc Ferran và Cs 1980)
Serotype 2: gồm có chủng virus gây bệnh cho gà tây. Về phương diện
miễn dịch, giữa hai serotype không có khả năng miễn dị
ch chéo với nhau.
Tuy nhiên gà và gà tây có thể bị nhiễm các chủng virus của nhau mà không
phát bệnh.
II.4.3.Về sức đề kháng
IBDV có sức đề kháng cao với các tác nhân lý hóa và môi trường.
Chịu đựng được pH từ 2-12 (Benton và cs, 1967). Ở 56
o
C, IBDV tồn tại
trong 5h, ở 70
II.4.7.Cơ chế xâm nhiễm
Virus xâm nhập qua đường tiêu hóa của gà, xuyên qua màng ruột đến các
đại thực bào và cơ quan Lympho của ống tiêu hóa, từ đây Virus theo tĩnh
mạch cửa vào gan rồi lan tỏa khắp cơ thể, đến ngày thứ 4 virus có mặt ở các
cơ quan sinh bạch cầu, tập trung nhiều nhất ở túi Fabricius.
- Nếu gà nhiễm b
ệnh từ 1 ngày đến 2 tuần tuổi, do trong máu của gà chưa có
các bổ thể virus không tấn công được hệ thống mạch máu và thận, chỉ phá
hại túi Fabricius, làm túi này hư hại rồi teo nhỏ, quá trình nuôi dưỡng và
thành thục của tế bào Lympho B bị đình trệ, dẫn đến hậu quả làm suy giảm
việc tạo kháng thể của cơ thể gà, đây là nguyên nhân chính của việc gà
không tạo được miễn dịch mặc dù đã tiêm phòng đầy đủ các bệnh.
- Trường hợp nhiễm bệnh sau 2 tuần tuổi, lúc đó trong máu đã có đầy đủ
lượng bổ thể virus sẽ phát huy tác dụng gây nên triệu chứng vỡ mạch máu
gây xuất huyết nhiều nơi, virus đến thận phá hoại ống thận làm gà không thể
tái hấ
p thu được nước, hậu quả nước từ thận tràn vào trực tràng, gà tiêu chảy
rất nặng, gà chết chủ yếu là do mất nước.
II.4.8.Triệu chứng
Gà bị nhiễm virus sớm, trước 2 tuần tuổi sẽ mắc bệnh thể tiềm ẩn, nếu
không có kháng thể hoặc kháng thể mẹ truyền dưới mức bảo hộ. Gà không
có triệu chứng lâm sàng lộ ra ngoài nhưng túi Fabricius bị tổn thương nặng
(viêm, phù, xuất huyết và sau đó bị teo) làm cho đáp ứng miễn dịch dịch thể
bị ức chế. Gà mắc thể bệ
nh này sẽ giảm năng suất, khả năng miễn dịch yếu
khi chủng ngừa các vaccin phòng bệnh khác, đồng thời tăng khả năng và
mức độ trầm trọng khi mắc các bệnh khác như: Cầu trùng, E.coli,
ngày thứ 5 trọng lượng túi Fabricius bắt đầu giảm và teo dần, nhưng các
nang túi vẫn không đồng đều. II.4.9.2.Bệnh tích vi thể
Có hoại tử của các thành phần tế bào lympho như: ở túi Fabricius, ở
van hồi manh tràng, lách. Các thành phần của tế bào lympho bị phá hủy,
nhân tế bào bị teo rỗng.
Trong trường hợp nhẹ: Trong nang có những đám thâm nhiễm lớn của
tế bào viêm ở mô giữa các nang. Ở các nang có những tế bào rỗng tạo thành
các không bào (Vacuolas) hoặc thấy hiện tượng hoại tử của các tế bào cùng
những mảnh vụn c
ủa tế bào bị phá hủy, làm thành một khối. Phản ứng viêm
nhiễm không phân biệt rõ. Việc các tế bào bị phá hủy sẽ dẫn đến việc biến
mất hoàn toàn các nang lympho. Tại chỗ của chúng phát triển các tế bào
biểu mô ít phân biệt.
Trong trường hợp cấp tính: Ở tại các mô đệm của các nang thường
thấy đầy hồng cầu trên bề mặt. Ở giữa lớp tế bào thấy xuất hiện những thành
phần tế bào hoàn toàn bị lệch vị trí, do có những mảnh tế bào và dịch nhày
màu hồng.
Tóm lại: toàn bộ quá trình là sự nhiễm có mủ và hoại tử v
ới sự xuất
hiện của các không bào.
dưới gặp kháng thể tương ứng, kết tủa sẽ xuất hiện ở vùng mà kháng
nguyên-kháng thể có tỷ lệ tương ứng
+Phương pháp kết tủa khuếch tán kép của Oúkeyfulthor
Cho kháng thể vào ống nghiệm, rồi cho thạch vào, sau đó cho kháng
nguyên lên trên thạch. Sẽ có sự khuếch tán lên của kháng thể
và khuếch tán
xuống của kháng nguyên, vùng kết tủa sẽ xuất hiện ở chổ kháng nguyên-
kháng thể có tỷ lệ đồng đều tương ứng.
Có thể làm ngược lài là cho kháng nguyên vào trước, rồi đến thạch và
sau cùng là kháng thể. Kết quả tương tự như trên.
+ Phản ứng kết tủa khuếch tán trong thach trên phiến kính
(phương pháp Ouchterlony)
(
: www.ncbi.nlm.nih.gov/bookshelf/br.fcgi)
Thực chất là phản ứng kết tủa khuếch tán kép, dễ làm, thông dụng. III.2.1.2Vật liệu để chẩn đoán bệnh Gumboro theo phương pháp kết tủa
khuếch tán trên thạch:
Kháng nguyên: Thận, lách, túi fabricius của những con gà có triệu chứng
bệnh, bệnh tích đặc trưng đem nghiền nhỏ pha với dung dịch PBS với tỷ lệ
½, xử lý kháng sinh, đông tan 3 lần.
Huyết thanh: Sử dụng huyết thanh dương tính t
C từ 6-24h, đem ra đọc kết quả. Nếu thấy giữa
huyết thanh và kháng nguyên nghi xuất hiện vạch kết tủa giống như huyết
thanh và kháng nguyên chuẩn thì kháng nguyên nghi tương ứng với kháng
thể.
Có thể làm ngựơc lại là cho kháng nguyên đã biết vào lỗ giữa, còn các lỗ
còn lại cho huyết thanh.
V.Tài liệu tham khảo
1.Nguyễn Ngọc Hải, 2007, Công Nghệ Sinh Học
Trong Thú Y, NXB Nông Nghiệp
2. />ouble_immuno_diffusion
3.Bệnh Gumboro và các kỹ thuật sinh học phân tử.
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH BỘ MÔN CÔNG