LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước đang trong giai đoạn phát triển, đi lên từ một
nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém do phải gánh
chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Việc tự mình tạo ra máy móc thiết bị
phục vụ sản xuất nhằm đáp đứng nhu cầu trong nước gặp rất nhiều khó khăn.
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chính sách và bước đi
phù hợp cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà cụ thể là
cho phép hay chỉ định một số doanh nghiệp trong nước nhập khẩu các thiết bị
máy móc toàn bộ từ nước ngoài về để phát triển nền sản xuất yếu kém trong
nước.
Việc Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
xuất nhập khẩu, trong đó có hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ, đồng nghĩa
với việc tạo điều kiện cho họ có cơ hội thâm nhập vào thị trường thế giới. Tuy
nhiên, thị trường thế giới với với tính năng động vốn có của nó đã tạo ra môi
trường cạnh tranh hết sức khốc liệt với đầy rẫy những khó khăn thách thức
cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải hết sức
nhạy bén trong mọi vấn đề của sản xuất kinh doanh, phải không ngừng nâng
cao hiệu quả kinh doanh thông qua việc đảm bảo chi phí cá biệt ở mức thấp
nhất, có như vậy doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này trong quá trình phát
triển nền kinh tế đất nước cũng như sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp nên em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ
thuật (Technoimport )” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Nội dung chính của
đề tài này gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu khái quát về công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và kỹ thuật
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty
XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport).
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập nhập khẩu
phòng viện trợ và phòng thiết bị của Bộ Ngoại Thương, ngày nay
Technoimport đã trở thành một doanh nghiệp lớn thuộc Bộ Công Thương
tổng số cán bộ công nhân viên lên đến 90 người với tổng số vốn là hơn 30 tỷ
đồng (năm 2007). Ngoài trụ sở chính tại Tràng Thi, Hà Nội, Technoimport
còn có mạng lưới các chi nhánh tại các thành phố lớn của Việt Nam là Thành
phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và có văn phòng đại diện tại nhiều
nước trên thế giới như: Cộng hoà Liên Bang Nga, Pháp, Mỹ, Úc, Thụy Điển,
Hungari, Cuba, Singapore, Ý.
Chức năng nhiệm vụ của công ty
Nhiệm vụ của Công ty là chuyên xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, máy
móc, thiết bị phụ tùng, vật tư, dịch vụ kỹ thuật và nhiều loại hàng hoá phục vụ
cho mọi nghành, mọi địa phương trong cả nước.
Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình liên tục diễn ra từ đàm phán ký
kết hợp đồng cho đến khâu lắp ráp, vận hành chạy thử cho ra sản phẩm. Nhập
khẩu thiết bị toàn bộ khác với nhập khẩu các loại máy móc hay hàng hoá
thông thường, nó yêu cầu nhà nhập khẩu đảm bào tính hiệu quả của sản phẩm
đầu ra. Các quy trình thủ tục nhập khẩu dài hơn các mặt hàng khác. Việc đàm
phán ký kết, thanh toán phụ thuộc hoàn toàn vào đặc trưng này. Thông
thường đối với một thiết bị toàn bộ, nhà nhập khẩu phải tiến hành rất nhiều
khâu, từ khâu tham gia đấu thầu nhập khẩu (do thiết bị toàn bộ có giá trị lớn,
việc sử dụng, ứng dụng phải được cấp phép của rất nhiều bộ nghành) đến
khâu đàm phán ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng nước ngoài, cuối
cùng giai đoạn ký kết hợp đồng, chuyển giao dây chuyền, lắp đặt, vận hành,
hướng dẫn sử dụng, đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra và cuối cùng là giai
đoạn bảo hành thiết bị.
Có thể nói để hoàn thành một hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ, cả
doanh nghiệp nhập khẩu, hãng sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh
nghiệp sử dụng cuối cùng đều có liên quan trong hợp đồng. Bởi vậy, việc ký
kết hợp đồng không chỉ diễn ra giữa người nhập khẩu và xuất khẩu mà còn có
Giai đoạn 2: từ năm 1989 đến nay
Đây là thời kỳ đổi mới, Công ty đã tiến hành hoạt động hạch toán kinh
doanh theo cơ chế thị trường với nhiều loại hình kinh doanh phong phú và đa
đạng. Technoimport là một doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu với ngành nghề kinh doanh: xuất nhập khẩu và nhận uỷ
thác xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, máy móc vật tư, phương tiện vận tải và
các loại hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng; nhận uỷ thác giao nhận, vận
chuyển nội địa hàng công trình hàng hoá xuất nhập khẩu đến mọi địa điểm
theo yêu cầu của khách hàng; kinh doanh nội địa các loại hàng hoá nói trên;
cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư và thương mại; hợp tác đầu tư, liên doanh,
liên kết với các tổ chức kinh tế khác; ký hợp đồng xuất khẩu lao động đi các
nước, tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống và kinh nghiệm nhiều năm
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật, coi trọng công tác
tư vấn đầu tư thương mại phục vụ các địa phương và các nghành trong việc
hiện đại hoá và đầu tư chiều sâu các công trình hiện có, tính toán hiệu quả đầu
tư và nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật cho các dự án mới, mở rộng và đa
dạng mặt hàng xuất nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn kinh doanh
với sản xuất để tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu, tăng cường hợp tác, liên kết
với các tổ chức trong và ngoài nước.
Các mặt hàng kinh doanh hiện nay của Technoimport rất đa dạng
phong phú:
+ Mặt hàng xuất khẩu của Technoimport bao gồm: máy móc thiết bị,
khoáng sản, lâm sản được nhà nước cho phép, than đá, rau quả, hàng thủ công
mỹ nghệ, cao su cũng như các sản phẩm bằng cao su và chứa cao su, nông sản
cũng như nông sản đã chế biến, tơ tằm, sợi các loại.
+ Các mặt hàng nhập khẩu bao gồm: Vật liệu xây dựng, sản phẩm hoá
chất phân bón, vật tư nuôi trồng thuỷ sản, thiết bị y tế thiết bị thí nghiệm, máy
móc thiết bị lẻ, thiết bị vận tải, dây chuyền công nghệ, nhiên liệu, kim loại,
nguyên liệu sản xuất, hàng công nghiệp tiêu dùng, và thiết bị toàn bộ
kỹ thuật, giấy phép sử dụng phát minh sáng chế. Do thiết bị toàn bộ đa dạng,
nhiều chủng loại nên việc mua bán thiết bị toàn bộ cũng đa dạng với nhiều
hình thức tiến hành. Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình liên tục diễn ra từ
đàm phán ký kết hợp đồng cho đến lắp ráp, vận hành, chạy thử cho ra sản
phẩm. Nhập khẩu thiết bị toàn bộ khác với nhập khẩu các loại máy móc hay
hàng hóa khác, nó yếu cầu nhà nhập khẩu đảm bảo tính hiệu quả của sản
phẩm đầu ra. Do thiết bị toàn bộ có giá trị lớn, việc sử dụng, ứng dụng phải
được cấp phép của rất nhiều bộ nghành, nó ảnh hưởng đến trình độ phát triển,
khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong nước nên nhập khẩu thiết bị toàn bộ
không thể tran lan, đại trà mà phải do doanh nghiệp có uy tín, có kinh nghiệm
tiến hành đảm bảo việc nhập khẩu đạt được hiệu quả cao.
Là một Công ty được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ chính là nhập
khẩu các thiết bị toàn bộ và kỹ thuật nhằm phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá hiện đại hoá đất nước, do đó hoạt động nhập khẩu và
đặc biệt là hoạt động nhập khẩu uỷ thác đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của Công ty.
Biểu 1: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của công ty
50%
24.5%
10.5%
15%
Thiết bị toàn
bộ
Thiết bị lẻ
NVL sản
xuất
Hàng tiêu
dùng
(Nguồn : Báo cáo tổng kết cơ cấu hàng xuất nhập khẩu năm 2007)
Đông Âu tan rã, Công ty đã có nhiều cố gắng và bước đầu đạt được một số
thành công trong việc mở rộng và thâm nhập thị trường, đến nay Công ty đã
có quan hệ với 68 nước trên thế giới và hàng trăm khách hàng. Khu vực nhập
khẩu chính của Công ty là: Pháp, Đức, Vương quốc Bỉ, Hà Lan, Mỹ, CH.Séc,
Nhật Bản, Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Italia, Úc, Singapore, Tây Ban
Nha, Indonesia, Trung Quốc, Anh, Ucraina, Nga, Ai-Xơ-Len, Thụy Điện, Đài
loan, Malaysia, Áo, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Nauy, Slovakia, Mexico,
Hungarie, Canada, Thụy Sĩ, Philippine, Brasil. Sau đây là bảng kim ngạch
nhập khẩu theo thị trường một số nước chủ yếu của Công ty từ năm 2003 đến
năm 2007.
Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu theo thị trường
Nước
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Triệu USD
Triệu
USD
So với
năm
trước
(%)
Triệ
u
USD
So với
năm
trước
(%)
Triệu
USD
TT Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỉ trọng (%)
1 Nhân viên hành chính 83 92,3
2 Cán bộ quản lý 3 3,3
3 Nhân viên phục vụ, vệ sinh 4 4,4
4 Tổng số 90 100
(Nguồn : Phòng tổ chức cán bộ)
Bảng 3: Cơ cấu lao động theo giới tính
TT Giới tính Số lượng (người) Tỉ trọng (%)
1 Số lao động nam 39 43,3
2 Số lao đông nữ 51 56,7
3 Tổng số lao động 90 100
(Nguồn : Phòng tổ chức cán bộ)
Bảng 4: Bảng theo dõi số lượng cán bộ tại các phòng ban năm 2006
TT Phòng ban Số lượng (người)
1 Ban giám đốc 3
2 Phòng kế hoạch tài chính 10
3 Phòng tổ chức 2
4 Phòng hành chính quản trị 14
5 Trung tâm tư vấn 7
6 Phòng xuất nhập khẩu số 1 6
7 Phòng xuất nhập khẩu số 2 8
8 Phòng xuất nhập khẩu sô 3 6
9 Phòng xuất nhập khẩu số 4 6
10 Phòng xuất nhập khẩu số 5 11
11 Phòng xuất nhập khẩu số 6 9
12 Phòng xuất nhập khẩu số 7 8
13 Tổng số 90
(Nguồn : Phòng tổ chức cán bộ)
Tuy số lượng cán bộ không nhiều nhưng chất lượng lại rất tốt hầu hết
Phòng tổ chức
cán bộ
Phòng kế hoạch
tài chính
Chi nhánh tại
Hải Phòng
Chi nhánh tại
Đà Nẵng
Các văn
phòng đại
diện tại nước
ngoài
Trung tâm
XNK và hiệp
tác lao động
Phòng hành
chính quản trị
Phòng xuất
nhập khẩu 1
Phòng xuất
nhập khẩu 2
Phòng xuất
nhập khẩu 3
Phòng xuất
nhập khẩu 4
Phòng xuất
nhập khẩu 5
Phòng xuất
nhập khẩu 6
Phòng xuất
+ Phòng XNK 4: Nhập khẩu chủ yếu thiết bị máy móc, phụ tùng,
nguyên liệu cho các công trình thuỷ lợi.
+ Phòng XNK 5: Chủ yếu nhập khẩu thiết bị máy móc, phụ tùng,
nguyên liệu cho các công trình văn hoá xã hội, công nghiệp nhẹ và công
nghiệp thực phẩm.
+ Phòng XNK 6: Hoạt động chủ yếu là nhập khẩu công trình vật liệu
xây dựng, thiết bị vật liệu xây dựng, thiết bị vật tư nghành cấp thoát nước,
nghành chiếu sáng, trang trí nội thất, thiết bị văn phòng.
+ Phòng XNK 7: Hoạt động nhập khẩu các loại thiết bị máy móc khác
nhau, chủ yếu thiết bị và nguyên liệu sản xuất cho các nhà máy bia, thiết bị
thông tin liên lạc, thiết bị thi công.
4.2. Các đơn vị trực thuộc
- Trung tâm tư vấn và đầu tư thương mại: Nhiệm vụ là tham mưu cho
Tổng giám đốc, cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, cho các chi nhánh
về những vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty. Cung cấp các dịch vụ
tư vấn như: Soạn thảo hồ sơ mời thầu, xét thầu và soạn thảo, đàm phán ký kết
hợp đồng.
- Trung tâm xuất nhập khẩu và hợp tác lao động quốc tế: Chức năng
chính là xuất nhập khẩu lao động
- Chi nhánh Công ty tại Hải Phòng: Hoạt động tất cả các lĩnh vực xuất
nhập khẩu của Công ty nhưng hoạt động chủ yếu là giao nhận vận tải.
- Chi nhánh Công ty tại Đà Nẵng: hoạt động kinh doanh nhập khẩu khu
vực miền Trung và hoạt động giao nhận vận tải tại cửa khẩu Đà Nẵng
- Các chi nhánh văn phòng ở nước ngoài: Tìm hiểu, nghiên cứu thị
trường nước ngoài, giúp giao dịch với đối tác thuận lợi và mở rộng thị trường.
III. Hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây.
1. Kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Trước những năm 90, Technoimport là doanh nghiệp độc quyền trong
So với
năm
trước
(%)
Tổng tài sản 137,19 153,04 111,6 150,39 98,3 160,50 106,7 165,93 103,4
Tổng nợ phải
trả
105,25 120,74 114,7 117,23 97,1 127,26 108,6 130,84 102,8
Vốn lưu động 27,98 28,43 101,6 28,78 101,2 29,14 101,3 28,44 97,6
Doanh thu 155,30 170,51 109,8 152,71 89,6 156,23 102,3 159,86 102,3
Lợi nhuận
trước thuế
0,40 0,80 200,0 1,63 203,7 0,46 28,2 0,45 97,8
Lợi nhuận
sau thuế
0,27 0,62 229,6 1,16 187,1 0,33 28,4 0,32 97,0
( Nguồn : Báo cáo tài chính năm 2006 )
Theo bảng tóm tắt tài sản có và tài sản nợ trên thì doanh thu trong 3
năm 2003, 2004, 2005 không có sự thay đổi lớn. Năm 2004 có tăng 15 tỷ
tướng ứng tăng 9,8% so với năm 2003 nhưng năm 2005 lại giảm đi 10,4% so
với năm 2004, chỉ đạt 152,71 tỷ. Lợi nhuận sau thuế lại có sự thay đổi đáng
kể: từ năm 2003 đến năm 2005 tăng 0,89 tỷ, năm 2004 đạt 62 triệu tăng
129,6% so với năm 2003, năm 2005 tăng 87,1% so với năm 2004 tướng ứng
là 0,54 tỷ. Điều này cho thấy năm 2005 công ty hoạt đông khá hiệu quả. Sang
đến năm 2006 thì doanh thu đạt 156,23 tỷ cao hơn so với năm 2005 là 2,3%
nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 71,6% và tình trạng này tiếp tục diễn ra
trong năm 2007 khi doanh thu tiếp tục tăng 3,6 tỷ (tăng tướng ứng 2,3%) so
với năm trước nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 3%, chỉ đạt được 32 triệu.
Trong nội bộ Công ty có sự chênh lệch khá cao giữa các phòng kinh doanh và
3
115.065.930
Xuất nhập khẩu
(kế hoạch)
95.001.341
102.023.40
3
97.433.749
111.300.00
0
103.943.929
Thực hiện so với
kế hoạch (%)
127,4 145,4 110,3 117,5 110,7
( Nguồn : báo cáo tổng kết kế hoạch kim ngạch xuất nhập khẩu )
Qua bảng tình hình xuất nhập khẩu trên, trong cả 4 năm 2003, 2004,
2005, 2006, 2007 Công ty đều hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, làm
tròn nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn do nhà
nước cấp. Năm 2003, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức 127,4% tăng 27,4%
tương ứng là 26.030.367 USD so với kế hoạch đề ra. Đặc biệt, năm 2004 đánh
dấu sự thành công vượt bậc của công ty với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
mức 145,4% tương ứng đạt 148.342.029 USD, tăng 45,4% so với mức kế hoạch,
tương ứng tăng 46.318.626 và điều này cũng thể hiện rõ khi cả doanh thu và lợi
nhuận đều tăng lên đáng kể. Năm 2005, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 110,3%
tương ứng đạt 107.438.112 USD cũng vượt mức kế hoạch đề ra, tăng 10,3%
tương ứng tăng 9.944.362 USD, tuy không tăng bằng năm 2004 nhưng lợi
nhuận lại nhiều hơn chứng tỏ trong năm 2005 Công ty hoạt động có hiệu quả
hơn năm 2004. Năm 2006, tuy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 117,5%
tương ứng đạt 130.723.033 USD tăng so với kế hoạch đặt ra 17,5% tương ứng
Bao PP
Quần áo
Lao động
Mặt hàng và
dịch vụ khác
(Nguồn : Báo cáo tổng kết cơ cấu hàng xuất nhập khẩu năm 2007)
(Bao gồm: hành sấy, tiêu đen, ống hút, mây tre, than gáo dừa, gốm sứ
mỹ nghệ…)
Nhìn vào bảng trên, chúng ta có thể thấy, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
của công ty là cao su, chiếm 57,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu còn các
mặt hàng khác chiếm tỷ trọng không nhiều. Trong những năm gần đây, công
ty đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và hoạt động này đã mang lại nguồn thu
đáng kể, ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
công ty.
Khu vực xuất khẩu chính của Công ty là các thị trường: Hàn Quốc,
Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp, Úc, Thái lan, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Cambodia,
Đài Loan, Philipine, Ba Lan…
3. Tư vấn đầu tư và thương mại
Bên cạnh hoạt động xuất nhập khẩu đựơc coi là lĩnh vực kinh doanh
chủ lực, công ty cũng chú trọng đến việc cung cấp dịch vụ về tư vấn đầu tư và
thương mại như: tư vấn soạn thảo hồ sơ mời thầu và soạn thảo - đàm phán -
ký kết hợp đồng thương mại cho các dự án. Một số các dự án mà Công ty đã
tham gia tư vấn như nhà máy nước Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoà Bình, Lào Cai,
Vũng Tàu, Sơn La, Sơn Tây; nhà máy xi măng Hoàng Mai, Tam Điệp; nhà
máy đường Kiên Giang, Minh Hải… Đây là lĩnh vực kinh doanh đem lại
nguồn thu đáng kể cho doanh nghiệp với doanh thu năm 2007 đạt 3,8 tỷ
VNĐ
1
mà hoạt động này lại không phải sử dụng đến vốn kinh doanh. Chính
hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước và được quy định sẵn trong các Hiệp định
thương mại, vay nợ song phương hoặc đa phương được ký kết giữa Chính phủ
Việt Nam với Chính phủ nước ngoài.
Trong thời kỳ này, bạn hàng cung cấp thiết bị toàn bộ và kỹ thuật cho
Việt Nam chủ yếu là các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu của các nước
Đông Âu, đứng đầu là Liên Xô (cũ), ngoài ra còn có một số công ty của các
nước Tây Âu và Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Phần Lan....
Việc tìm kiếm thị trưòng để nhập khẩu không là vấn đề phải quan tâm
nhiều nhất trong thời kỳ này. Các bạn hàng quen thuộc và các khu vực thị
trưòng lâu năm đã được quy định rõ trong các hiệp định. Chính vì vậy, thay
cho các cuộc đàm phán về thương mại, đơn vị chuyên trách chỉ phải lập đơn
hàng đúng hạn như đã ghi trong hợp đồng cũng theo biểu thời gian đã được
quy định trong các hiệp định đó.
Bảng 7: Cơ cấu nhập khẩu thời kỳ 1986 – 1990
(đơn vị : %)
Tỷ trọng nhập
Năm
1986
Năm
1987
Năm
1988
Năm
1989
Năm
1990
Hàng nguyên liệu 57,0 58,7 56,2 59,0 59,2
Máy móc thiết bị 34,7 30,7 34,8 33,5 27,4
Hàng đã chế biến 8,3 10,6 9,0 7,5 13,4
Năm
Cơ cấu thị trường
Liên Xô Đông Âu
Các nước tư bản chủ
nghĩa
Triệu rúp % Triệu rúp % Triệu rúp %
1987 392,76 89,80 26,46 6,05 18,00 4,15
1988 316,00 57,46 200,00 36,36 34,00 6,18
1989 205,08 38,12 250,69 46,60 82,15 15,28
(Nguồn: Báo cáo tồng kết của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ
và kỹ thuật và tổng cục thống kê 1990)
Với các nguồn vốn vay nước ngoài khác, trong những năm này Công ty
đã nhập khẩu gần 500 công trình thiết bị toàn bộ cỡ lớn và nhỏ phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng đất nước, trong đó có thể kể đến các công trình như: Các
nhà máy thủy điện Hoà Bình, Trị An; các trạm biến thế và đường dây 110KV,
220KV; các mỏ than Cẩm Phả; các công trình thủy lợi và thông tin bưu chính
viễn thông...
Sự hỗ trợ của Liên Xô và một số nước Đông Âu có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế cũng như bảo vệ
Tổ quốc. Hiệu quả của sự hợp tác ấy càng rõ rệt trong hoàn cảnh nước ta phải
đối phó với chiến tranh, khắc phục hậu quả, khôi phục và phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hiệu quả hợp tác lẽ ra đã lớn hơn nhiều nếu
như không có những khiếm khuyết nhất định trong các mặt sau:
+ Sự hợp tác một chiều khiến cho nền kinh tế phụ thuộc. Do vây, đến
năm 1991 khi Liên Xô và Đông Âu tan rã đã gây không ít khó khăn cho công
cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam, có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả
hoạt động của Công ty, điều này cũng thật dễ hiểu khi Công ty đã dựa quá
nhiều vào Nhà nước.
+ Cơ chế hợp tác mang nặng tính bao cấp đã làm cho những dự án
hàng từ 1985 đến 1987 ...”. Những quy định kiểu này làm cho phía người
nhập khẩu Việt Nam bị động, không biêt chính xác lúc nào sẽ nhận được
hàng. Nhiều khi nhà xưởng, bộ máy hành chính đã xây dựng hoàn chỉnh song
vẫn phải đợi 1 – 2 năm, gây ra thiệt hại lãng phí lớn cho ngân sách Nhà nước.
Mặc dù còn rất nhiều tồn tại và khó khăn trong quá trình nhập khẩu
thiết bị toàn bộ và kỹ thuật của Công ty nhưng cũng đã có rất nhiều công trình
thiết bị toàn bộ trong số hơn 500 công trình lớn nhỏ được nhập khẩu trong
thời gian này đã và đang đóng góp có hiệu quả cho phát triển kinh tế Việt
Nam hiện nay. Tuy rằng trình độ khoa học kỹ thuật của đội ngũ cán bộ công
nhân kỹ thuật của Công ty được đào tạo trong thời gian này còn chưa cao so