Tài liệu Luận văn "ĐỒNG YÊN NHẬT BẢN HIỆN NAY VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ CHÂU Á" - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐỒNG YÊN NHẬT BẢN HIỆN NAY VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ CHÂU Á Sinh viên thực hiện : Lê Tiến Dũng
Lớp : Nhật 1-K38F
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Trung Vãn
HÀ NỘI - 2003
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG
THỂ VỀ KINH TẾ-THƯƠNG MẠI-TÀI CHÍNH NHẬT BẢN 3
1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh tế Nhật Bản trong
thời gian gần đây 4
1.1. GDP- một trong những yếu tố quyết định sức mạnh đồng tiền của
một nền kinh tế 4
1.2. GDP của Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới 5
2. Sản xuất công nghiệp của Nhật Bản 10
2.1. Đặc trưng của sản xuất công nghiệp Nhật Bản 10
2.2. Tình hình và xu hướng sản xuất công nghiệp Nhật Bản 12

3. Ảnh hưởng của đồng Yên đối với thị trường tiền tệ Châu Á 58
3.1 Đồng Yên mạnh ảnh hưởng tới Châu Á 58
3.2. Vấn đề dùng đồng Yên làm đồng tiền trung tâm khu vực Châu Á 60
CHƯƠNG 3 : VẬN DỤNG KẾT QUẢ TỪ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀO THỰC
TIỄN HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM 64
1. Vận dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động ngoại thương Việt
Nam- Nhật Bản 65
1.1. Đánh giá tình hình quan hệ thương mại Việt Nam- Nhật Bản 65
1.2. Phương hướng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật
Bản 69
1.3. Vận dụng kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
thương mại Việt Nam- Nhật Bản 71
2. Vận dụng kết quả nghiên cứu trong việc thu hút vốn đầu tư của
Nhật Bản 74
2.1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản vào
Việt Nam 74
2.2. Phương hướng phát triển quan hệ đầu tư trực tiếp của Nhật Bản
vào Việt Nam 77
2.3. Vận dụng kết quả nghiên cứu để tăng nhanh vốn FDI của Nhật
Bản 78
MỤC LỤC

3. Vận dụng kết quả nghiên cứu trong việc thu hút vốn ODA của
Nhật Bản 79
3.1. Đánh giá tình hình vốn viện trợ ODA của Nhật Bản vào Việt Nam79
3.2. Phương hướng phát triển nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản cho
Việt Nam 82
3.3. Vận dụng kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả thu hút vốn
ODA của Nhật Bản 83
4. Vận dụng kết quả nghiên cứu nhằm đẩy mạnh các quan hệ đối

Bảng 21 : Cơ cấu ngành FDI vào Nhật Bản 1996 - 2001 (tỷ Yên) 55
MỤC LỤC
Bảng 22 : Mua bán chứng khoán của người nước ngoài ở các thị
trường chứng khoán Nhật Bản (1991 - 2001) 57
Bảng 23 : Vị trí của Nhật Bản trong nền kinh tế Châu Á 64
Bảng 24 : Kim ngạch thương mại Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn
1995-2001 66
Bảng 25 : Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản vào Việt Nam 67
giai đoạn 1995-2001 67
Bảng 26 : Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản 68
giai đoạn 1995-2001 68
Bảng 27: FDI của Nhật Bản vào Việt Nam và ASEAN từ 1996 đến
nay 75
MỤC LỤC

Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau giai đoạn tăng trưởng thần kỳ (trung bình mỗi năm tăng trên 10%), nền
kinh tế Nhật Bản vươn lên hàng thứ hai trên thế giới. Với GDP trên 4000 tỷ
USD, Nhật Bản là nước dẫn đầu Đông Á trong mô hình phát triển kinh tế
“Đàn sếu bay”. Cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế, đồng Yên có vai trò
ngày càng quan trọng trên thị trường tiền tệ thế giới, đặc biệt tại thị trường
tiền tệ Châu Á- nơi mà đồng Yên đã từng có triển vọng là đồng tiền chung
của khu vực.
Thế nhưng, sự sa sút kinh tế của Nhật Bản diễn ra suốt thập kỷ 1990 và
hiện nay đã gây ra cú sốc dữ dội không kém như sự tăng trưởng ngoạn mục
của nó trước đây. Người ta gọi đó là “một thập kỷ mất mát” hoặc đã đến lúc
phải “suy ngẫm lại sự thần kỳ Nhật Bản”…Phản ánh bộ mặt của nền kinh tế

của nó đến thị trường tiền tệ Châu Á, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Dẫu rằng tham vọng lớn lao, song do những hạn chế về thời gian, về tài
liệu và khả năng của người viết, nội dung đề tài khó tránh khỏi những sai sót
và khiếm khuyết. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của các thầy
cô giáo cùng sự góp ý của đông đảo độc giả và xin chân thành cảm ơn.
Khóa luận tốt nghiệp sẽ không thể được hoàn thành nếu thiếu sự hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình của Phó giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Trung Vãn. Em xin chân
thành cảm ơn Thầy.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại
thương đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức quý báu, cảm ơn gia
đình, bạn bè và tất cả những người đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình
thu thập, xử lý tài liệu và hoàn thành khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2003
Sinh viên
Lê Tiến Dũng
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 3

CHƯƠNG
1
VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC
TRANH TỔNG THỂ VỀ KINH TẾ-THƯƠNG MẠI-
TÀI CHÍNH NHẬT BẢN

Như chúng ta đều biết, tiền tệ phản ánh giá trị của hàng hoá. Trên thế giới
mỗi nước có một đồng tiền, theo logic thì chúng phản ánh giá trị của hàng hoá
sản xuất ra tại mỗi nước. Nhưng khi có sự trao đổi thương mại vượt qua biên

lưu thông trong một khoảng thời gian nhất định và xu hướng biến động của
nó trong thời gian tới. Đại lượng đo lường giá trị toàn bộ sản phẩm đầu ra của
một nước là tổng sản phẩm quốc nội – Gross Domestic Product (GDP).
1.1. GDP- một trong những yếu tố quyết định sức mạnh đồng tiền của
một nền kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) được định nghĩa là tổng sản phẩm biểu
hiện bằng tiền của hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong
phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Nó liên quan mật
thiết tới tất cả hàng hoá và dịch vụ mà các gia đình mua để thoả mãn nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày; hàng hoá và dịch vụ các hãng sản xuất mua để nhằm
thoả mãn nhu cầu đầu tư, hàng hoá và dịch vụ do chính phủ mua và những
khoản xuất khẩu vượt nhập khẩu.
Trên thực tế, GDP phản ánh sự khá giả, sự giàu có của nền kinh tế thông
qua biểu hiện bằng giá trị, tức là thông qua tiền tệ. Một quốc gia có GDP
mạnh đồng nghĩa với việc có nhiều hàng hoá sản xuất ra, giá trị và sự bảo
đảm giá trị cho đồng tiền quốc gia đó sẽ lớn, uy tín và khả năng chuyển đổi
của nó ra các đồng tiền khác cũng sẽ cao hơn.
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 5

Dĩ nhiên, không phải cứ một quốc gia có GDP cao hơn thì đồng tiền đó
mạnh hơn, bởi vì vị trí của một đồng tiền sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
như thương mại quốc tế, đầu tư, thị trường ngoại hối…mà chúng ta sẽ nghiên
cứu ở các mục tiếp theo. Nhưng có thể khẳng định trên cả lý thuyết và thực tế
rằng GDP chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sức
mạnh một đồng tiền quốc gia. Dưới đây, chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể GDP
tạo ra đồng Yên Nhật Bản.
1.2. GDP của Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới
1.2.1. Quy mô GDP của Nhật Bản

2000
4.672.514 36.826
2001
4.023.610 31.636
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 6

Nguồn: Ministry of Finance, Japan,
(http://www.mof.go.jp/singikai/kinyu_sihon/siryou/)
Thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Nhật Bản cũng vào loại cao
nhất trên thế giới, đạt mức trên 30.000USD/người/năm từ năm 1992. Mức GDP
bình quân đầu người của Nhật Bản năm 1999 là 36.386 USD, trong khi đó của
Mỹ chỉ là 34.047 USD, thấp hơn 4,5% so với Nhật. Mức GDP bình quân đầu
người cao nhất của Nhật Bản đạt được vào năm 1995 với 41.832
USD/người/năm. Tuy nhiên, con số cao này không phải hoàn toàn do kinh tế
Nhật Bản tăng trưởng mạnh mà do vào năm 1995, đồng Yên lên giá kỷ lục so
với đồng Đôla (Bảng 1).
1.2.2. Triển vọng tăng trưởng GDP trong thời gian tới
Say sưa với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều thập kỷ(thập kỷ 1960,
1970), người Nhật thực sự bị hẫng hụt khi con số tăng trưởng hàng năm của cả
thập kỷ 90 suy giảm đáng báo động. Có thể nhận thấy điều đó qua bảng sau:
Bảng 2: Tốc độ tăng GDP thực tế của Nhật Bản(%)
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 7 Nguồn: Ministry of Finance, Japan
(http://www.mof.go.jp/singikai/kinyu_sihon/siryou/)

1989
4.8
1990
5.1
1991
3.8
1992
1.0
1993
0.3
1994
0.6
1995
1.5
1996
5.0
1997
1.6
1998
- 2.5
1999
0.2
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 8

đất đai ở một số thành phố lớn của Nhật Bản tăng lên một cách chóng mặt,
nhất là ở các trung tâm như Tokyo, Osaka, Nagoya… Những điểm nóng và sự
bất ổn của hệ thống tài chính bắt đầu xuất hiện. Cơ cấu kinh tế vốn tạo ra sự
tăng trưởng cao độ trước đây đã bộc lộ sự hạn chế và chậm chạp của nó, trong


Trang 9

và tầng lớp có thu nhập thấp (cao nhất là 4,66 triệu Yên/năm) có khuynh
hướng tăng lên mà sau khi tăng thuế, thu nhập của cả hai loại này đều giảm.
Nguyên nhân của sự giảm sút tiêu dùng trước hết là do thu nhập thực tế
của người dân không ổn định, thậm trí giảm…Trong khi đó mức đóng thuế
tăng lên, nhất là từ ngày 01/07/1997 mức thuế tiêu thụ tăng từ 3% lên 5%,
nguồn thu nhập từ tiền tiết kiệm không đáng kể do lãi suất giảm. Hai là, người
tiêu dùng không yên tâm khi dân số đang già đi, họ lo lắng nhiều về gánh
nặng trong tương lai. Lý do cho sự không hứng khởi bỏ vốn cho sản xuất là
do các ngành đầu tư không nhìn thấy dấu hiệu khả quan của thị trường. Vì thế,
thay bằng việc bỏ vốn vào sản xuât họ lại bỏ tiền thừa vào thị trường chứng
khoán. Do đó mặt cung của sản xuất cũng sa sút không kém. Điều này một
mặt do tác động tiêu cực của cầu, mặt khác bản thân sản xuất cũng ở trong
tình trạng bấp bênh, không ổn định.
Các ngành sản xuất chủ yếu thời gian qua sa sút nghiêm trọng: Các
ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm sút liên tục qua các năm từ 10.961,3 tỷ
Yên năm 1990 xuống còn 7.624,6 tỷ Yên năm 1999. Các nhà đầu tư Nhật Bản
tỏ ra không còn khí thế để kinh doanh khi mà nhu cầu tăng chậm, lợi nhuận
giảm sút, trong khi nợ nần tăng nhanh. Thực trạng này chứng tỏ Nhật Bản
đang rơi vào tình cảnh khủng hoảng thừa. Vì thế, việc tăng đầu tư sẽ lại là giải
pháp đi vào ngõ cụt. Việc giảm sản lượng của các ngành sản xuất mặt nào đó
cho thấy sự thay đổi cơ cấu kinh tế của Nhật Bản. Nhưng điểm đáng nói ở đây
là các ngành này không chỉ giảm tỷ lệ mà cả giá trị tuyệt đối. Hơn nữa, sự suy
giảm này không đi đôi với việc tăng các ngành ở khu vực dịch vụ. Đặc biệt,
các ngành kinh tế mũi nhọn (nhất là kỹ thuật thông tin) hầu như tăng không
đáng kể (năm 1990 sản lượng đạt 29.090,4 tỷ Yên thì năm 1999 chỉ là
34.423,1 tỷ Yên). Như vậy, nền kinh tế Nhật Bản rơi vào vòng luẩn quẩn khi
mà đầu tư giảm sút, tiêu dùng không tăng, giá cả giảm, sản xuất trì trệ… Tình

2.1. Đặc trưng của sản xuất công nghiệp Nhật Bản
Công nghiệp là sức mạnh của một nền kinh tế. Công nghiệp phát triển là
điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội. Sản xuất công nghiệp cùng với
năng suất lao động là một trong những yếu tố quyết định đến tỷ giá trao đổi
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 11

theo thuyết ngang giá sức mua. Do vậy, công nghiệp trực tiếp ảnh hưởng đến
vị trí đồng tiền của một quốc gia. Có thể nói, đồng Yên lên ngôi đi cùng với
sự phát triển của công nghiệp Nhật Bản. Nghiên cứu về đặc trưng, tình hình
và xu hướng công nghiệp Nhật Bản cho chúng ta có thể đánh giá rõ hơn sức
mạnh và xu hướng biến động của đồng Yên.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khắc phục hạn chế về tài nguyên thiên
nhiên, Nhật Bản phát triển công nghiệp trước tiên theo mô hình gia công xuất
khẩu. Với phương cách nhập khẩu nguyên liệu thấp từ những nước đang phát
triển, đón tắt khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới áp dụng thẳng vào sản
xuất, sau đó xuất khẩu thành phẩm với giá cao. Nhờ đó, nền công nghiệp
Nhật Bản phát triển nhanh chóng. Nếu như năm 1950, giá trị tổng sản lượng
công nghiệp Nhật Bản chỉ đạt 4,1 tỷ USD thì năm 1960 đã tăng lên 56,4 tỷ
USD. Đúng 100 năm sau cải cách Minh Trị(1868-1968), Nhật Bản đã dẫn đầu
các nước tư bản về số lượng tàu biển, xe máy, máy khâu, máy ảnh, vô tuyến
truyền hình, nhập và chế biến dầu thô; thứ hai về sản lượng thép, ôtô, xi măng,
sản phẩm hoá chất, hàng dệt…
Tuy nhiên, kể từ những năm 1960, vị trí quan trọng của những ngành công
nghiệp này đã suy giảm, nhường chỗ cho các ngành công nghiệp điện tử bán
dẫn, viễn thông, sản xuất vật liệu mới… Đặc biệt, trong suốt thời kỳ tăng
trưởng nhanh và nhất là hai thập niên gần đây, Nhật Bản rất chú trọng tới sự
phát triển của các ngành công nghệ cao như: công nghệ sản xuất bán dẫn, vi
tính, viễn thông, sinh học, người máy, dược phẩm…Chính nhờ sự phát triển

Ghi chú: Chỉ số càng cao, lợi thế so sánh càng lớn
Khả năng tập trung công nghệ và lao động có kỹ năng của Nhật Bản bỏ xa
các nước Châu Á khác rất nhiều, ngay cả với các nền kinh tế mới phát triển
NICs. Năm 1986, tập trung lao động kỹ năng và tập trung công nghệ của
Nhật Bản là 1,73 và 1,55 trong khi của Hàn Quốc là 1,07 và 0,79, Đài Loan là
0,54 và 0,90, Hồng Kông là 0,25 và 0,97 và Xingapo là 0,26 và 1,32. Nhờ đó,
năng suất lao động của Nhật Bản thuộc vào diện cao nhất trên thế giới. Ngoài
ra, có thể kể đến:
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 13

Kỹ thuật chế tạo đứng đầu thế giới: Trình độ trang bị kỹ thuật và năng
lực sản xuất của các ngành công nghiệp chủ yếu của Nhật Bản đã đuổi kịp,
thậm chí vượt Mỹ. Trong những ngành công nghiệp mới và lĩnh vực công
nghệ cao như : vi điện tử, chất bán dẫn, vi tính, người máy công nghiệp, ứng
dụng siêu dẫn, thông tin cáp quang, trong những lĩnh vực nguyên liệu mới
như sợi than, gốm sứ kỹ thuật, và kỹ thuật nami đã có được ưu thế tương đối.
Trong một số ngành truyền thống, Nhật Bản cũng có được ưu thế tuyệt đối ở
một số phương diện, như ngành đóng tàu vận chuyển khí thiên nhiên hoá lỏng,
Nhật Bản gần như chiếm lĩnh 100% thị trường thế giới.
Tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đứng số một thế giới: Vào
những năm 1990. sự đối nghịch trong phát triển kinh tế giữa hai nước Nhật-
Mỹ chủ yếu do năng lực nghiên cứu, phát triển và năng lực đổi mới ngành
nghề của Nhật Bản không bằng Mỹ. Nhưng năm 1996, chỉ tiêu về chi phí cho
nghiên cứu và phát triển của Nhật Bản chiếm 2,8%GDP, cao hơn tỷ lệ của
Mỹ(2,64%), của Đức(2,4%), ngay lúc suy thoái kinh tế rơi xuống cực điểm, ta
lại phát hiện thấy hoài bão và tầm nhìn xa của người Nhật Bản trong vấn đề
đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Theo tờ “Tin tức độc mại” của Nhật Bản,
tổng số tiền chi cho nghiên cứu phát triển khoa học của Nhật Bản năm 2000 là

3. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Nền kinh tế Nhật Bản có thể vươn lên hàng đầu thế giới một phần lớn là
nhờ vào hoạt động thương mại. Công nghiệp Nhật Bản như nghiên cứu ở trên
rất phát triển. Hàng hoá Nhật Bản có khả năng cạnh tranh rất cao. Vài năm lại
đây, xuất siêu của Nhật Bản có giảm đôi chút, song vẫn là nước có số dư mậu
dịch lớn nhất thế giới.
3.1. Tỷ trọng thương mại quốc tế của Nhật Bản
Trong thập kỷ 90, thương mại quốc tế được phát triển mạnh. Giá trị thương
mại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ tăng đáng kể, từ 4.300 tỷ USD năm 1990
lên 7.497 tỷ USD năm 2000, tức khoảng 70%. Trong đó thương mại quốc tế
của Nhật Bản chiếm 10,7%, đạt con số 805, 853 tỷ USD (năm 2000). Điều
này chứng tỏ Nhật Bản có vị trí quan trọng trong hệ thống thương mại quốc tế.
Đây là điều kiện thuận lợi để đồng Yên tham gia vào nhiều giao dịch thương
mại, tăng cường vai trò và ảnh hưởng trên thị trường tiền tệ thế giới.
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 15

Bảng 4 : Tỷ trọng thương mại quốc tế của Nhật Bản
Đơn vị : tỷ USD
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Toàn thế

giới
8488,47 8076,56

7662,77

7556,97


1988
33.939.183 24.006.320 9.932.863
1989
37.822.535 28.978.573 8.843.962
1990
41.456.940 33.855.208 7.601.732
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 16

1991
42.359.893 31.900.154 10.459.739
1992
43.012.281 29.527.419 13.484.862
1993
40.202.449 26.826.357 13.376.091
1994
40.497.553 28.104.327 12.393.225
1995
41.530.895 31.548.754 9.982.141
1996
44.731.311 37.993.421 6.737.890
1997
50.937.992 40.956.183 9.981.809
1998
50.645.004 36.653.647 13.991.357
1999
47.547.556 35.268.008 12.279.548
2000
51.654.198 40.938.423 10.715.775

chung của kinh tế toàn cầu sẽ làm giảm nhu cầu nhập khẩu các nguyên liệu
phục vụ cho sản xuất các hàng xuất khẩu. Điều này, theo logic sẽ đẩy nền
kinh tế Nhật Bản lại rơi vào tình trạng suy thoái. Năm 2002, mức thặng dư
thương mại có tăng trở lại, tuy nhiên vẫn chỉ đạt ở mức 11.591,0 tỷ Yên. Sáu
tháng đầu năm 2003 mức thặng dư thương mại đạt 5.363,8 tỷ Yên, tức cũng
chưa đạt nửa năm 2002.
Trước xu thế giảm của xuất khẩu, Chính phủ Nhật đã thông qua nhiều giải
pháp để kích thích sự phát triển kinh tế và gia tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, với
môi trường kinh tế hiện nay, việc gia tăng xuất khẩu nhằm góp phần phục hồi
kinh tế không phải vấn đề đơn giản. Điều này phụ thuộc vào mấy yếu tố sau:
thứ nhất là triển vọng của cuộc cải cách hiện nay ở Nhật ra sao. Nếu Nhật Bản
không khắc phục được yếu kém của hệ thống tài chính- tiền tệ để hỗ trợ cho
xuất khẩu thì tính hiệu quả của các giải pháp kích thích sẽ không cao. Thứ hai,
hiện kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn, kinh tế các quốc gia Đông Nam Á cũng
đang phải vật lộn để tránh suy giảm tốc độ tăng trưởng. Do vậy, ta thấy việc
tăng xuất khẩu của Nhật sẽ là rất khó khăn.
3.3. Chính sách thương mại quốc tế của Nhật Bản
3.3.1. Đặc điểm của chính sách ngoại thương thời gian gần đây
a. Đẩy mạnh xuất khẩu trong khuôn khổ hạn chế xung đột ngoại thương
Trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Nhật Bản luôn có cán cân dư thừa
lớn. Các bạn hàng của Nhật cho rằng Nhật Bản đã thi hành một chính sách
CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ CỦA ĐỒNG YÊN HIỆN NAY QUA BỨC TRANH TỔNG THỂ…

Trang 18

xuất khẩu “hiếu chiến”. Mâu thuẫn giữa Nhật Bản và các bạn hàng lớn, nhất
là với Mỹ ngày càng trở nên sâu sắc. Do vậy, để giải quyết tình trạng đó, Nhật
Bản đã cố gắng làm giảm bớt mâu thuẫn với bạn hàng.
b. Tiếp tục thay đổi cơ cấu mặt hàng và đa phương hoá thị trường xuất khẩu
Hiện nay, Nhật Bản ưu tiên xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng kỹ

Đơn vị(%)1960

1970

1980

1990

1998

XK Châu Á 32.4

28.5

28.1


2.3

2.8

1.2

0.6

Bắc Mỹ 29.7

33.7

26

33

29.3

Mỹ 26.7

30.8

24.2

31.3

7.8

Trung Cận Đông 7.5
NK Châu á 21.1

17.6

25.8

28.8

37

Trung Đông 9.4

12

31.3

13.9

11.3


Mỹ 34.4

29.4

17.4

22.3

22.3

Trung Cận Đông 6.9

7.3

4.1

4.2

3.9

Châu Phi 3.6

5.8

3.2

1.7

1.9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status