1
Luận văn
Du lịch sinh thái- bí quyết để
phát triển bền vững
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST)
nói riêng đã và đang phát triển nhanh chống trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt,
trong những năm gần đây DLST như một hiện tượng và xu thế phát triển ngày
càng chiếm được sự quan tâm của các nước trên thế giới. Bởi đó, không chỉ là
một loại hình du lịch thiên nhiên hấp dẫn mà còn là du lịch có trách nhiệm,
hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa,
phát triển cộng đồng, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng và
phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng có tính
chất toàn cầu của DLST đối với bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn
hóa bản địa của các dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội nên ngày du lịch thế
giới 27-9-2002 được Tổ chức Du lịch thế giới chọn chủ đề “Du lịch sinh thái-
đặc thù, du lịch có trách nhiệm với môi trường thiên nhiên và môi trường xã
hội, được du khách quốc tế và trong nước rất quan tâm.
Tỉnh Kiên Giang nằm trong vùng Tây Nam Bộ - một trong những khu
vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch của Việt Nam. Tỉnh Kiên Giang
được thiên nhiên ưu đãi: Có rừng, có biển, có hải đảo có đồi núi, đồng bằng,
danh lam thắng cảnh đẹp và hệ sinh thái phong phú; tiềm năng kinh tế tương
đối đa dạng, đã tạo ra một lợi thế về du lịch rất lớn. KDTSQ của tỉnh Kiên
Giang được UNESCO công nhận là KDTSQ thế giới (năm 2006). Đó là điều
kiện thuận lợi để tỉnh Kiên Giang đẩy mạnh phát triển du lịch nói chung và
DLST nói riêng.
Lịch sử Kiên Giang gắn liền với truyền thống cách mạng anh hùng của
cả nước, có đường biên giới dài, nơi đây là căn cứ cách mạng, sản sinh ra
nhiều anh hùng dân tộc. Chính điều này tạo ra lợi thế về du lịch.
4
Đại hội Đảng bộ Tỉnh Kiên Giang lần thứ VIII đã khẳng định: Tập
trung đầu tư ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển nhanh
và bền vững. Thực hiện nghị quyết của Tỉnh Ủy về phát triển Phú Quốc thành
khu DLST chất lượng cao của cả nước và khu vực, đồng thời phát triển đồng
bộ các vùng du lịch trọng điểm khác của tỉnh [7, tr.55-56].
Du lịch nói chung và DLST nói riêng được Tỉnh xác định là ngành kinh
tế mũi nhọn, lợi thế so sánh quan trọng, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua, du lịch của tỉnh Kiên Giang đã phát triển nhanh
chống và ngày càng thu hút thêm nhiều du khách nội địa quốc tế. Tiềm năng
du lịch của tỉnh Kiên Giang đặc biệt là biển, đảo, rừng, cảnh quan thiên
nhiên… đã từng bước khai thác có hiệu quả. Thực tế cho thấy, tiềm năng
Thuận”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Dụng Văn Duy (2004) Luận văn nói rõ
đặc điểm, vai trò của du lịch trong sự phát triển kinh tế, các nhân tố tác động
đến du lịch trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
- “Phát triển du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế
của Trần Quốc Nhật (1996) luận văn làm rõ tính tất yếu khách quan và vai trò
của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- “Kinh tế du lịch ở Thanh Hóa, thực trạng và giải pháp phát triển”,
Luận văn thạc sĩ kinh tế Nguyễn Thị Hồng Lâm (2005).
- “Phát triển du lịch ở An Giang”, Luận văn thạc sĩ kinh tế của Bùi Thị
Hằng (1999)
- “Phát triển du lịch Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế”, luận văn tốt nghiệp cao cấp lý
luận chính trị của Lê Mai Khanh (2005).
Tỉnh Kiên Giang có một số đề tài nghiên cứu du lịch:
“Khai thác tiềm năng du lịch đảo Phú Quốc Tỉnh Kiên Giang”, Luận
văn thạc sĩ kinh tế của Huỳnh Vĩnh Lạc (2005).
6
Ngoài ra, còn có quy hoạch tổng thể phát triển ngành thương mại – du lịch
của Tỉnh đến năm 2010, Quy hoạch phát triển du lịch ở đảo Phú Quốc, Hà Tiên,
Hòn Đất, Kiên Lương, định hướng phát triển du lịch ở U Minh Thượng…
Tuy nhiên, đó là định hướng phát triển du lịch ở từng vùng, ngành khác
nhau, việc đi sâu nghiên cứu vai trò, đánh giá thực trạng DLST ở Tỉnh Kiên
Giang thì vẩn còn mới mẽ, ít người nghiên cứu. Là một công trình khoa học
được nghiên cứu trên cơ sở kế thừa nhiều công trình nghiên cứu trước đó, nhưng
được vận dụng vào địa bàn mới. Đây là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn còn sử dụng phương pháp trong nghiên cứu kết hợp lý luận
với thực tiễn, phân tích, thống kê, tổng hợp, lôgic-lịch.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích rõ vai trò, đánh gia đúng tiềm năng DLST đề ra các
giải pháp để tiếp tục phát triển DLST ở tỉnh Kiên Giang.
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng
các kế hoạch phát triển DLST ở tỉnh Kiên Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.
8
vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội DLST Quốc tế đưa ra
năm 1991: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các
vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người
dân địa phương” [16, tr.11].
10
Định nghĩa này đề cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, giữ gìn, tôn tạo,
tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cuộc
sống của cư dân địa phương.
Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Du
lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên
hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các
loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng
đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó" [16, tr.11].
Ở định nghĩa này, cũng đề cập đến hoạt động của DLST, đó là các khu
vực tự nhiên hoang dã và điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu
cực đối môi trường tự nhiên, mang lại những lợi ích kinh tế cho cộng cư dân
địa phương, những người bản địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch.
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organisation):
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những
khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để
chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu
vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu
vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng
góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển
những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời
phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác
nội dung, tính chất, mục đích của DLST.
Xét trên phạm vi nghiên cứu có thể cho rằng: Du lịch sinh thái phản ánh
mối quan hệ tích cực của con người với tự nhiên. Trong đó con người hòa nhập
vào tự nhiên, biến mình thành một bộ phận của tự nhiên, vừa khai thác tự
nhiên, hưởng dụng vẽ đẹp, lợi ích của tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng
ngoạn của mình, đồng thời nuôi dưỡng và phát triển tự nhiên, bảo đảm cho con
người và tự nhiên một cuộc sống trường tồn.
12
Theo đó, du dịch sinh thái là hình thức phát triển du lịch bền vững. Nội
dung hoạt động diễn ra trong môi trường thiên nhiên, không chỉ là loại hình du
lịch thiên nhiên hấp dẫn, mà còn là du lịch có trách nhiệm, hỗ trợ các mục tiêu
bảo vệ môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng và
có tính giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, duy
trì các nguồn tài nguyên du lịch, tiến tới phát triển bền vững. Mục đích lớn nhất
của DLST là góp phần tăng trưởng kinh tế, xã hội của quốc gia và địa phương.
Đây có thể coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển của DLST.
Phát triển du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái là những mặt bổ
sung cho nhau của cùng một chương trình hành động. Phát triển du lịch phải
đi liền với bảo vệ môi trường. Nếu không bảo vệ được môi trường sinh thái
thì du lịch sẽ không phát triển. Do đó phát triển DLST tương đồng với phát
triển du lịch bền vững. Nếu không phát triển du lịch theo hướng bền vững
thì việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại. Do đó, vừa phải tuân theo xu hướng
phát triển du lịch đồng thời phải bảo vệ môi trường sinh thái. Bên cạnh đó,
DLST còn đóng vai trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội của
quốc gia và địa phương.
Tóm lại, DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi
- Các đặc trưng xuất phát từ tạo lập các sản phẩm DLST
Quá trình tạo lập sản phẩm DLST phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và công
phu, mang tính thẩm mỹ cao. Việc xây dựng nhà nghỉ sinh thái, sản xuất hàng
lưu niệm đòi hỏi phải có thời gian và đáp ứng được các tiêu chí. Tiêu chí
của DLST là khai thác tối đa nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng không
làm tổn hại đến tài nguyên để tạo ra hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu du
khách. Chính vì vậy, việc tạo lập sản phẩm DLST tốn nhiều thời gian, phải
chuẩn bị kỹ lưỡng để tạo ra những sản phẩm đặc thù.
Tạo lập sản phẩm du lịch không theo ý muốn chủ quan của những
người kinh doanh dịch vụ mà phải theo quy định chung nhằm tạo ra sự đồng
bộ, đảm bảo cảnh quan môi trường. Việc xây dựng cơ sở lưu trú, phương tiện
vận chuyển khách du lịch phải theo quy hoạch thống nhất đảm bảo cảnh quan
thiên nhiên, không làm tổn hại đến môi trường sống xung quanh.
14
Hướng dẫn viên đòi hỏi phải có chuyên môn, đồng thời là tuyên truyền
viên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái, phải có kiến thức hiểu biết sâu
rộng trong nhiều lĩnh vực như: kiến thức văn hóa dân tộc, am hiểu về tài nguyên
thiên nhiên, động thực vật, ý thức cao trong bảo vệ môi trường,
- Các đặc trưng xuất phát từ tiêu dùng sản phẩm DLST
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm DLST trùng nhau
về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa
thông thường khác. Do vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là
khó khăn. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm DLST là vấn đề
vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch.
Việc tiêu dùng sản phẩm DLST thường không diễn ra điều đặn, mà có thể
tập trung vào những thời điểm nhất định trong ngày (đối với dịch vụ lưu trú, nhà
Tạo lập các sản phẩm DLST ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch.
DLST là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. DLST còn
có mối liên hệ mật thiết với địa điểm mà khách du lịch có ý định tới thăm quan
là cảnh quan quan thiên nhiên tươi đẹp, môi trường trong lành, sự đa dạng, đặc
sắc của văn hoá truyền thống bản địa, ngành nghề truyền thống. Tài nguyên
của DLST gồm: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn hai yếu tố này
gắn kết với nhau tạo nên sự hấp dẫn của DLST.
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức hoạt động, phạm vi
cũng như cơ cấu và chuyên môn của khu, điểm DLST. Với mỗi loại tài
nguyên có thể tổ chức loại hình du lịch với những đặc trưng riêng, loại hình
riêng để phục vụ các nhu cầu và mục đích khác nhau của du khách.
Quy mô hoạt động du lịch được xác định trên cơ sở khối lượng, chất
lượng nguồn tài nguyên du lịch. Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm
của DLST và nó cũng tham gia vào việc tạo ra tính mùa vụ trong hoạt động du
lịch, quyết định tính nhịp điệu của dòng khách, thị trường khách du lịch.
Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển DLST. Thực tế cho
thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp
16
dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. DLST là loại hình du
lịch gắn liền với thiên nhiên và môi trường nên nguồn tài nguyên lại càng quan
trọng hơn và cũng có nguy cơ thường xuyên bị đe dọa xâm hại và tàn phá.
Muốn phát triển DLST một cách bền vững thì một hoạt động mang tính nguyên
tắc là việc khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài nguyên.
Một quốc gia, một khu vực được du khách quan tâm chỉ khi ở đó có
nguồn tài nguyên về du lịch phong phú, hệ động, thực vật đa dạng được bảo
tồn và phát triển, môi trường thiên nhiên trong lành, môi trường văn hóa xã
liên lạc là một khâu quan trọng đối với phát triển du lịch nói chung và phát triển
DLST nói riêng. Mặc dù, muốn tách khỏi sự ồn ào của đời sống đô thị công
nghiệp tuy nhiên du khách vẫn cần có thông tin liên lạc để liên lạc với người
thân, bạn bè và giải quyết công việc làm ăn.
Những nơi có điều kiện cho phát triển DLST thường nằm ở vùng
sâu, vùng xa việc đi lại thường gặp nhiều khó khăn, vì vậy đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng để du khách có thể đến được những điểm thăm quan là rất
cần thiết. Tuy nhiên, nếu việc quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng không
hợp lý và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan môi trường. Việc
lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân thiện với môi
trường là vô cùng quan trọng. Hệ thống giao thông phải được thiết kế để
chống xói mòn và đảm bảo nơi cư trú cho động thực vật. Triệt để sử dụng
các thiết bị tiết kiệm năng lượng. Các thiết bị xử lý chất thải, nước thải
phải được sử dụng phù hợp, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nơi vui chơi giải
trí là những hạng mục cơ sở hạ tầng cần được đặc biệt coi trọng về mặt
thiết kế cũng như việc sử dụng vật liệu xây dựng và địa điểm xây dựng…
Đó là yêu cầu quan trọng không chỉ đảm bảo cho sự phát triển DLST bền
vững mà còn có cả ý nghĩa kinh tế xã hội. Xây dựng cơ sở vật chất đảm
bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan cùng
với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng của DLST.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng sản phẩm du lịch sinh thái
Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá: Đây là một khâu quan trọng trong
quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch, phát triển và xây dựng thương hiệu,
18
hình ảnh. Đối với DLST việc tuyên truyền quảng bá và hoạt động xúc tiến
thương mại còn quan trọng hơn.
19
hay một kế sinh nhai của mình và họ biết cách để bảo vệ, kiểm soát việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên để tránh đi tình trạng tàn phá tài nguyên.
Lao động là yếu tố quan trọng trong tiêu dùng sản phẩm và phát triển
DLST. Lao động làm việc trong các đơn vị này ngoài những kiến thức về
chuyên môn nghiệp vụ, họ còn phải là các chuyên gia về môi trường, sự hiểu
biết sâu rộng về hệ động, thực vật tại khu vực mà họ làm việc, giảng giải
thuyết minh cho khách tham quan.
Rõ ràng vai trò của dân cư và ngồn nhân lực là rất quan trọng, phải có những
chiến lược để quy hoạch dân cư và phát triển nguồn nhân lực một cách khoa học có
như vậy mới đảm bảo cho DLST đi đúng hướng và phát triển bền vững.
Việc tạo ra và tiêu dùng sản phẩm DLST ngay tại chỗ, tức là thời điểm
sản xuất và tiêu thụ diễn ra liền kề tại một địa điểm. Do đó, để tạo ra ăn khớp
giữa sản xuất và tiêu dùng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc thu hút khách du
lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch. Sản
phẩm DLST là các hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu của du khách, do đó
việc tiêu dùng cũng bị giới hạn bởi không gian và thời gian, chất lượng sản
phẩm. Nhu cầu tiêu của khách du lịch đa dạng, tiêu dùng sản phẩm DLST có
tính đa chức năng. Chính vì vậy, việc tiêu dùng sản phẩm DLST cũng bị ảnh
hưởng đến chất lượng sản phẩm DLST.
Ngoài ra, trong quá trình tiêu dùng sản phẩm DLST không mất đi nó
vẫn tồn tại. Đặc điểm này cho thấy, nếu dùng công cụ điều tiết lượng cung
ứng sản phẩm ra thị trường thì không thể có tác động nhanh chống như các
hàng hóa khác.
Tiêu dùng sản phẩm DLST củng bị ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu và
mùa vụ.
Trước hết đa số khách DLST là những người có tuổi, trình độ văn hóa,
thu nhập cao, thường họ đi du lịch vào những kỳ nghỉ cùng với gia đình, bạn
bè. Nếu thời tiết, khí hậu và mùa vụ không phù hợp thì ảnh hưởng đến tiêu
dùng sản phẩm DLST. Ngoài ra, do đặc trưng của tiêu dùng sản phẩm DLST
phù hợp cho du lịch tắm biển. Loại hình này được những người có thu nhập
cao ưa thích và có thể lưu lại dài ngày.
- Hai là: Du lịch núi và hang động: là loại hình du lịch mà du khách
khám phá các đỉnh núi cao, hang động huyền ảo, ngắm phong cảnh, chim thú
lạ…Do tính độc đáo loại hình du lịch này rất thích hợp cho du lịch tham quan,
21
nghỉ núi, khám phá núi và hang động, cắm trại, mạo hiểm rất thích hợp
những du khách ưa thích cảm giác mạnh.
- Ba là: Du lịch rừng sinh thái thiên nhiên: là oại hình du lịch mà du
khách tham quan hệ sinh thái thiên nhiên hoang dã, ngắm phong cảnh, xem
chim, thú và hưởng dụng các sản phẩm của rừng cung cấp như: cá, thú… Hệ
sinh thái thiên nhiên điển hình là Vườn quốc gia, KDTSQ. Đây là một khu
vực thiên nhiên hoang dã có đặc điểm nổi bậc về hệ sinh thái và các loài
động, thực vật được bảo vệ để duy trì đảm bảo phát triển bền vững.
Hệ sinh thái Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những vùng có
sức cuốn hút lớn đối với khách du lịch. Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên được xây dựng nhằm ngăn chặn việc khai thác quá mức đời sống hoang
dã và cảnh quan môi trường. Do tính độc đáo của nó, cho nên rất thuận lợi
cho phát triển các loại hình du lịch như: du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, giải
trí ngoài trời, tìm hiểu thiên nhiên hoang dã, giáo dục, văn hóa, du lịch khám
phá, cấm trại, về nguồn, xem chim thú, câu cá, đi bộ trong rừng,…
Loại hình du lịch này có khả năng thu hút người có thu nhập, trình độ
cao, những người làm việc bận rộn, căn thẳng, người thành thị họ muốn
thưởng thức cuộc sống yên tỉnh, môi trường trong lành, tiềm hiểu lịch sử,
nghiên cứu khoa học Đây là hình thức tồn tại đặc trưng của DLST. Loại hình
này khuyến khích phát triển nhà nghỉ sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, chống ô
1.2.1. Vai trò của du lịch sinh thái với vấn đề phát triển kinh tế
1.2.1.1. Vai trò của du lịch sinh thái trong tích luỹ vốn cho phát triển
nông nghiệp và công nghiệp
DLST có tác động tích cực góp phần làm tăng trưởng kinh tế của các
quốc gia. DLST đạt hiệu quả kinh tế cao là nguồn thu đáng kể cho ngân sách
nhà nước và được xem là ngành “công nghiệp không khói”, “xuất khẩu tại
chỗ” đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn góp phần tăng nhanh nguồn thu cho vùng
du lịch, thông qua tiêu dùng sản phẩm du lịch và xuất khẩu hàng hóa.
Tổ chức du lịch thế giới tổng kết trong vòng 40 năm (1950-1991) Số
tiền các nước thu được do tiếp nhận khách du lịch tăng 57,4 lần (từ 2,1 tỷ
USD lên 278 tỷ USD). Chi tiêu bình quân của một khách du lịch quốc tế đã
tăng từ 80 USD năm 1950 lên 681 USD năm 1991. Tốc độ tăng trưởng bình
23
quân của du lịch quốc tế hàng năm 7% lượng khách và 11% về thu nhập, chiếm
6,5% tổng sản phẩm quốc dân và bằng 1/3 doanh thu khối dịch du toàn cầu.
Thông qua tiêu dùng sản phẩm DLST, tác động đến lĩnh vực lưu thông
và xuất hiện “cung - cầu” hàng hoá, dịch vụ. Lượng khách càng nhiều thì nhu
cầu hàng hoá, dịch vụ càng lớn. Hàng hóa dịch vụ bao gồm vô hình và hữu
hình. Chính vì vậy, nó tác động mạnh đến các lĩnh vực, các ngành kinh tế như
công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, Lượng khách đến
điểm du lịch sẽ tiêu thụ một lượng hàng hoá lớn dưới dạng các món ăn, đồ
uống, hàng lưu niệm…tạo cho ngành nông nghiệp phát triển, giúp cho địa
phương có được nguồn thu ngoại tệ tại chỗ với hiệu quả cao. Nông nghiệp
phát triển kéo theo công nghiệp phát triển để sản xuất ra những mặt hàng
phục vụ cho nhu cầu của khách như: Công nghiệp chế biến, bảo quản,…Việc
xuất khẩu thông qua khách du lịch sẽ có lợi hơn rất nhiều vì bán giá nội địa,
triển DLST. Đồng thời, DLST phát triển tác động trở lại thúc đẩy kinh tế phát
triển nhanh hơn, thực hiện phân công lại lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ,
nâng cao thu nhập xã hội, cải thiện đời sống con người.
Phát triển DLST thu hút một lượng lao động lớn tham gia trực tiếp và
gián tiếp vào các hoạt động phục vụ khách du lịch. Trong đó, thu nhập từ các
hoạt động phục vụ khách du lịch như: lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên, các
hàng hoá mỹ nghệ mang tính chất đặc thù của địa phương chiếm tỷ trọng lớn.
Điều này, làm cho đời sống của cư dân địa phương ngày càng được cải thiện
và đảm bảo có một mức sống tốt hơn.
Nhiều nước trên thế giới phát triển du lịch thu hút một lượng lao động
rất lớn. Đơn cử như việc phục vụ khách sạn du lịch bình quân ở châu Âu cứ 1
phòng sử dụng 1 đến 1,2 lao động; Đặc biệt, có những đảo du lịch huy động
lực lượng lao động từ 30-35% lao động ở địa phương. Theo số liệu của Tổ
chức Du lịch thế giới toàn ngành du lịch thế giới đã tạo ra trên 200 triệu chỗ
làm việc, thu hút được 10,2% lực lượng lao động toàn cầu. Dự kiến đến năm
25
2010 sẽ tạo thêm 150 triệu chỗ làm. Ở nước ta, tại các cơ sở lưu trú du lịch, tỷ
lệ lao động bình quân từ 1,2 đến 1,7 người/phòng với mức thu nhập hiện nay
khoảng từ tám trăm đến 1,5 triệu đồng/tháng. Mức thu nhập gián tiếp trung
bình khoảng sáu trăm đến 1,2 triệu đồng/tháng.
Phát triển DLST còn được coi là một giải pháp để thúc đẩy chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn và phát triển nền kinh tế hàng hoá
với các ngành nghề đa dạng, đưa tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ
tăng nhanh.
Khách DLST ngoài việc đi du lịch họ còn có những nhu cầu thưởng