LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập
khẩu thiết bị phát thanh truyền hình của Công
ty Phát triển Công nghệ và Truyền hình
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, bởi vậy vai trò của xuất nhập khẩu là rất lớn. Trong đó nhập khẩu giữ vai trò
quan trọng vì nó sẽ cung cấp những yếu tố cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tiên tiến và đồng bộ. Hơn nữa, nhập
khẩu cũng giúp cho quá trình công nghiệp hoá tiếp cận nhanh hơn, dễ dàng hơn với
những công nghệ tiên tiến trên thế giới và tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu của nền kinh tế theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Không những thế,
nhập khẩu còn cung cấp các nguồn nguyên liệu cho quá trình sản xuất, thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu hàng hoá… Bên cạnh đó, trong những năm gần đây Việt Nam
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU
THIẾT BỊ PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH CỦA DOANH
NGHIỆP KINH DOANH NHẬP KHẨU
I. HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA KINH DOANH NHẬP
KHẨU THIẾT BỊ PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH
1. Khái niệm về nhập khẩu thiết bị phát thanh truyền hình
Hoạt động nhập khẩu có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu, nó là
phương thức phổ biến nhất để thâm nhập thị trường quốc tế. Hiện nay, các quốc
gia ngày càng có sự liên kết chặt chẽ vào nhau, điều này thể hiện qua kim ngạch
thương mại quốc tế của từng quốc gia và của cả nền kinh tế thế giới. Hoạt động
thương mại quốc tế bao gồm hai hoạt động cơ bản là hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu. Trong đó, nhập khẩu là chiếc cầu nối thể hiện sự gắn bó mật thiết và phụ
thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác.
Theo luật thương mại 2006 thì "nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được
đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh
thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật".
Theo cách hiểu nhập khẩu như trên thì hoạt động nhập khẩu thiết bị phát
chứng từ, phương thức thanh toán đối lưu. Trong đó phổ biến nhất hiện nay là
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
- Để tránh các rủi ro về hối đoái, ngoại tệ được dùng trong thanh toán của
các giao dịch nhập khẩu thường là các ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi cao
như: USD, EURO…
- Điều kiện giao hàng phổ biến nhất được các bên thoả thuận và sử dụng
trong hoạt động nhập khẩu là các điều kiện FOB và CIF…Trong quá trình vận
chuyển có thể xảy ra những rủi ro về hàng hoá. Do đó để đề phòng và giảm thiểu
những thiệt hại do rủi ro gây ra, các bên có thể thoả thuận mua bảo hiểm cho hàng
hoá, chi phí bảo hiểm do người nhập khẩu hay người xuất khẩu trả tuỳ theo các
điều kiện thoả thuận trong hợp đồng.
Khác với các loại hàng hoá thông thường khác, các thiết bị phát thanh truyền
hình đòi hỏi mức độ kỹ thuật và trình độ công nghệ cao, có những thiết bị liên
quan trực tiếp đến vấn đề an ninh quốc gia và bảo mật thông tin, đó là những thiết
bị thu phát sóng như máy thu phát sóng không dây do vậy mà việc nhập khẩu các
thiết bị này phải chịu sự quản lý của cục tần số - Bộ Bưu chính Viễn thông.
Một đặc điểm nổi bật khác của việc nhập khẩu các thiết bị phát thanh truyền
hình hiện nay ở Việt Nam là chưa có truyền hình tư nhân, hầu như thiết bị truyền
hình phải mua bằng tiền của Nhà nước, các đài truyền hình sử dụng vốn ngân sách
Nhà nước là chủ yếu.
3. Các hình thức nhập khẩu thiết bị phát thanh truyền hình
Có nhiều cách phân loại hình thức nhập khẩu, ta có thể phân loại theo một
số tiêu thức sau:
3.1. Theo sự quản lý của Nhà nước
- Nhập khẩu uỷ thác: là hình thức nhập khẩu trong đó các đơn vị kinh doanh
có nhu cầu hàng hoá nhưng không có quyền hay không có khả năng nhập khẩu trực
tiếp như không có quota nhập khẩu hoặc không có kinh nghiệm nhập khẩu… nên
công ty uỷ thác cho một công ty khác tiến hành nhập khẩu theo nhu cầu của đơn vị
mình. Bên nhận uỷ thác sẽ đứng ra tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài để
Cho phép doanh nghiệp thiết lập mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với nhà
cung ứng.
Giảm các chi phí trung gian, nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Hiệu quả hoạt động nhập khẩu sẽ được nâng cao do hai bên giao dịch trực
tiếp nên dễ dàng thống nhất, ít xảy ra hiểu lầm sai sót đáng tiếc.
Hạn chế:
Khối lượng giao dịch phải đủ lớn để bù đắp được chi phí phát sinh trong
giao dịch trực tiếp như chi phí giấy tờ đi lại, khảo sát thị trường.
Doanh nghiệp phải đủ tiềm lực về tài chính cũng như có nguồn nhân lực có
trình độ và kinh nghiệm thì mới có khả năng thực hiện thành công hoạt động nhập
khẩu này.
- Nhập khẩu gián tiếp: là hình thức thông qua các trung tâm thương mại,
trung tâm môi giới nhập khẩu tức là thông qua trung gian thương mại.
Hình thức nhập khẩu này có những ưu điểm và hạn chế gần giống như hình
thức nhập khẩu uỷ thác.
- Tạm nhập tái xuất: là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các
khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng
theo quy định của pháp luật vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá
đó ra khỏi Việt Nam.
3.3. Theo khối lượng hàng hoá nhập khẩu
- Nhập khẩu tiểu ngạch: Thường áp dụng với hàng hoá không chịu sự quản
lý của Nhà nước. Về thủ tục hành chính, hàng hoá nhập khẩu tiểu ngạch phải làm
thủ tục kê khai hải quan và đóng thuế tiểu ngạch do Bộ Tài chính quy định và ban
hành thống nhất trong cả nước. Nhập khẩu tiểu ngạch chính là nhập khẩu hàng hoá
qua biên giới với khối lượng từng đợt nhỏ.
- Nhập khẩu chính ngạch: Là phương thức nhập khẩu chịu sự quản lý của
Nhà nước trực tiếp thông qua Bộ Thương mại. Nhập khẩu chính ngạch mang tính
chất kinh doanh lớn, có thị trường ổn định.
4. Vai trò của hoạt động nhập khẩu thiết bị phát thanh truyền hình ở doanh
lựa chọn phong phú cả về chủng loại, giá cả và chất lượng cho Công ty.
- Là nguồn cung cấp hàng hoá đầu vào cho Công ty bán ra tại thị trường
trong nước.
- Là nguồn cung cấp và trang bị cho Công ty các công nghệ sản xuất tiên
tiến, hiện đại và hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các hoạt động nhập khẩu như Công
ty Phát triển Công nghệ và Truyền hình thì vai trò của hoạt động nhập khẩu càng
được thể hiện rõ hơn. Bởi vì nhập khẩu để tạo ra nguồn đầu vào phục vụ nhu cầu
trong nước, nhất là đối với các thiết bị yêu cầu công nghệ hiện đại. Trong những
năm qua, nhờ sự lựa chọn đối tác hợp lý trong hoạt động nhập khẩu mà lợi nhuận
nhập khẩu của Công ty ngày một tăng cao, dần nâng cao được vị thế của Công ty,
đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu hàng đầu của Công ty giai đoạn này là mục tiêu thế
lực.
II. HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU THIẾT BỊ PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH
CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHẬP KHẨU
1. Hiệu quả và phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị phát thanh
truyền hình
1.1. Quan niệm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị phát thanh truyền
hình
Trong điều kiện hiện nay việc đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh
doanh nhập khẩu là mối quan tâm của bất kỳ nền kinh tế nào nói chung và của mỗi
doanh nghiệp nói riêng. Hiệu quả kinh tế được thẩm định bởi thị trường, là tiêu
chuẩn cơ bản để xác định phương hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cần phải xác định đúng bản chất hiệu quả kinh doanh nhập khẩu để làm cơ sở cho
việc xác định các tiêu chuẩn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nhập khẩu của doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Hiệu quả của hoạt động nhập khẩu là phần lợi ích tài chính thông qua hoạt
động nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp, về mặt hình thức là một
đại lượng so sánh giữa chi phí và kết quả. Chi phí tồn tại dưới nhiều dạng như chi
công tác quản lý và hạch toán đòi hỏi phải xác định được hiệu quả của hoạt động
nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân và đối với từng doanh nghiệp nói riêng.
Điều này có liên quan đến việc xác định biểu hiện của hiệu quả và chỉ tiêu hiệu quả
kinh doanh nhập khẩu.
1.2. Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị phát thanh truyền hình
Trong quản lý kinh doanh thương mại quốc tế phạm trù hiệu quả được thể
hiện ở nhiều hình thái khác nhau và việc phân loại hiệu quả theo các tiêu thức khác
nhau có tác dụng tích cực trong quản lý kinh doanh, nó là cơ sở để xác định các chỉ
tiêu và mức hiệu quả, có ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý và nâng cao hiệu
quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
1.2.1. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc
dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt hay hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp được đánh giá và xem xét về mặt kinh tế tài chính, được biểu
hiện qua các chỉ tiêu thu - chi trực tiếp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó biểu hiện mối quan hệ giữa lợi ích mà doanh nghiệp
nhận được trong hoạt động kinh doanh với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu
được lợi ích đó.
Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đem lại
cho nền kinh tế quốc dân, đó là sự đóng góp vào quá trình phát triển sản xuất,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, bổ sung vào tích luỹ
ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống
nhân dân…Đó là hiệu quả kinh tế xã hội nói chung cho tất cả các ngành sản xuất
kinh doanh, còn đối với doanh nghiệp kinh doanh các thiết bị phát thanh truyền
hình như Công ty Phát triển Công nghệ và Truyền hình thì hiệu quả mà nó đem lại
cho xã hội trước hết là nâng cao, phổ cập kiến thức cho người dân nhất là đối với
vùng xa, vùng nông thôn nơi mà người dân ít tiếp cận với sách báo, họ chỉ có thể
thu nhận thông tin qua tivi hoặc qua các đài phát thanh xã, phường… Bên cạnh
việc cung cấp thông tin thì nó còn đáp ứng một nhu cầu lớn khác là giải trí.
phí để thực hiện mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra trong một giai đoạn nhất định.
Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có tác động thiết thực tìm ra
được hướng giảm chi phí hiệu quả nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm
đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Hiệu quả kinh doanh bộ phận: là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng bộ
phận hoặc từng yếu tố sản xuất như: vốn, lao động, máy móc thiết bị… Nó chỉ
phản ánh hiệu quả kinh doanh ở từng mặt hoạt động của doanh nghiệp mà không
phản ánh được hiệu quả của toàn doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp kinh
doanh nhập khẩu phải quan tâm đến việc nghiên cứu các biện pháp đồng bộ để
nâng cao hiệu quả kinh doanh trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh.
1.2.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh việc xác định hiệu quả kinh
doanh nhằm mục tiêu:
- Đánh giá thực tế trình độ sử dụng tiết kiệm các chi phí cần thiết phát sinh
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Phân tích và lập các luận chứng kinh tế kỹ thuật về các phương án kinh
doanh có hiệu quả kinh tế cao nhất.
Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả được tính toán cho từng
phương án kinh doanh bằng cách xác định những lợi ích có thể thu được từ những
lượng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả tương đối được xác định trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối giữa các phương án. Hay hiệu quả tương đối là sự chênh lệch giữa hiệu
quả tuyệt đối của các phương án. Việc tính toán hiệu quả tương đối nhằm mục đích
so sánh các phương án kinh doanh để từ đó lựa chọn phương án tối ưu nhất, có lợi
nhuận lớn nhất.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
nhưng chúng lại có tính độc lập tương đối, xác định hiệu quả là cơ sở để so sánh,
đồng thời là chỉ tiêu phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả tuyệt đối của các
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán
quốc tế, giảm tỉ lệ thất nghiệp, giúp cho nền kinh tế được ổn định đồng thời ổn
định cả về chính trị.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào được thành lập và hoạt động thì mục tiêu hàng
đầu cũng là lợi nhuận và lợi nhuận càng cao thì càng tốt. Đã kinh doanh là muốn
có lãi, muốn có lãi tức là kinh doanh phải có hiệu quả. Đối với doanh nghiệp kinh
doanh nhập khẩu thì đó là hiệu quả nhập khẩu. Công ty Phát triển Công nghệ và
Truyền hình là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực nhập
khẩu bởi doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao mà sản
xuất trong nước chưa đáp ứng được. Các thiết bị phát thanh truyền hình được công
ty nhập khẩu từ thị trường nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước do đó
mối quan tâm lớn nhất của công ty là làm cách nào nâng cao hiệu quả nhập khẩu.
Việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu là điều kiện để đảm bảo sự tồn tại, phát triển và
mở rộng công ty. Cũng giống như mọi doanh nghiệp khác khi tham gia vào hoạt
động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt
việc kinh doanh có hiệu quả là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp.
Để nâng cao hiệu quả nhập khẩu thì việc nhập khẩu cần phục vụ tốt khâu lưu
thông và phát triển thị trường trong nước, phục vụ đời sống nhân dân, trong việc
nhập khẩu cần tiết kiệm ngoại tệ. Nhập khẩu hàng hoá đúng yêu cầu về quy cách
phẩm chất đồng thời giá phải rẻ. Việc doanh nghiệp tiết kiệm ngoại tệ nhập khẩu
không những làm tăng phần lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn tiết kiệm chi phí
cho nền kinh tế quốc dân, duy trì mức giá ổn định. Do đó việc tổ chức nghiên cứu
thị trường nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, cần tiến hành khảo sát, so sánh và
đánh giá để lựa chọn thị trường nhập khẩu phù hợp theo từng loại hàng. Vì đặc
điểm mặt hàng thiết bị phát thanh truyền hình đòi hỏi phải đảm bảo về chất lượng
và kỹ thuật công nghệ mà Công ty Phát triển Công nghệ và Truyền hình đã lựa
chọn và có quan hệ đối ngoại với các hãng có uy tín trên thế giới, chủ yếu là các
hãng của Mỹ, Nhật Bản, Đức và Hàn Quốc như: SONY, HITACHI, SANYO,
PANASONIC, PANTHER, SEACHAGE…
- Chính sách tỷ giá hối đoái: là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt
động nhập khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái giảm sẽ tăng khối lượng hàng nhập khẩu vì
lúc này đồng nội tệ sẽ lên giá so với đồng ngoại tệ. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái
tăng tức là đồng nội tệ giảm giá so với ngoại tệ, lúc này sẽ hạn chế lượng hàng hóa
nhập khẩu.
- Các thủ tục khi tiến hành nhập khẩu như: xin giấy phép nhập khẩu, làm thủ
tục hải quan. Khi Nhà nước có hành lang pháp lý thông thoáng, các thủ tục khi
thực hiện hoạt động nhập khẩu đơn giản và nhanh chóng sẽ tăng đáng kể lượng
hàng hóa nhập khẩu.
- Các yếu tố mang tính quốc tế như: luật pháp quốc tế, thông lệ và các điều
ước quốc tế, các tổ chức quốc tế mà quốc gia tham gia như ASEAN, AFTA, đặc
biệt là tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới WTO, đây là một cơ hội rất lớn cho tất cả các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung và cho Công ty Phát triển Công nghệ và Truyền hình nói
riêng.
Do thiết bị phát thanh truyền hình có tính đặc thù và có tính chuyên ngành
cao nên việc nhập khẩu các thiết bị phát thanh truyền hình của Công ty đều nằm
dưới sự kiểm soát và quản lý chặt chẽ của Bộ Văn hoá - Thông tin. Bên cạnh đó thì
đối với các thiết bị truyền phát sóng ngoài sự quản lý của Bộ Văn hoá - Thông tin
thì còn chịu sự quản lý của Cục Tần số - Bộ Bưu chính Viễn thông để kiểm soát
các tần số cho phép phát sóng tại Việt Nam.
Ngoài các thiết bị thu phát sóng không dây, việc nhập khẩu phải có giấy
phép và chịu sự quản lý của Bộ Bưu chính Viễn thông thì các thiết bị phát thanh
truyền hình khác các doanh nghiệp được tự do nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.
Đối với các loại thiết bị chuyên dùng cho truyền hình Nhà nước có những ưu đãi
nhất định về thuế quan: giảm thuế nhập khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu được nộp
thuế chậm 30 ngày sau khi đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam.
1.2. Môi trường kinh tế, chính trị
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới tình hình kinh doanh của doanh
Là yếu tố luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng, có ảnh hưởng lớn tới
khách hàng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là yếu tố hình thành tâm
lý, thị hiếu của người tiêu dùng.
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần chú ý tới
các yếu tố văn hóa xã hội của đối tượng cần nghiên cứu như: tập quán tiêu dùng,
niềm tin, dân số, thu nhập, lối sống, tôn giáo nhằm đưa ra những nhận định chính
xác về thị trường. Nền văn hóa phản ánh quan điểm và cách thức sử dụng sản
phẩm, văn hóa ảnh hưởng tới quá trình đàm phán ký kết hợp đồng. Biết được các
yếu tố văn hóa của từng dân tộc giúp ta đưa ra những đối sách kinh doanh phù hợp.
1.4. Đối thủ cạnh tranh
Bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng mặt hàng mà doanh nghiệp
đang kinh doanh nhập khẩu, hoặc các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng có
thể thay thế. Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp, doanh
nghiệp muốn tồn tại được thì phải chiến thắng trong cạnh tranh, ngược lại sẽ bị đẩy
lùi khỏi thị trường. Cạnh tranh giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng hoạt động
dịch vụ phục vụ khách hàng, tạo ra tính năng động và hiệu quả hơn trong hoạt
động kinh doanh. Hiện nay có rất nhiều đối thủ cạnh tranh xuất hiện trên thị trường
phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải không
ngừng củng cố, nâng cao uy tín và vị thế của mình trên thị trường.
2. Nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp
Bên cạnh những yếu tố bên ngoài tác động khách quan đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thì nhóm yếu tố trực tiếp góp phần
quyết định sự thành công của doanh nghiệp chính là các yếu tố bên trong doanh
nghiệp.
2.1. Nguồn nhân lực
Có thể nói nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kinh
doanh nhập khẩu vì con người trực tiếp quyết định việc diễn ra và thực hiện hoạt
động nhập khẩu. Do đó, để hoạt động nhập khẩu có hiệu quả thì đòi hỏi nguồn
nhân lực phải có trình độ quản lý, am hiểu thị trường trong và ngoài nước, có khả
cần thiết, giảm tỷ lệ phế phẩm, tăng năng suất lao động Hệ thống kho tàng bến
bãi hiện đại giúp cho việc bảo quản hàng hóa tốt hơn, phương tiện vận chuyển tốt
cũng tiết kiệm được chi phí lưu thông và giảm hao hụt, hư hỏng hàng hóa.
Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp chính là uy tín của doanh nghiệp, vị thế
của doanh nghiệp trên thương trường, thương hiệu hàng hóa, các mối quan hệ xã
hội của doanh nghiệp Tiềm lực vô hình không có được ngày từ khi doanh nghiệp
mới thành lập mà nó có được qua cả một quá trình hoạt động lâu dài, hơn nữa nó
đòi hỏi phải được củng cố một cách thường xuyên. Tiềm lực vô hình không thể
thấy được nhưng chính nó lại mang đến những lợi ích vô cùng to lớn cho doanh
nghiệp.
2.4. Trình độ tổ chức quản lý hoạt động nhập khẩu
Trước xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói
chung và của từng quốc gia nói riêng đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia vào hoạt
động nhập khẩu phải có một đội ngũ cán bộ quản lý linh hoạt, nhạy bén để có thể
nắm bắt thời cơ đồng thời đưa doanh nghiệp vượt qua những khó khăn thử thách
để có được thành công trong kinh doanh. Trong việc tổ chức quản lý cần phải coi
trọng cả hai khâu nhập khẩu hàng hóa và tiêu thụ hàng nhập khẩu, vì hai khâu này
góp phần đảm bảo cho hàng hóa được nhập theo đúng hợp đồng và nhanh chóng
được tiêu thụ, quay vòng vốn nhanh và tiếp tục tái đầu tư góp phần nâng cao hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.
IV. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU THIẾT BỊ PHÁT
THANH TRUYỀN HÌNH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHẬP
KHẨU
Thông thường khi đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu ta thường sử
dụng các chỉ tiêu mà các chỉ tiêu này cho chúng ta biết rõ về mặt lượng của hiệu
quả kinh tế, hiệu quả đạt được cao hay thấp sau mỗi kỳ kinh doanh. Đó là các chỉ
tiêu:
1. Chỉ tiêu lợi nhuận nhập khẩu
Lợi nhuận nhập khẩu là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp phản ánh
1
là tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo chi phí
L
n
là lợi nhuận bán hàng nhập khẩu
C
n
là chi phí nhập khẩu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng chi phí phục vụ cho hoạt động nhập
khẩu thì sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận.
3. Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo doanh thu
Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thu được và
doanh thu bán hàng.
H
2
=
DT
Ln
*100 (%)
Trong đó: H
2
là tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo doanh thu
L
n
là lợi nhuận nhập khẩu
DT là doanh thu bán hàng
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thu được từ hoạt động
nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
4. Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu theo vốn kinh doanh
H
n
là vốn cố định đầu tư vào hoạt động nhập khẩu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn cố định đầu từ vào hoạt
động nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
♦ Chỉ tiêu 2: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu
H
5
=
VLDn
Ln
*100 (%)
Trong đó: H
5
là hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu
L
n
là lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu
VLD
n
là vốn lưu động đầu tư vào hoạt động nhập khẩu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động đầu tư vào hoạt
động nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
♦ Chỉ tiêu 3: Số vòng quay của vốn lưu động
H
6
=
VLDn
DT
(vòng)
Trong đó: H
H
8
=
LDn
Ln
Trong đó: H
8
là mức sinh lợi của một lao động khi tham gia vào hoạt động
nhập khẩu
L
n
là lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu
LD
n
là số lao động tham gia vào hoạt động nhập khẩu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết với mỗi lao động tham gia vào hoạt động
nhập khẩu thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu đó.
♦ Chỉ tiêu 2: Doanh thu bình quân một lao động tham gia vào hoạt động
nhập khẩu
H
9
=
LDn
Dn
Trong đó: H
9
là doanh thu bình quân một lao động tham gia vào hoạt động
nhập khẩu