Tài liệu Luận văn: Nghiên cứu cuộc phát hành trái phiếu ra quốc tế của Vinashin doc - Pdf 10

Luận văn
Nghiên cứu cuộc phát
hành trái phiếu ra quốc tế
của Vinashin

_*
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ VỚI RỦI RO QUỐC GIA 3
1.1 Trái phiếu quốc tế 3
1.1.2 Khái niệm 3
1.1.2 Phân loại 3
1.2.3 Ưu, nhược điểm của trái phiếu quốc tế 4
1.2 Thị trường trái phiếu quốc tế - một hướng đi mới 6
1.2.1 Lịch sử thị trường trái phiếu quốc tế 6
1.2.2 Những công cụ chủ yếu trên thị trường trái phiếu quốc tế 7
1.2.3 Lựa chọn đồng tiền phát hành 9
1.2.4 Cách thức phát hành trái phiếu quốc tế ra thị trường 10
1.3 Rủi ro quốc gia 11
1.3.1 Khái niệm 11
1.3.2 Các thành phần của rủi ro quốc gia 11
1.3.2.1 Theo Standard and Poor’s(S&P) 11
1.3.2.2 Theo International Country Rish Guide(ICRG) 12
1.3.3 Các mô hình đánh giá rủi ro quốc gia 13
1.3.3.1 Theo Standard and Poor’s(S&P) 13
1.3.3.2 Theo International Country Rish Guide(ICRG) 14
1.3.4 Mối liên hệ giữa rủi ro quốc gia và phát hành trái phiếu quốc tế 15

2.4.5 Nợ nước ngoài 40
2.4.6 Nợ trong nước 43
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CHO VẦN ĐỀ
3.1 Xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm riêng của Việt Nam
theo tiêu chuẩn quốc tế 44
3.2 Lựa chọn những tổ chức tư vấn, hỗ trợ phát hành trái phiếu chuyên nghiệp 45
3.3 Lựa chọn thị trường phát hành phù hợp 45
3.4 Lựa chọn đồng tiền hiệu quả 47
3.5 Lựa chọn kỳ hạn khối lượng trái phiếu phát hành 47
3.6 Sử dụng vốn vay hiệu quả 48
3.7 Tạo sức mạnh cho thương hiệu Việt Nam 49
KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC CÁC BẢNG CHỈ SỐ, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thị trường cổ phiếu quốc tế thời gian qua đang chao đảo trước sự sụt giảm liên tục
của hàng loạt các chỉ số lớn và việc giảm điểm liên tục trong các phiên giao dịch tại
các trung tâm giao dịch lớn như New York, Tokyo, Hồng Kông
Các thông tin (Phụ lục chỉ số Dự báo chỉ số NASDAQ , Dự đoán chỉ số Nikkei
225 của Nhật Bản) giúp chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng các chuyên gia tài
chính tỏ ra không mấy lạc quan về một tương lai tốt đẹp của các thị trường chứng
khoán lớn trên thế giới. Rõ ràng sự trì trệ kinh tế của các quốc gia lớn, đặc biệt là
Mỹ đã kéo theo sự suy giảm trong các chỉ số. Mặc dù Cục Dự Trữ liên bang Mỹ
(FED) đã mạnh tay cắt giảm lãi suất từ tháng 5 năm 2008 xuống còn 2% nhằm
mục đích vực dậy nền kinh tế Mỹ nhưng xem ra công cụ này chưa tỏ rõ sức mạnh
mà Mỹ mong muốn. Đồng đôla Mỹ không còn giữ vị trí thống trị như những năm
vừa qua khiến việc nắm giữ các cổ phiếu của các công ty Mỹ cũng giảm sức hút đi
một phần.


vững về trái phiếu quốc tế, các vấn đề của Việt Nam khi thực hiện, đặc biệt xem
xét kỹ cuộc phát hành trái phiếu quốc tế của Vinashin, từ đó tìm hiểu các ưu điểm,
các hạn chế nhằm làm rõ mục tiêu của đề tài.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Tìm hiểu thông qua các giáo trình chuẩn của các bộ môn kinh tế liên quan đến trái
phiếu, thông tin từ các tạp chí kinh tế, từ các trang web chính thức có uy tín về tài
chính, trang web chính thức của công ty nghiên cứu, các báo cáo, phân tích của các
tổ chức như World Bank, IMF…Phân tích các biểu đồ, biểu mẩu, các công thức
tính toán tài chính có liên quan…
5. Kết cấu đề tài:
Đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Trái phiếu quốc tế với rủi ro quốc gia.
Chương 2:Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế- Những vấn đề cần quan tâm.
Chương 3: Giải pháp cho vấn đề. CHƯƠNG I: TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
VỚI RỦI RO QUỐC GIA

1.1 TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm

Để dễ hiểu trái phiếu quốc tế là gì thì trước hết chúng ta cần tìm hiểu xem trái phiếu là
gì: “Trái phiếu (bond) là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của một tổ chức phát
hành đối với người sở hữu (trái chủ) trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm theo tiền lãi
trong một thời hạn nhất định.”

Trái phiếu quốc tế (international bond) cũng là trái phiếu nhưng có đặc điểm là được
bán ra bởi chính phủ, các tổ chức kinh tế của một nước hay các tổ chức tài chính quốc
tế trên thị trường vốn quốc tế (không phải trên thị trường nội địa của tổ chức phát


Trái phiếu châu Âu là một công cụ tài chính hấp dẫn đối với các nhà phát hành bởi vì
chúng đem lại cho các nhà phát hành sự linh hoạt trong việc lựa chọn quốc gia phát
hành trái phiếu tùy thuộc vào sự ép buộc điều tiết của quốc gia đó. Họ thường định
danh trái phiếu châu Âu của mình theo đồng tiền mà họ yêu thích. Trái phiếu châu Âu
hấp dẫn các nhà đầu tư vì chúng có giá trị danh nghĩa nhỏ và có thanh khoản cao.
1.2.3 Ưu và nhược điểm của trái phiếu quốc tế

Ưu điểm: Lợi thế lớn nhất mà ta có thể nhận thấy được từ trái phiếu quốc tế là tổ chức
phát hành trái phiếu có toàn quyền trong việc sử dụng vốn vay và không chịu sự ràng
buộc nào từ phía các nhà đầu tư. Đây là một ưu điểm vượt trội hơn so với việc phát
hành cổ phiếu. Nếu như các cổ đông có quyền tham gia vào các quyết định định đầu tư
cũng như cách thức sử dụng vốn, và đôi khi vì mâu thuẫn trong lợi ích nhận được từ
các quyết định đầu tư mà các cổ đông sẽ ngăn cản, thậm chí bác bỏ các dự án đầu tư
mặc dù chúng sẽ đem lại lợi nhuận cho công ty; thì ngược lại, các trái chủ hoàn toàn
đứng ngoài các quyết định này.

Bên cạnh đó, khối lượng vốn huy động và thời hạn của trái phiếu đều do tổ chức phát
hành quyết định. Điều này tỏ ra có hiệu quả tốt, nhất là trong các trường hợp phát hành
trái phiếu trung và dài hạn.

So với việc đi vay ngân hàng thì phát hành trái phiếu có chi phí thấp hơn nếu xét về lâu
dài, khi đã có được sự tin tưởng của thị trường thì càng về sau lãi suất huy động có thể
giảm. Một ưu điểm nữa so với việc vay vốn ngân hàng là phát hành trái phiếu không
đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm hay thế chấp. Điều đó giúp các công ty chủ động hơn
trong việc sử dụng tài sản của mình trong kinh doanh.

Phát hành trái phiếu quốc tế không chỉ là một phương thức huy động vốn đơn thuần mà
nó còn là một cách khẳng định uy tín của tổ chức phát hành trên thị trường vốn quốc tế.
Quan trọng hơn nữa, nếu như các khoản nợ và lãi vay được thanh toán đúng hạn, cũng

thiếu hụt thì sẽ gây ra tâm lý nghi ngại cho các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư thêm
lần nữa vào trái phiếu của công ty đó. Do vậy, nếu muốn huy động được số vốn mong
muốn buộc công ty phải trả một lãi suất cao hơn hoặc phải đưa ra nhiều điều kiện ưu
đãi hơn.

Đối với những trái phiếu càng dài hạn thì rủi ro tiềm ẩn càng cao. Khi đầu tư vào các
trái phiếu này các nhà đầu tư đứng trước nguy cơ đối mặt với các rủi ro về khủng
hoảng kinh tế, thay đổi lãi suất, tỷ giá hay khả năng thanh toán của tổ chức phát hành.
Điều đó buộc các tổ chức phát hành phải có những cam kết vay chặt chẽ với những
điều khoản khắt khe hơn để tạo lòng tin nơi các nhà đầu tư.

1.2 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ - MỘT HƯỚNG ĐI MỚI

1.2.1 Lịch sử thị trường trái phiếu quốc tế
Từ những năm 1820, các nhà phát hành trái phiếu người nước ngoài, thường là các
chính phủ hay các công ty đường sắt, đã bắt đầu xuất hiện tại thị trường tài chính châu
Âu. Từ nửa sau thế kỷ 19 đến hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất thì Paris và London
đã trở thành hai trung tâm tài chính với các thị trường trái phiếu lớn bắt đầu xuất hiện.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, New York trở thành một thị trường trái phiếu
quốc tế hùng mạnh và vị trị này cũng phù hợp với nền tài chính của nước Mỹ lúc bấy
giờ. Theo một ước tính, có khoảng 14 tỷ trái phiếu nước ngoài bằng đôla đã được phát
hành vào thị trường từ năm 1946 đến 1963.

Trong suốt những năm 1980, thị trường trái phiếu nước ngoài bằng yên Nhật và frăng
Thụy Sỹ cũng mở rộng nhanh chóng.

Riêng thị trường trái phiếu châu Âu, vào những năm 1900 đã ghi nhận có đến ¾ thị
trường là trái phiếu quốc tế. Mặc dù đến nay vẫn còn một số quan điểm bất đồng nhưng
hầu hết mọi người đều công nhận là nguồn gốc của thị trường trái phiếu châu Âu là từ
những năm 1960.

rời là một trái phiếu có lãi suất bằng không, là kết quả của việc tách rời lãi suất và vốn
gốc của một trái phiếu lãi suất thông thường. Kết quả là hàng lọat trái phiếu lãi suất
bằng không được đại diện bởi việc thanh toán riêng lẽ tiền lãi và vốn gốc.

Trái phiếu gồm hai loại tiền tệ là trái phiếu lãi suất cố định thẳng hàng được phát
hành bằng một đồng tiền và trả lãi cũng bằng loại tiền tệ ấy. Đến ngày đáo hạn, vốn
gốc sẽ được hoàn trả bằng loại tiền thứ hai. Lãi suất của loại trái phiếu này thường cao
hơn lãi suất của trái phiếu lãi suất cố định. Việc thanh toán số lượng đôla vốn gốc vào
ngày đáo hạn được tiến hành như quy định ban đầu, thông thường, số lượng đó cho
phép một số khả năng nâng giá trị chúng thông qua các tỷ giá của một đồng tiền mạnh
hơn. Theo viễn cảnh mà các nhà đầu tư mong muốn, một trái phiếu gồm hai loại tiền tệ
bao gồm một hợp đồng kỳ hạn dài hạn.

Trái phiếu kếp hợp các loại tiền tệ: là loại trái phiếu định danh bằng một rổ tiền tệ,
như là SDRs hay ECUs, thay vì chỉ duy nhất một loại tiền tệ. Chúng thường xuyên
được gọi là trái phiếu hỗn hợp tiền tệ. Chúng chính là những loại trái phiếu lãi suất cố
định điển hình. Sự kết hợp nhiều loại tiền tệ chính là một danh mục các loại tiền tệ: khi
mà một số đồng tiền bị mất giá trong khi một số khác lại tăng giá, do đó lợi ích thu
được thấp hơn giá trị biến đổi xét về tổng thể.

Tình huống giả định: Nếu bạn là một ngân hàng đầu tư và bạn đang tư vấn cho một
ngân hàng châu Âu về một dự định phát hành trái phiếu quốc tế mới mà họ đang cân
nhắc. Phần tiền thu được sẽ được dùng tài trợ cho các khoản nợ cho các khoản nợ
bằng đôla châu Âu của các ngân hàng khách hàng. Vậy bạn sẽ đề nghị ngân hàng đó
sử dụng công cụ trái phiếu nào cho việc phát hành?
Giải pháp: Vì ngân hàng châu Âu mong muốn sử dụng phần tiền thu được từ trái phiếu
để điểu tiết các khoản nợ bằng đôla châu Âu, là những khoản nợ với lãi suất thả nổi,
ngân hàng đầu tư nên đề nghị ngân hàng đó phát hành trái phiếu có lãi suất thả nổi
(FRNs), là loại trái phiếu có lãi suất thay đổi. Bởi vì sẽ có mối quan hệ tương tác giữa
lãi suất ngân hàng trả cho các ngân quỹ và lãi suất mà nó nhận được từ các khoản cho

đồng tiền thanh toán trên trái phiếu (đồng tiền thứ hai). Trong suốt những năm đầu tiên,
việc thanh toán lãi suất sẽ được tiến hành bởi công ty mẹ ở quốc gia phát hành trái
phiếu (đồng tiền thứ nhất). Đến ngày đáo hạn, các MNC đã tính toán trước số vốn gốc
sẽ được hoàn trả từ nguồn lợi nhuận kiếm được từ các công ty con. MNC có thể phải
chịu đựng một khoản lỗ do tỷ giá gây ra nếu các công ty con không thể thanh toán nợ
gốc và đồng tiền thanh toán tăng giá so với đồng tiền phát hành. Do vậy, cả nhà phát
hành và nhà đầu tư phải chịu rủi ro về tổn thất do thay đổi tỷ giá hối đoái gây ra từ trái
phiếu bao gồm hai loại tiền tệ.
1.2.4 Cách thức phát hành trái phiếu quốc tế ra thị trường

Một tổ chức dự định tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu châu Âu vào thị trường
vốn sẽ liên hệ với các ngân hàng đầu tư và sẽ yêu cầu họ làm nhà quản lý chính của
một nghiệp đoàn bảo lãnh sẽ phát hành trái phiếu vào thị trường. Nhà quản lý chính
thường sẽ mời thêm các ngân hàng khác kết hợp tạo thành một nhóm quản lý để giúp
thương thảo với tổ chức muốn phát hành trái phiếu, xác định các điều kiện thị trường
quản lý việc phát hành. Hầu hết các nhà bao tiêu, cùng với các ngân hàng khác, sẽ là
một phần của một nhóm chuyên bán trái phiếu vào thị trường đầu tư công chúng. Rất
nhiều thành viên của nhóm bao tiêu sẽ nhận được một phần chia của phí bao tiêu
(thường là từ 2% đến 2.5% của lượng phát hành), dựa trên số lượng và loại trái phiếu.
Nhà quản lý chính sẽ nhận được đầy đủ phí bao tiêu, và ngân hàng hoạt động chỉ như
là thành viên của một nhóm bán trái phiếu thì nhận được phần nhỏ hơn.
1.3 RỦI RO QUỐC GIA
1.3.1 Khái niệm rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là rủi ro mà các điều kiện và các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội sẽ
ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của một quá trình đầu tư. Rủi ro quốc gia cũng bao gồm
là khả năng quốc hữu hóa hay sung công tài sản, sự từ chối trả nợ nước ngoài của chính
phủ, việckiểm soát ngoại hối, sự đánh giá thấp tiền tệ hay mất giá, phá giá tiền tệ.
1.3.2 Các thành phần của rủi ro quốc gia
1.3.2.1 Theo STANDARD & POOR’S (S & P)
Hiện nay trên thế giới có nhiều tổ chức có uy tín trong việc xếp hạng tín nhiệm nhằm

Thứ tự Nội dung Điểm (tối đa)
A
Sự ổn định của chính quyền 12
B
Điều kiện kinh tế xã hội 12
C
Tiểu sử đầu tư 12
D
Xung đột bên trong 12
E
Xung đột bên ngoài 12
F
Sự tham nhũng 6
G
Sự tinh nhuệ của quân đội 6
H
Tình trạng tôn giáo 6
I
Luật pháp 6
J
Sự căng thẳng dân tộc 6
K
Tính dân chủ 6
L
Nạn quan liêu 4
Tổng cộng 100
(Nguồn: ICRD Methodology)
Bảng 2: Các thành phần trong Rủi Ro Kinh Tế
Thứ tự Nội dung Điểm (tối đa)
1 GDP bình quân đầu người 5

- Chỉ xếp sau AAA
- Khả năng trả nợ gốc và lãi rất cao

A

- Là thứ hạng được đánh giá là có khả năng thanh toán gốc
và lãi vay mặc dù nó cũng có phần chịu ảnh hưởng bởi
những thay đổi bất lợi trong những điều kiện kinh tế,

BBB

- Là thứ hạng được đánh giá là có khả năng thanh toán gốc
và lãi vay.
- Nhưng ở một khía cạnh nào đó, khi môi trường hoặc kinh
tế thay đổi theo chiều hướng xấu thì khả năng trả nợ của
nó trở nên yếu đi so với các thứ hạng trên.

BB, B
CCC, C

- Là các thứ hạng được đánh giá có tính chất đầu cơ.
- BB là thứ hạng đầu cơ thấp nhất
- CC là thứ hạng đầu cơ thấp nhất
- Tuy những khoản nợ này có những nét đặc trưng phù hợp
vế chất lượng và khả năng được bảo vệ nhưng các thứ
hạng này có mức độ không chắc chắn và rủi ro cao khi
hoàn cảnh thay đổi trở nên bất lợi.

C


Rủi ro vừa phải 60. đến 69.5 điểm
Rủi ro thấp 70.0 đến 79.5 điểm
Rủi ro rất thấp 80.0 đến 100 điểm

(Nguồn: ICRD Methodology)
1.3.4 Mối liên hệ giữa phát hành trái phiếu quốc tế với rủi ro quốc gia

Khi nói đến vay nợ dù ở một mức độ thấp nhất là giữa hai cá thể thì người cho vay
luôn cân nhắc giữa hai lựa chọn là cho vay hay không cho vay thông qua uy tín, khả
năng trả nợ của người đi vay kể cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, lãi suất đi vay
và đặc biệt là sự đánh đổi giữa rủi ro và lãi suất. Một khi muốn phát hành trái phiếu
quốc tế thành công thì việc đầu tiên phải kể đến là hệ số tín nhiệm vì hệ số tín nhiệm
tạo nên sự hấp dẫn của trái phiếu. Nếu hệ số ấy càng cao thì càng tạo được sự tin tưởng
của nhà đầu tư, cũng như dựa trên sự đánh giá này mà các nhà đầu tư mới hình thành
nên giá thị trường, lãi suất thực của trái phiếu, hệ số tín nhiệm càng cao thì lãi suất
càng thấp và ngược lại. Ngoài ra, hệ số tín nhiệm còn được dùng để đánh giá về khả
năng thanh toán nợ (cả gốc và lãi) hiện thời của người phát hành. Các nhà đầu tư dựa
vào hệ số tín nhiệm mà biết được mức độ rủi ro của các khoản cho vay của mình. Tuy
nhiên, muốn hình thành nên các hệ số tín nhiệm cần phải dưa trên các yếu tố của môi
trường chính trị, kinh tế, tài chính của một quốc gia. Các yếu tố này kết hợp lại đã trở
nên các thành phần của rủi ro quốc gia. Các thành phần trong rủi ro quốc gia có sự liên
kết với nhau và không thể tách rời, vì khi đi vay nợ sẽ đẩy tổng nợ của nước đó tăng
lên và làm nảy sinh các vấn đề khác như cơ cấu và quy mô nợ sẽ thay đổi, việc kiểm
soát nợ, việc sử dụng các nguồn vốn từ các khoản vay này như thế nào để đạt được
mục tiêu đề ra trước khi đi vay, khả năng thanh toán nợ. Nếu nguốn vay nợ này được
sử dụng có hiệu quả thì dù vay nợ nhiều để phát triển thì đó vẫn là những khoản nợ tốt.
Chúng không làm gia tăng rủi ro quốc gia mà trái lại còn làm cho nền kinh tế nước đó
tăng thêm sức mạnh. Nhưng ở chiều ngược lại, những sai lầm trong việc vay nợ tràn
lan, việc phân bổ không đúng các khoản vay trong đầu tư phát triển, sẽ đưa đến sự lỗi
hẹn trong thanh toán và có thể là mất khả năng trả nợ khi đến hạn. Lúc đó tình trạng vỡ

các khoản lãi vay phải thanh toán hàng năm lên quá cao đưa đến tình trạng phải vay nợ
mới để trả nợ cũ. Đứng trước tình hình đó, vào đầu những năm 90, Trung Quốc đã có
những điều chỉnh trong chính sách vay nợ theo hướng vừa phát triển đất nước vừa
không quá phụ thuộc vào nước ngoài. Các điều chỉnh đó như sau:

- Nếu trước kia họ đặt trọng tâm vấn đề vay trực tiếp từ các tổ chức như Ngân
hàng thế giới hay các quốc gia khác thì nay Trung Quốc chuyển hướng vay nợ
sang hình thức phát hành trái phiếu quốc tế với thời hạn của các khoản vay
thường là trung và dài hạn.
- Trung Quốc chú trọng tới hình thức vay theo dự án, không vay để bù đắp nợ cũ,
các khoản vay chủ yếu tập trung vào những ngành cơ sở hạ tầng như năng
lượng, giao thông hoặc đầu tư vào các dự án then chốt của ngành công nghiệp,
nông nghiệp, xây dựng, các dự án phát triển khoa học kỹ thuật.
- Chú trọng đến quy mô các khoản vay, tỷ lệ hoàn trả nợ từ 15-20%/năm, các
khoản nợ vay được quy về cho đối tượng tự thanh toán, nhà nước không can
thiệp vào.
- Nếu nguồn vốn vay trong giai đoạn trước được đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng
ở các thành phố mới thành lập hoặc các đặc khu kinh tế thì nay được tập trung
đầu tư vào miền Tây hoặc miền Trung.

Nhờ những điều chỉnh kịp thời đó mà Trung Quốc đã tránh được rủi ro nợ khi xảy ra
cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực, các chỉ tiêu về nợ nước ngoài của họ luôn
thấp hơn mức độ an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, đã có những lỗ hổng trong sự quản lý nợ nước ngoài của Trung Quốc vào
cuối thập niên 90 do sự vỡ nợ của các doanh nghiệp, các công ty tài chính khi họ vay
vượt ngoài tầm kiểm soát đã làm cho Trung Quốc ngày càng có sự thận trọng hơn
trong khi đi vay nợ nước ngoài. Nói chung, với chính sách vay nợ hợp lý cùng với
những điều chỉnh kịp thời khi xảy ra các biến cố trong vay nợ kết hợp với sự thận trọng
trong việc mở cửa tài khoản vốn đã giúp Trung Quốc thành công khi đạt được những

khu vực nông lâm nghiệp chỉ chiếm 8,15% do phải đối phó với nhiều dịch bệnh như
lợn tai xanh, lở mồm long móng ở trâu bò, dịch cúm ở gia cầm, các loại bệnh ở cây
trồng. Bên cạnh đó, chỉ mới hơn 4 tháng đầu năm 2008 mà Việt Nam và các vùng biển
ngoài khơi đã liên tiếp hứng chịu nhiều cơn bão lớn làm tiêu hao rất nhiều tài sản và
con người.

2.2.1 Xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu luôn là một nguồn phần quan trọng trong nền kinh tế và trong giai
đoạn 1996-2005 kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam luôn tăng đều đặn. Ta có thể
thấy rõ hơn điều đó qua bảng sau:

Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa 1995-2005
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
%
tăng
BQ 1
năm
(96-
05)
Kim ng
ạch xuất
khẩu HH (tỷ USD)
5,45 7,25 9,19 9,36
11,54 14,48 15,03
16,71 20,15 26,49 32,45
20,1

0
200
1
200
2
200
3
200
4
200
5
Hàng công nghiệp nặng
và khoáng sản (%)
25,3

28,7

28,0

27,9

31,0

37,2

34,9

31,8

32,2

Trích đoạn Tại sao Tồng công ty Công Nghiệp Tàu Thủy Việt Nam Vinashin lạ Lịch sử nợ quốc gia và khả năng chịu đựng nợ nước ngoài của Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status