Tài liệu Tiểu luận:Xã hội học - Pdf 10


1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM


X HỘI HỌC
(Bi tập kết thc mơn học)

GVHD : PGS. TS L SƠN
Học vin : TRẦN THỊ HẠNH THẢO


biệt bẩm sinh giữa những cá nhân và sự phát triển của từng cá nhân cũng đào
sâu những khác biệt này, nhưng mặt khác họ quan niệm nền văn hóa và cơ cấu
xã hội có thể cũng cố và duy trì những khác biệt, những bất bình đẳng cá
nhân đó.
Mỗi xã hội có những phương cách khác nhau trong việc sở hữu các tư liệu sản
xuất và các tư liệu này chi phối quá trình tái sản xuất, và đào tạo các thế hệ kế
tiếp. Những bất bình đẳng chỉ trở thành phân tầng xã hội khi các cá nhân được
sắp xếp theo các vị trí cao thấp theo những thuộc tính của mình như lợi tức, của
cải, quyền hành, uy tín, tuồi tác, tôn giáo, dân tộc …
Như vậy :Khái niệm phân tầng xã hội ( Social Stratification) ám chỉ những
phương thức mà xã hội sắp xếp các thành viên của mình trên cơ sở sự giàu
có, quyền lực hay uy tín xã hội.
 Hệ thống phân tầng xã hội thường được biện minh bởi hệ ý thức, như hệ
ý thức Mac xít, hệ ý thức tư bản, hệ ý thức Balamôn …
Thí dụ: - Tư tưởng nho giáo trước đây cũng nhấn mạnh việc mọi người phải
chấp nhận và làm tròn vai trò của mình ( quân xử thần tử, thần bất tử bất trung.
Hay tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử).

3
- Triết lý bà la môn cũng chỉ là một triết thuyết biện minh cho hệ thống đẳng
cấp ở An Độ. Tôn giáo như vậy cũng thường hợp thức hóa các hệ thống phân
tầng xã hội.
Các định chế xã hội, như định chế giáo dục, chuẩn bị cho con người chấp
nhận các vị trí của mình trong xã hội. Nhưng tại sao con người, kể cả những
người ở tận đáy xã hội, lại phải chấp nhận vị trí của mình trong xã hội? Bởi vì
họ không còn chọn lựa nào khác, họ không có cơ hội, phương tiện kinh tế cũng
như chính trị để thay đổi cuộc sống của mình. Họ cũng có thể nổi loạn để chống
lại sự bất công. Nhưng một trong các lý do khiến họ chấp nhận vị trí của mình
chính là sự phân tầng xã hội cũng là một bộ phận hữu cơ trong nền văn hóa
của họ và nền văn hóa này đã ăn sâu trong nếp nghĩ của họ.


4
của các xã hội mở rộng là giai cấp. Giai cấp là những tầng lớp xã hội chủ yếu
dựa trên những tiêu chuẩn kinh tế, như vị trí trong hệ thống sản xuất, nghề
nghiệp, lợi tức, tài sản… Giai cấp của các xã hội không đồng nhất, trong bất kỳ
một giai cấp nào đều có các nhóm khác nhau tùy theo mức độ uy tín mà họ nhận
được từ xã hội nói chung. Những nhóm như vậy thường được gọi là nhóm địa vị
( status group). Như trong xã hội người Mỹ, những người giàu da trắng, theo
đạo Tin Lành, gốc Anglo – saxon được trọng vọng nhất trong tầng lớp những
người giàu ở Mỹ.
Việc di chuyển cá nhân từ tầng lớp xã hội này sang tầng lớp xã hội khác
được gọi là di động xã hội
Sự di động này có thể là sự di động đi lên ( upwardly mobile). Như trong trường
hợp khi một gia đình giàu lên và bắt đầu sở hữu các phương tiện sản xuất và
sinh họat của tầng lớp trên. Và ngược lại là di động đi xuống (downwardly
mobile).
 Các thành viên của một đẳng cấp không thể có hy vọng rời bỏ đẳng cấp
của mình. Hệ thống đẳng cấp thường dựa trên nền tảng hệ ý thức, tôn giáo, tín
ngưỡng.
Thí dụ: Kinh Rig Veda dạy rằng, xã hội Hindu, do ý muốn của thần thánh, được
chia làm bốn đẳng cấp chính:
- Bramin ( tu sĩ)
- Kshatriya ( Chiến sĩ)
- Vaisay ( nông dân và thương nhân)
- Sudra ( đầy tớ và thợ thủ công)
- Ngoài ra còn có những người hoàn toàn bị gạt ra ngoài xã hội, “ những người
không được đụng đến”.
Phương cách mà con người tập hợp lại tùy theo mức độ họ có thể sử dụng được
các tài nguyên hiếm hoi xác định những cơ hội sinh tồn ( life chances) của họ,
nghĩa là những cơ hội có thể có được hay sẽ bị từ chối suốt cuộc đời do vị trí xã

hiện nay.
+ Đặc điểm thứ hai của xã hội công nghiệp hiện đại là tính di động không
gian ( Spatical mobility) là việc di chuyển các cá nhân và các tập thể từ địa
phương này đến địa phương khác, đặc biệt là đến các thành thị. Hiện tượng này
do việc giảm vai trò của nông thôn và sự gia tăng tầm quan trọng của các
định chế tập trung ở thành thị, như các thị trường, các công ty các cơ quan
nhà nước. Nơi cư trú và nơi làm việc dần tách rời nhau, làm cho tình cảm của
cá nhân đối với cộng đồng địa phương cũng giảm đi.
Khi nghiên cứu sự di động xã hội ta phải phân biệt rõ di động cơ cấu và di động
xã hội thực ( mobilité nette). Như vậy: Di động cơ cấu là do tác động của tiến
bộ kỹ thuật lên cấu trúc nghề nghiệp xã hội, trong khi di động xã hội thực là
chuyển đổi nghề nghiệp thực sự do sự lựa chọn cá nhân.
Ta cũng phân biệt di động xã hội trong từng thế hệ, di động xã hội liên thế hệ.
Di động nội thế hệ đó là các cơ hội mà một cá nhân có thể đi lên hay rơi xuống
một tầng lớp xã hội khác trong quảng đời của mình. Còn di động liên thế hệ
thường được đo lường bằng cách so sánh địa vị trong giai cấp xã hội của hai thế
hệ cha và con ( cũng có khi cả ba thế hệ: Ông nội, cha, con).

Nước Di động xã hội đi lên Di động xã hội đi xuống
CHLB Đức (cũ)
Thụy Điển
Mỹ
29%
31%
33%
32%
24%
26%

6

- g.c bình dân
60,7%
25,0%
7,2%
32,2%
52,2%
5,8%
7,1%
22,8%
7,0%
100%
100%
100%

Nguồn: Alternatives economique, 6 – 1988.
Theo bảng trên, vào năm 1985, đối với 100 người con có cha thuộc “ giai cấp
thống trị”, thì 60 người cũng có nghề nghiệp thuộc giai cấp này, 25 rớt xuống
giai cấp trung lưu và 7,2 xuống giai cấp bình dân…. Nhìn chung cả ba giai cấp,
thế hệ con vẫn tiếp tục nghề nghiệp của thế hệ cha. Nhưng mặt khác, ở các giai
cấp trung gian, di động diễn ra nhiều hơn so với giai cấp khác.
Những cuộc nghiên cứu tính di động xã hội của ba thế hệ liên tiếp cho thấy tác
động của yếu tố “dòng họ”, đặc biệt là địa vị xã hội của người ông.
Ví dụ: Những đứa con có cha là cán bộ, ông nội làcông nhân thì cơ hội ở lại
giai cấp cán bộ của cha biến thiên từ 59,4% xuống 35,0% và nguy cơ rớt xuống
giai cấp thợ thuyền từ 2,7% lên 11%.
II. Vai trò của giáo dục trong sự di động của xã hội.
Giáo dục được định nghĩa là những cách khác nhau trong đó kiến thức – kề cả
thông tin và kỹ năng thực tế cũng như quy phạm và giá trị văn hóa được truyền
đạt đến từng thành viên trong xã hội. Một quá trình giáo dục mở rộng là giáo
dục học đường – sự dạy bảo chính thức dưới sự hướng dẫn của thầy cô được

học. Khoảng 1/5 học xong bốn năm đại học. Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ người Mỹ
ngày nay được chính thức phân loại là mù chữ.
Trong các xã hội công nghiệp khác, kể cả Anh, Liên xô, và Nhật Bản, tình
hình cũng tương tự. Thế nhưng, trong hầu hết các xã hội nông nghiệp trên toàn
thế giới, hầu hết mọi người đều không thể biết đọc hay biết viết. Đây là các xã
hội phi công nghiệp thường quá mức nghèo khổ: Thu nhập bình quân chỉ bằng
5% hay 6% thu nhập trung bình của Mỹ. Đối mặt với vấn đề sống còn cơ bản đi
đôi với sự nghèo đói phổ biến, những xã hội này không có tài nguyên để dễ
dàng mở rộng cơ hội giáo dục ra ngoài một tỷ lệ nhỏ thành phần ưu tú. Vả lại,
Giáo dục ở trường đang thực sự tồn tại thường có chất lương kém, vì thế trẻ em
không học được nhiều cũng như không nhanh như trẻ em trong các xã hội giàu
hơn.
Nhưng vẫn có những thành công đáng chú ý ở những xã hội nghèo. Trước cuộc
cách mạng năm 1960 đưa Castro lên nắm quyền, giáo dục trường học ở Cuba

8
chỉ dành cho số ít thành phần ưu tú. Từ thời điểm ấy, Cuba quyết tâm phổ cập
giáo dục chính quy đến toàn dân và hiện nay hầu như đã xóa nạn mù chữ.
Tương tự, tỷ lệ mù chữ ở Nicaragua – một quốc gia giống như Cuba, đi theo
đường lối xã hội chủ nghĩa – đang tiến nhanh gần tỷ lệ ở các xã hội công nghiệp
giàu hơn. Những trường hợp như thế cho thấy ngay cả trong những xã hội giàu
hơn, trình độ học vấn có thể đạt được nếu chính phủ xem giáo dục là ưu tiên
hàng đầu trong xã hội.
Xã hội công nghiệp cung cấp giáo dục ở trường cho toàn bộ dân số nhưng theo
cách không giống nhau.
Giáo dục học đường ở Anh: Trong thời kỳ trung cổ, giáo dục ở trường phần
lớn chỉ dành riêng cho giới quý tộc, vì thế họ ít có nhu cầu kỹ năng thực tế liên
quan đến sinh kế, do trường chỉ gồm những người có nền tảng đặc quyền như
nhau. Khi cuộc cách mạng cần một lực lượng lao động có văn hóa, thì giáo dục
ở trường càng thu nhận nhiều học sinh hơn. Tương tư sự phân biệt xã hội truyền

Giáo dục học đường ở Nga: Trước cách mạng xã hội chũ nghĩa năm 1917, Nga
là một nước nông nghiệp trong đó giáo dục học đường chỉ hạn chế ở một số ít
thành phần ưu tú. Năm 1930, Liên Xô thông qua luật giáo dục cưỡng bách. Bất
ổn chính trị, phí tổn và chia rẽ xã hội cũa thế chiến thứ hai làm chậm chương
trình giáo dục. Tuy nhiên cuối 1940, một nửa thanh niên Liên Xô đến trường.
Người xô viết khắc phục vấn đề hình thành hệ thống giáo dục quốc gia trong
một đất nước văn hóa đa dạng về mặt địa lý rộng hơn bất kỳ quốc gia khác trên
thế giới. Năm 1975, người xô viết khẳng địnhrằng hầu như tất cả đều đi học.
Như trong tất cả xã hội khác, giáo dục học đường Liên Xô phản ánh nhu cầu xã
hội và giá trị văn hóa quan trọng. Giáo dục học đường phổ thông được người
Liên Xô xem là thành phần quan trọng để trở thành cường quốc công nghiệp.
Hệ thống giáo dục được chuẩn hóa cao, theo sự chỉ đạo của chính phủ trung
ương. Hơn nữa theo chính sách theo chính sách chính thức của Liên Xô, trẻ em
nam, nữ đều có cơ hội nhận được giáo dục bình đẳng. Người Liên Xô cũng xem
giáo dục học đường là phương tiện giảng dạy những gì họ cho là quy phạm và
giá trị đích thực của đời sống xã hội chủ nghĩa. Ở Liên Xô cũng áp dụng thi
tuyển để nhận những học sinh có năng lực học tập cao nhất vào đại học.
Khảo sát vắn tắt hệ thống giáo dục trong ba xã hội khác nhau, chúng ta rút ra
được kết luận quan trọng: Giáo dục học đường được một xã hội lớn hơn
định hình. Xã hội thường thông qua luật giáo dục cưỡng bách do kết quả
của công nghiệp hóa. Hơn nữa, hoạt động của hệ thống giáo dục thường phản
ánh các mẫu lịch sử ( như trường hợp nước Anh), mẫu văn hóa ( biểu hiện rõ
trong hệ thống giáo dục Nhật Bản), và đặc điểm của hệ thống chính trị (như
trường hợp Liên Xô).
Giáo dục ở học đường Mỹ: Công nghiệp hóa liên kết với sự mở rộng giáo dục
học đường ở Mỹ, hệ thống giáo dục ở Mỹ cũng định hình bằng những giá trị
văn hóa khác biệt. Nước Mỹ xưa nay đặt sự nhấn mạnh vào văn hóa nhiều hơn
vào sự tham gia chính trị phổ biến, những quan điểm dân chủ như thế khuyến
khích sự mở rộng giáo dục chính quy, nước Mỹ là một trong những nước đầu
tiên ban hành luật giáo dục cưỡng bách và từ lâu có một tỷ lệ số người vào học

Theo Jacques Delors, chủ tịch ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỹ XIX viết: “
giáo dục phải đối mặt với vấn đề này hơn bao giờ hết, trong triển vọng một xã
hội toàn cầu ra đời một cách khó khăn: giáo dục đứng ở trung tâm của sự
phát triển vừa của con người, vừa của cộng đồng. Giáo dục có sứ mạng giúp
cho mọi người, không trừ một ai, được phát huy tất cả mọi tài năng và mọi
tiềm lực sáng tạo, bao gồm cả tinh thần trách nhiệm đối với đời sống của bản
thân và việc đạt được những mục đích cá nhân”.
 Đó là nền giáo dục thể hiện được tính mềm dẻo, đa dạng và khả thi trong
thời gian khác nhau và địa điểm khác nhau. Giáo dục trở thành một quá trình
liên tục về sự hình thành con người toàn diện, cả tri thức và cả những khả năng
của họ, bao gồm khả năng phán đoán trong tư duy giúp cho con người hiểu về
mình, hiểu về người khác, hiểu môi trường xung quanh để thực hiện tốt vai trò
và nghĩa vụ trong lao động sản xuất và trong đời sống xã hội.
 Đó là một nền giáo dục tạo ra được những cơ hội học tập cho mọi người
và mỗi cộng đồng có nhu cầu nắm bắt thông tin và tri thức, làm chủ các công
nghệ mới có ý nghĩa phát triển với họ. Những cơ hội học tập đó thể hiện 2
phương thức học tập: Học có hệ thống để làm giàu tri thức một cách toàn diện
và học theo yêu cầu cần gì học nấy.
 Nền giáo dục hiện đại nói trên giữ nguyên tắc hết sức coi trọng giáo dục
cơ sở, tận lực phát triển giáo dục trung học và đại chúng hóa giáo dục đại học.
Ngày nay, giáo dục cơ sở có nhiệm vụ chăm lo việc học cho gần 100 triệu người
lớn mù chữ, cho trên 130 triệu trẻ em chưa được đến trường và 100 triệu trẻ em
phải bỏ học giữa chừng.

11
 Giáo dục cơ sở phải bảo đảm cho tài năng của mọi trẻ em được phát huy,
hạn chế những thất bại học đường và cho chúng thấy được cuộc sống tốt đẹp
phía trước.
 Giáo dục trung học cần khắc phục được những trở ngại trong việc trẻ tốt
nghiệp đi kiếm việc làm và lo âu bởi chúng sẽ rơi vào nguồn nhân lực không

giáo dục người lớn khoảng 50% số dân. Giáo dục người lớn là một xu thế mạnh
mẽ và lâu dài, do đó, nền giáo dục phải định hướng vào xã hội học tập

12
Để xây dựng chiến lược học tập suốt đời, nhiều quốc gia thường chú ý đến
những hành động ưu tiên sau:
 Đánh giá việc học tập chính quy và không chính quy, thừa nhận các loại
chứng chỉ, bằng cấp ( tức là đánh giá sức học của con người).
 Tăng cường các dịch vụ thông tin.
 Hướng dẫn và tư vấn học tập.
 Đầu tư tài chính và thời gian học tập ( chú ý đầu tư của tư nhân).
 Gắn người học vào việc học.
 Cải cách giáo dục.
3. Xây dựng xã hội học tập ở một số nước trên thế giới.
3. 1 Nước Mỹ: Ngày 4/2/1997, Bill Clinton, nói đến hiện đại hóa nền giáo dục
và mục tiêu học tập suốt đời và đề cao việc học để đạt trình độ học vấn cao, mở
rộng biên giới của việc học suốt đời để người Mỹ ở độ tuổi nào cũng có cơ hội
học tập, Clinton chủ trương mở rộng các cửa trường đại học cho tất cả người
Mỹ, yêu cầu khấu trừ thuế lên tới 10.000 USD/ năm cho toàn bộ học phí ở cao
đẳng và đại học đề mọi gia đình không phải đóng thuế đối với khoản tiền mà họ
tiết kiệm để dành đóng học phí cao đẳng và đại học.
Mục tiêu giáo dục mà Clinton đưa ra gồm 4 điểm:
- Mọi trẻ em 8 tuổi phải biết đọc.
- Mọi trẻ em 12 tuổi phải khai thác được dữ kiện trên mạng Internet.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status