Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
1
Tiểu luận
Tìm hiểu về môi trường kinh
doanh của G7-Mart
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
2
Mục Lục
Mục Lục 1
Đề tài : 2
1.CÁC CHIẾN LƯỢC G7 MART ĐÃ & ĐANG THỰC HIỆN: 25
2.HOẠCH ĐỊNH & ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC SƠ BỘ CHO G7 MART CỦA NHÓM 28
PHẦN IV: KẾT LUẬN 30
Tài liệu tham khảo: 31
Thông tin nhóm 31 Đề tài :
Tìm hiểu về môi trường kinh doanh của G7-Mart
Phần trình bày :
PHẦN I : KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BÁN LẺ
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
3
1. Khái niệm .
Kinh doanh bán lẻ là hoạt động kinh doanh thương mại nhằm tiêu thụ hàng
hóa, dịch vụ tới những cá nhân người tiêu dùng hoặc những tập thể hoạt động
không vì mục đích lợi nhuận.
Ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những mô hinh kinh doanh bán lẻ khác
nhau. Sự đa dạng của các mô hình cũng như đặc trưng của một mô hình cũng thể
hiện sự khác nhau ở từng quốc gia. Điều này được quyết định bởi đặc trưng của
mỗi nền kinh tế. Tuy thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất nhỏ lẻ, manh mún, xong
cũng được nhận xét là “ thế giới có cái gì thì Việt Nam có cái đó”. Các loại hình
bán lẻ của Việt Nam cũng bao gồm loại hình hiện đại và loại hình kinh doanh
truyền thống. Loại hình bán lẻ truyền thống bao gồm :
- Chợ.
có khoảng trên 570 siêu thị rải khắp các tỉnh thành kể cả siêu thị trong nước lẫn
siêu thị của nước ngoài. Ví dụ: siêu thị Hapromart, Fivi-mart, Co.op mart, Big C,
… Tuy nhiên, các siêu thị này thường có quy mô rất nhỏ mà theo các chuyên gia
đánh giá thì nó chỉ tương đương với những cửa hàng bách hóa ở các nước khác, và
mới chỉ dừng ở mức độ các cửa hàng tự chọn chứ chưa phải là tự phục vụ, đúng
với nghĩa của "Supermarket". Đa số các siêu thị có danh mục hàng tương đối
phong phú song xét về chủng loại thì vẫn còn nghèo nàn. Chất lượng hàng hóa
trong siêu thị nhìn chung tốt. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng người tiêu dùng mua
phải hàng quá hạn sử dụng hay chất lượng chưa đảm bảo Việc quản lý và trưng
bầy hàng hóa trong các siêu thị vẫn còn nhiều vấn đề, rất ít siêu thị mà toàn bộ
hàng hóa được quản lý theo mã vạch. Nhiều hàng hóa được gắn mã số, có nơi mã
số được viết bằng tay. Quản lý hàng bằng mã số gây cản trở rất nhiều trong việc
tính toán, lưu giữ số liệu, vừa mất thời gian lại rất dễ có sai sót Đặc biệt có một
điều trái ngược mà ta có thể thấy rõ là trong khi các siêu thị ở các nước thường bán
với mức giá thấp và trung bình thì giá hàng hoá trong các siêu thị Việt Nam thường
cao hơn so với giá ở bên ngoài của các cửa hàng bách hoá hay giá chợ. Nguyên
nhân của sự chênh lệch này được lý giải theo nhiều cách. Siêu thị phải chịu chi phí
lớn như: tiền thuê mặt bằng, cải tạo và xây dựng thành cửa hàng, trang thiết bị, tiền
điện nước, lương nhân viên, thuế Còn về nguồn nhân lực kinh doanh siêu thị ở
Việt Nam (kể cả các nhà quản lý và nhân viên siêu thị) thì chưa có kinh nghiệm và
thiếu tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực hoạt động này. Đặc biệt, thái độ phục vụ
của nhân viên siêu thị đối với khách hàng còn rất kém, có nơi còn bị phàn nàn là cư
xử thiếu văn hóa.
-Thứ ba là các trung tâm thuơng mại (department store): Là một nơi bán hàng
với diện tích bán hàng thường từ 2500m2 trở lên bán chủ yếu là các hàng hóa phi
thực phẩm và có ít nhất năm nhóm ngành hàng bố trí trong các khu vực khác nhau,
thông thường là ở các tầng khác nhau.
Trong trung tâm thương mại thường bày bán các mặt hàng cao cấp, giá đắt và
ngay cả các siêu thị bên trong các department store cũng có giá đắt hơn các siêu thị
thông thường.đối với các trung tâm thương mại. Do xu thế đô thị hóa được đẩy
-Thứ năm đó là loại hình cửa hàng tiện ích (Convenience store ) : Loại mô
hình này ở Việt Nam bắt đầu bùng nổ từ năm 2006, là một loại cửa hàng nhỏ,
diện tích khoảng trên 50m2 chuyên bày bán các loại hàng thiết yếu phục vụ hàng
ngày cho người tiêu dùng.
Loại hình này thường được coi như là cánh tay kéo dài của các siêu thị, đại siêu
thị, len lỏi vào các khu dân cư để phục vụ người tiêu dùng một cách nhanh chóng,
tiện lợi và hiệu quả nhất.
Trước đó, Massan cũng đã từng kinh doanh nhưng đã thất bại. Hiện nay, có
khoảng 2000 cửa hàng tiện ích đang hoạt động ở khắp các tỉnh thành, bên cạnh đó
là hàng ngàn các cửa hàng mới được nâng cấp lên từ các cửa hàng tạp hóa trước
đây. Các cửa hàng tiện ích tiêu biểu nhất như: G7mart, Speedy, co.op, shop$go
…riêng về cửa hàng tiện ích sẽ được phân tích cụ thể trong phần II.
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
6
- Thứ sáu là loại hình cửa hàng chuyên doanh: các cửa hàng chuyên doanh cửa
hàng này chỉ kinh doanh duy nhất một loại mặt hàng hay nhóm hàng. Chẳng hạn
như cửa hàng điện thoại di động, cửa hàng chuyên doanh thực phẩm, cửa hàng
điện máy…
Các cửa hàng chuyên doanh hiện nay cũng đang được các doanh nghiệp chú
ý đến như: chuyên doanh cửa hàng thực phẩm, chuyên doanh cửa hàng điện thoại,
chuyên doanh cửa hàng điện tử, các cửa hàng bán quần áo…ví dụ như cửa hàng
thực phẩm co.op food Hiện nay, loại hình kinh doanh này đang được coi là phù
hợp và có tiềm năng phát triển do thị hiếu và nhu cầu tiêu dùng của người tiêu
dùng trẻ tuổi Việt Nam. Thị phần loại hình kinh doanh này tại Việt Nam hiện
chiếm khoảng 14,4% thị trường bán lẻ.
II. Mô hình cửa hàng tiện ích :
1. Khái niệm :
Cửa hàng tiện ích là một cửa hàng nhỏ, diện tích khoảng trên 50m2, chuyên
Trước hết phải khẳng định rằng ưu thế lớn nhất, vượt trội nhất của các cửa
hàng tiện ích so với các kênh khác đó chính là yếu tố tiện ích, tiết kiệm thời gian.
Đối với các kênh phân phối hiện đại như đại siêu thị, siêu thị và trung tâm
mua sắm thì cửa hàng tiện ích có một số đặc điểm ưu thế hơn như:
Đầu tư ít vốn: việc mở một cửa hàng tiện ích đơn giản hơn rất nhiều so với
mở một siêu thị hay đại siêu thị do vấn đề về mặt bằng vì một cửa hàng tiện ích chỉ
cần mặt bằng rộng khoảng 50m2 là có thể mở được trong khi một siêu thị cần ít
nhất là 400m2 chính vì thế sẽ thu hồi vốn được nhanh hơn.
Vị trí: Cũng vì thuận lợi hơn trong vấn đề mặt bằng nên các cửa hàng tiện
ích sẽ dễ dàng được mở ở gần khu dân cư hơn đáp ứng tốt hơn những nhu cầu tức
thời của người tiêu dùng.
Giá cả cạnh tranh: do đầu tư ít hơn và chi phí thấp hơn. Đây là một đặc
điểm hết sức quan trọng.
Chu đáo và nhanh chóng : Cách thức phục vụ của cửa hàng tiện ích chu
đáo hơn đối với khách hàng. Điều này là đương nhiên vì một cửa hàng tiện ích nhỏ
hơn với khối lượng khách hàng ít hơn sẽ dễ dàng quan tâm đến khách hàng của họ
hơn so với một siêu thị hay đại siêu thị với lượng khách hàng đông hơn gấp nhiều
lần.
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
8
Việc mở cửa với thời gian tối đa trong ngày cũng trở thành một lợi thế của
cửa hàng tiện ích khi mà các siêu thị, đại siêu thị hay các trung tâm thương mại
cũng chỉ mở cửa từ 7h sáng đến 9h đêm.
Đối với các kênh truyền thống thì cửa hàng tiện ích sang trọng hơn, hàng
hóa chất lượng hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hơn, cách trình bày bắt
mắt và khoa học hơn trong khi chợ hay các cửa hàng truyền thống thì luôn ồn ào,
lộn xộn hơn, thiếu tính thẩm mỹ hơn và đặc biệt hàng hóa không được đảm bảo về
chất lượng , an toàn.
Cửa hàng tiện ích đáp ứng nhu cầu mọi lúc, mọi nơi của người dân: Cũng
Đối với chợ: cửa hàng tiện lợi có không gian hẹp hơn và chắc chắn sẽ có ít sự
lựa chọn hơn cho khách hàng đặc biệt là đối với những loại mặt hàng rau, củ, quả,
thịt tươi sống
4. Điều kiện ứng dụng mô hình cửa hàng tiện ích
Qua sự phân tích các nhân tố ảnh hưởng ở trên, ta có thể rút ra một cách ngắn
gọn những điều kiện ứng dụng mô hình cửa hàng tiện ích tốt nhất như sau:
Vị trí: cửa hàng tiện ích sẽ phát triển tốt ở những nơi đông dân cư, mật độ
người qua lại lớn, tiện đường giao thông như: gần chợ, gần công viên, bến tàu xe,
mặt đường…hoặc những nơi có quy hoạch hiện đại, văn minh, quy củ, nơi vắng
bóng những loại cửa hàng nhỏ, hàng rong…
Khách hàng: cửa hàng tiện ích sẽ phát triển tốt khi người dân có thu nhập
tăng lên, đủ điều kiện chi trả cho những tiện ích cộng thêm, những người bận rộn,
có ít thời gian dành cho mua sắm, và có phong cách tiêu dùng hiện đại.
Thị trường: cửa hàng tiện ích đặc biệt phù hợp cho những thị trường hiện đại,
nền kinh tế sôi động, nhịp độ nhanh. Cũng sẽ rất tốt nếu cửa hàng tiện ích được
xây dựng ở những nơi mà thị trường bán lẻ còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu tính liên
kết, tiềm năng lớn trong khi vẫn còn rất nhiều lỗ hổng thị trường. Khi đó, cửa hàng
tiện ích đóng vai trò lấp chỗ trống thị trường.
Tùy vào từng nơi mà mỗi điều kiện trên được thỏa mãn ở những mức độ khác
nhau. Nếu như nơi nào thỏa mãn được càng nhiều những điều kiện trên thì cửa
hàng tiện ích sẽ rất có triển vọng phát triển.
PHẦN II : KINH DOANH CỬA HÀNG TIỆN ÍCH Ở VIỆT NAM
1. Khái quát về kinh doanh cửa hàng tiện ích ở Việt Nam.
Loại hình cửa hàng tiện ích bắt đầu bùng nổ ở Việt Nam từ năm 2006 với sự
mở đầu là quyết định và hành động táo bạo của Trung Nguyên trong dự án xây
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
10
dựng chuỗi cửa hàng tiện ích G7 mart. Nếu như cuối năm 2005 Việt Nam có
khoảng 1000 cửa hàng tiện lợi hoạt động thì hiện nay con số đó là 2000 cửa hàng
Nguồn: bài “người tiêu dùng thích sự tiện lợi”-báo Sài Gòn tiếp thị (14.1.2009)
Theo số liệu từ kết quả các cuộc điều tra thị trường do báo Sài Gòn Tiếp Thị
thực hiện trong 3 tháng cuối năm 2008 thì cho thấy, thì thị phần của loại hình cửa
hàng tiện lợi đang ở mức thấp nhất với 0,8%, trong khi của siêu thị là 48,2%, cửa
hàng chuyên là 14,4%, tiệm tạp hóa là 22,1 %, chợ là 13,1% và các kênh khác như
hàng rong, trung tâm thương mại…chiếm 1,4%. Người dân Việt Nam dường như
chưa quen với loại hình kinh doanh này. Đặc biệt ở thời điểm sau 12h đêm, các cửa
hàng tiện ích dường như vắng tanh, không có khách, có chăng chỉ là khách nước
ngoài. Để có thấy rõ được tình hình hoạt động kinh doanh của loại hình kinh doanh
này, sau đây sẽ là một số phân tích về một vài hệ thống cửa hàng cụ thể.
2. Một số hệ thống cửa hàng tiện ích tiêu biểu
2.1 Cửa hàng tiện lợi Family Mart
Tập đoàn FamilyMart (Nhật Bản) thành lập
ngày 01/09/1981, hoạt động chủ yếu là điều
hành chuỗi cửa hàng tiện lợi (bao gồm cả hệ
thống nhượng quyền) với tên gọi FamilyMart
và Famima. Tính đến nay, tập đoàn có 17000 cửa hàng (bao gồm cả các cửa hàng
nhượng quyền), phân bố chủ yếu tại Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung
Quốc, Mỹ, Việt Nam.
Đại diện của Việt Nam là PHU THAI GROUP. Phú Thái phối hợp với Family
Mart Nhật Bản, Tập đoàn Itochu, hợp tác với hàng trăm nhãn hàng nổi tiếng trong
và ngoài nước, đưa ra các phương thức kinh doanh phù hợp, chọn lựa và tiêu
chuẩn hóa các sản phẩm trong hệ thống, đa dạng hóa sản phẩm, hoàn chỉnh hệ
thống cung ứng, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch
vụ, kêu gọi hợp tác hình thức nhượng quyền.
- Đặc trưng cửa hàng : ưu điểm của chuỗi các cửa hàng
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03 12
này không chỉ ở tính tiện lợi, sự đa dạng của hàng hóa, sự an toàn tuyệt đối trong
vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm mà đặc biệt hơn cả là ở chất lượng dịch vụ cao,
Saigon Co.op, đơn vị sở hữu chuỗi siêu thị Co.opMart và Co.op Food, 3 năm
liền (2004 – 2006) được Tạp chí bán lẻ Châu Á (Retail Asia) bình chọn đạt danh
hiệu “Nhà bán lẻ hàng đầu Việt Nam”, thuộc Top 500 Nhà bán lẻ hàng đầu Châu
Á – Thái Bình Dương. Saigon Co.op đang là đối tác chính của các tập đoàn lớn
nước ngoài, có quan hệ thương mại với hơn 100 đối tác nước ngoài khác. Hiện tại
hệ thống siêu thị Co.opMart đang chiếm lĩnh gần 50% tổng thị phần bán lẻ của
kênh phân phối siêu thị tại TP. Hồ Chí Minh.
Chuỗi cửa hàng thực phẩm Co.op Food là một sáng tạo trong lĩnh vực bán lẻ ở
Việt Nam. Đây là mô hình lai giữa siêu thị - cửa hàng tiện lợi: kinh nghiệm và
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03 13
năng lực của siêu thị Co.opMart được kết hợp với khả năng đi sâu vào các khu
dân cư, chuyên doanh về hàng thực phẩm.
- Đặc trưng cửa hàng: là cánh tay nối dài của hệ thống
siêu thị Co.opMart, thừa hưởng trình độ, kinh nghiệm,
công nghệ và thương hiệu từ Co.opMart nên ngay từ khi
xuất hiện, Co.op Food có thể nhanh chóng tạo được niềm
tin với người tiêu dùng. Co.op Food nhấn mạnh vào yếu
tố: an toàn và tiện lợi, đặc biệt nhắm vào việc thỏa mãn
nhu cầu hàng ngày của người nội trợ.
- Số cửa hàng: 12/2008 Co.op Food khai trương cửa hàng
đầu tiên tại chung cư Phan Văn Trị (Q5), đến tháng
08/2011 đã có 22 cửa hàng thực phẩm Co.op Food.
- Mục tiêu tương lai: mở 30 cửa hàng Co.op Food vào
cuối năm 2011 và tăng lên 150 cửa hàng vào năm 2015.
2.4. Cửa hàng tiện lợi Shop & Go
Công ty CP Cửa Hiệu và Sức Sống (SHOP &
GO) được thành lập vào ngày 26 tháng 08 năm 2005
Với diện tích vừa phải (60 – 150 m
2
) tại các vị trí bắt mắt, dễ nh
ìn
thấy, mỗi cửa hiệu có hơn 2.000 loại mặt hàng khác nhau, được lựa
chọn một cách kỹ lưỡng nhất để phù hợp với nhu cầu của dân địa
phương cũng như khách du lịch.
PHẦN III : CỬA HÀNG TIỀN LỢI G7 MART
Chương I : SƠ LƯỢC VỀ CTCP TM & DV G7 ( G7 MART)
I.Bối cảnh hình thành CTCP TM & DV G7:
Từ những năm giữa thập niên đầu thế kỷ 21 này, cùng với những thành công
của VN trong quan hệ quốc tế,hệ thống phân phối (HTPP) VN phát triển rất nhanh
chóng các loại hình phân phối hiện đại.Các tập đoàn phân phối nước ngoài đang
dần dần chiếm lĩnh hệ thống phân phói trong nước như siêu thị Big C, Metro.
Từ đó, các thương hiệu VN gặp rất nhiều khó khăn để tìm cho mình một hệ thống
phân phối hiệu quả trong điều kiện kém xa về điều kiện tài chính,nhân lực và công
nghệ kinh doanh…Cần thiết phải có một HTPP của VN để giải quyết các vấn đề
trên.
Công ty CP Thương Mại & Dịch Vụ G7, tên viết tắt g7 Mart ra đời trong bối
cảnh trên với nhiều hoài vọng góp phần phát triển HTPP hiện đại VN, đã được sự
ủng hộ của cấp cao trong Chính Phủ VN nhằm mục đích tạo cơ sở và hoạch định lộ
trình cho việc xây dựng một HTPP hang bách hóa lớn nhất hiện nay tại Việt Nam
do người Việt thực hiện.
Với tổng kho phân phối tọa lạc tại 168 Phan Văn Trị - Gò vấp, G7 Mart được
thành lập ngày 05/08/2006 dựa trên nền tảng nhân lực,tài lực và giá trị thương hiệu
của CTCP Trung Nguyên, với ý tưởng xây dựng HTPP VN vững mạnh đủ sức
cạnh tranh với các tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ đổ bộ vào VN kể từ
01/01/2009 sắp tới đây khi VN mở cửa lĩnh vực bán lẻ.
Trung hạn:
- Mở siêu thị lớn tại các tỉnh thành theo hình thức nhượng quyền, đặc biệt là
các tỉnh thành nhỏ.
- Hợp tác với các tập đoàn phân phối quốc tế nhằm mượn danh để thực hiện
chiến dịch kết nối với hệ thống siêu thị khác tại các tỉnh thành lớn như Tp
HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Đồng Nai, Cần
Thơ.
Dài hạn
- Xây dựng HTPP toàn dân phục vụ người tiêu dùng VN thông qua:
Huy động ủng hộ từ cộng đồng.
Tập trung vốn xã hội.
Liên kết thương hiệu, hàng hóa Việt.
Áp dụng công nghệ kinh doanh tiên tiến.
- Xây dựng thương hiệu, tiến ra thị trường quốc tế qua hệ thống Viet Town.
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
16
Viet Town là các khu TTTM tại nước ngoài được xây dựng với sứ mạng đưa
hàng hóa và văn hóa Việt ra thị trường thế giới một cách hiệu quả nhất, bền vững
nhất.
Viet Town hướng đến tập trung tất cả hàng hóa thương hiệu VN để tiếp cận với
thi trường nước ngoài. Vì thế, với Viet Town, các hàng hóa sẽ không đơn lẻ khi ra
bên ngoài mà là một sự đoàn kết hợp lực và sau kưng là toàn thể hệ thống phân
phối Việt, toàn thể cộng đồng người tiêu dùng và sự hỗ trợ chính sách của Chính
phủ. Việt Town cho phép tận dụng trình độ và năng lực của các chuyên gia quốc tế
để tao nên giá trị gia tăng, phát triển các giá trị thương hiệu Việt lên tầm mức cạnh
tranh toàn cầu.
2. Mô hình kinh doanh của G7:
Các mô hình phân phối.
- Hệ thống CHTL.
17
Nhượng quyền cấp phép.
Nhượng quyền kinh doanh.
Thành viên hợp tác.
Thành viên mua hàng.
III. G7 Mart – Chặng đường đã qua :
Bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2006, chỉ trong vòng 2 tháng, G7 mart đã đưa
vào hoạt động chuỗi cửa hàng gồm 500 cửa hàng chuẩn và 9500 cửa hàng thành
viên và theo dự kiến số cửa hàng chuẩn sẽ là 10.000 vào cuối năm 2008.
Về số lượng nhà cung, chủng loại hàng hóa, tỷ lệ chiết khấu được hưởng: G7
Mart đã đàm phán được với gần 70 nhà cung; cung cấp gần 5000 mặt hàng các loại
với 5 ngành hàng chủ yếu mặn, ngọt, bia – rượu – nước giả khát, hóa mỹ phẩm, phi
thực phẩm; và được hưởng tỷ lệ chiết khấu bình quân từ nhà cung là 5%. So với
Co-op Mart và Metro, thì số lượng mặt hàng và ngành hàng của G7 Mart còn quá
ít, chỉ mới bằng ¼.
Mục tiêu đó của G7 Mart đã ngày càng trở nên xa vời, số lượng các cửa hàng
tiện lợi mang thương hiệu G7 Mart đã không "bùng nổ" như kế hoạch và sự thật là
G7mart đã không thể hoàn thành kế hoạch đặt ra. Hoạt động của G7mart cũng
không thành công như dự kiến. Từ khi đi vào hoạt động, đối với các cửa hàng
chuẩn G7mart, việc khai trương diễn ra khá tưng bừng nên thu hút được một lượng
khách hàng tương đối đông, tuy nhiên sau khi đi vào hoạt động một thời gian, cửa
hàng cứ vắng khách dần. Theo như tính toán, để một cửa hàng tiện lợi làm ăn có lãi
thì doanh thu của cửa hàng phải đạt từ 10 đến 12 triệu một ngày, 350- 400 triệu
một tháng. Tuy nhiên, trên thực tế, các cửa hàng này luôn trong tình trạng thu
không đủ bù chi, doanh thu mỗi ngày chỉ đạt từ 5- 7 triệu đồng thậm chí có những
nơi chỉ đạt từ 1- 2 triệu đồng một ngày. Nhiều cửa hàng làm ăn không hiệu quả đã
phải đóng cửa hoạt động, ra đi một cách lặng lẽ. Đối với các cửa hàng thành viên,
0.10 4
0.40
4 Gia nhập WTO 0.12 3 0.36
5 Biến động kinh tế 0.10 3 0.30
6 Hệ thống nhà cung cấp 0.08 4 0.32
7 Sản phẩm thay thế 0.09 2 0.18
8 Khuyến khích phát triển bán lẻ
0.10 3 0.30
9 Đối thủ cạnh tranh nhiều 0.08 3 0.24
10 Công nghệ thay đổi 0.08 2 0.16
Tổng cộng 1 3.14
Nhận xét:
Với điểm số là 3.10 chứng tỏ nhìn chung G7 Mart phản ứng tốt với yếu tố
môi trường bên ngoài.
Giải thích:
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03 19
- Tiềm năng thị trường lớn:
Nhiều chuyên gia, doanh nghiệp trong và ngoài nước đã cùng thảo luận,
chia sẻ kinh nghiệm, định hướng phát triển ngành công nghiệp bán lẻ, phân
phối, hậu cần tại Việt Nam, và thị trường bán lẻ tại Việt Nam được nhiều
chuyên gia đánh giá có tiềm năng lớn.
Theo thống kê,người tiêu dùng Việt nam thuộc hàng trẻ nhất ở Châu Á
với 79 triệu người dưới 65 tuổi. Với dân số đông trên 89 triệu dân ,cơ cấu
- Nhu cầu tiêu dùng,mua sắm tăng nhanh:
Với mức tăng trưởng kinh tế cao khoảng 5.8% và đang dần vượt qua
khủng hoảng kinh tế,chỉ số GDP trung bình người dân tăng người dân dần
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03
20
quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe.Người dân có xu hướng dành nhiều tiền
hơn cho tiêu dùng chi tiêu hàng ngày
Bảng : Mức chi tiêu cho tiêu dùng thiết yếu bình quân người dân qua các
năm.
Năm 2006 2008 2010
Mức chi tiêu cho tiêu dùng (1000đ) 460.4 704.8 1138.5
Nếu như năm 2006 chi tiêu cho trung bình người dân 460.400đ thì đến
năm 2008 con số này đã là 704.800đ, năm 2010 là 1138.500. Và trong
những năm tới, mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới ít nhiều ảnh hưởng đến
thị trường bán lẻ Việt Nam tuy nhiên dự báo mức chi tiêu cho bán lẻ sẽ vẫn
tiếp tục tăng cao.
Thói quen tiêu dùng thay đổi có lợi:
Ngày nay, người tiêu dùng đã quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe,không có
nhiều thời gian mua sắm và yêu cầu đảm bảo chất lượng nên cửa hàng tiện
lợi dần được lựa chọn thay cho một vài hình thức chợ hay tạp hóa truyền
thống không đảm bảo chất lượng
Tuy nhiên,về phía G7,đa số các cửa hàng kinh doanh doanh theo hình
thức nhượng quyền,việc quản lý vẫn còn rất kém,tại vì khó có thể nào kiểm
soát được hết tấc cả các cửa hàng.trong khi có một số các chủ cửa hàng mà
theo hình thức nhượng quyền đó họ vẫn quen cách kinh doanh kiểu tạp hóa
nhỏ lẻ,có thể ngoài lấy hàng do G7 cung cấp, họ càng lấy bên ngoài,việc
đảm bảo chất lượng không thể kiểm soát,và điều đó có thể làm mất đi uy tín
Tuy nhiên , điểm yếu của các nhà đầu tư nước ngoài là rào cản của quy trình
quản lí cấp phép của nhà nước và văn hóa Việt Nam nên tạo sự em ngại cho
các nhà đầu tư nước ngoài .Do vậy yếu tố này được đánh giá mức phân loại
3 ,mức quan trọng là 0.12
Những biến động kinh tế : biến động kinh tế đáng quan tâm nhất là tình
hình lạm phát của Việt Nam trong những thời gian gần đây liên tục tăng
cao,đẩy giá cả tăng theo,người dân bắt đầu cân nhắc trong chi tiêu hằng
ngày,khách hàng sẽ mua ở các cửa hàng tạp hóa,vì giá rẻ hơn. Hay đi mua
hàng ở siêu thị.có rất nhiều mặt hàng giá rẻ hơn thay vì phải mua trong G7
Mart với giá cao hơn.
Hệ thống nhà cung cấp: là yếu tố cực kì quan trọng trong việc kinh doanh
bán lẻ và kinh doanh của hàng tiện lợi nói riêng.Nó quyết định khả năng
cung ứng ổn định thời gian,số lượng hàng hóa và giá cả đưa đến tay người
tiêu dùng cuối cùng do vậy đành giá mức quan trọng là 4 .
Bên cạnh đó nhận thấy được sự quan trọng của yếu tố này nên G7 đang
tập trung liên kết với các công ty trong nước và nước ngoài để nhận được
những ưu đãi về giá,chất lượng và thời gian,sự ổn định của việc giao hàng
phân phối tới các địa điểm bán lẻ.
Sản phẩm thay thế nhiều trong tình hình kinh tế có lạm phát cao làm một
bộ phận có xu hướng chuyển sang mua hàng tại các hình thức bán lẻ truyền
thống hay hay các hình thức khác nhằm tiết kiệm chi phí nhưng do nền kinh
tế đang dần phục hồi và làm phát dần được kiềm chế khách hàng có xu
hướng quay lại với hình thức kinh doanh hiện đại nên yếu tố này giảm dần
ảnh hưởng đến ngành kinh doanh cửa hàng tiện lợi nên đánh giá mức quan
trọng là 0.09 và phân loại là 2
Sự ủng hộ của nhà nước : là cơ hội để phát triển hệ thống cửa hàng tiện lợi
R&D 0.08 2 0.16
Đội ngũ nhân viên 0.09 2 0.18
Chất lượng sản phẩm
0.11 4 0.44
Marketing 0.08 2 0.16
Giá 0.11 3 0.33
Cơ sở vật chất,dịch vụ 0.08 2 0.16
Năng lực quản trị 0.08 4 0.32
Tổng cộng 1 3.09
NHẬN XÉT : IFE= 3.09 , nhìn chung G7 Mart phản ứng tốt với môi trường bên
trong
Giải thích:
Môi trường kinh doanh Đại học Ngân Hàng-TP.HCM
Nhóm 1 MTKD-Lớp: t03 23
Uy tín thương hiệu: kinh doanh CHTL là 1 lĩnh vực mới của ngành bán lẻ
tại thị trường Việt Nam, do vậy uy tín thương hiệu là yếu tố quan trọng giúp
cho ngành kinh doanh CHTL chiếm lĩnh thị trường bán lẻ , nhưng không
phải là yếu tố quyết định trong quá trình kinh doanh .G7 là 1 thương hiệu
khá mạnh thuộc tập đoàn ca phê Trung Nguyên đã được nhiều người biết
đến và là một trong những thương hiệu đầu tiên của lĩnh vực kinh doanh
CHTL (năm 2006). Hiện nay nó đang dần đánh mất đi thương hiệu do sự
phát triển nhanh chóng của các CHTL khác như là Family Mart….và phần
lớn do sự yếu kém trong công tác quản lý, sự thiếu chuyên nghiệp của đội
ngũ nhân viên nên yếu tố được đánh giá mức quan trọng là 0.11 Phân loại 3
Tài chính:
Là yếu tố không thể thiếu đối với bất kì một ngành kinh doanh nào. Mặc
dù CHTL không tốn quá nhiều chi phí đầu tư ban đầu (50 triệu đến 200
2 Đội ngũ nhân viên:
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần một đội ngũ nhân viên năng động,
bền bỉ, chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và nhiệt tình với công việc, vì họ là
những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.Vì thế, việc cạnh tranh bằng
chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên là một yếu tố quan trọng. G7 yếu
trong khâu này. Vì vậy, đánh giá trọng số là 0.09.Mức phân loại 3
Chất lượng sản phẩm:
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành 1 công cụ cạnh tranh quan
trọng của các DN trên thị trường, nó là “chất keo” giữ khách hàng mua sắm
lâu dài tại CHTL, đặc biệt khi mức sống của người dân ngày càng được nâng
cao. Một sản phẩm được coi là cao cấp không cứ phải đắt tiền; điều quan
trọng nhất là phải đảm bảo được chất lượng. Vì vậy, để có thể cạnh tranh với
những tên tuổi lớn trên thị trường, việc đầu tiên doanh nghiệp cần thực hiện
đó làchất lượng của sản phẩm phải được đảm bảo. G7 còn mắc phải một số
lỗi trong quá trình quản lý chất lượng như là sản phẩm còn sử dụng “giấy
dán giá”, hệ thống làm lạnh chưa đảm bảo, trưng bày hàng hóa chưa khoa
học và tiện lợi. Do vậy, đánh giá mức quan trọng là 0.11 , phân loại 4
Marketing:
Để khách hàng tin dùng và mua sản phẩm của họ hơn là của đối thủ cạnh
tranh. Để làm được việc đó doanh nghiệp cần phải hiểu nhu cầu của khách
hàng tốt hơn, họ cần truyền thông tốt hơn về sản phẩm của họ, xây dựng
quan hệ gắn bó lâu dài giữa thương hiệu với nhóm đối tượng khách hàng
mục tiêu. Chính vì những lý do trên, marketing ngày càng trở thành một
chức năng quan trọng của các doanh nghiệp. Đối với G7 Mart, lần đầu ra
mắt thị trường nên khâu marketing là rất quan trọng, cần chú trọng để mọi
người đều biết đến, lôi kéo sự quan tâm & thị phần của đối thủ cạnh tranh, là
III.HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC SƠ BỘ :
1.CÁC CHIẾN LƯỢC G7 MART ĐÃ & ĐANG THỰC HIỆN:
A. Chiến lược kết hợp về phía trước :
+Hình thức nhượng quyền thương mại
Hình thức nhượng quyền được Công ty CPTM & DV G7 áp dụng một cách rộng
rãi.hiện tại đã có hơn 10.000 điểm bán lẻ mang thương hiệu G7 Mart
Đánh giá chiến lược :
Lợi ích từ việc nhượng quyền :
Bên nhận quyền:
- Được khách hàng nhận biết ngay khi khai trương
- Giảm rủi ro trong kinh doanh,tiết kiệm thời gian, G7 Mart sẽ huấn luyện
cho nhân viên trong việc bán hàng,tạo kĩ năng bán hàng.