Đầu tư đổi mới công nghệ ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2000- 2005 - Pdf 10

Đề án môn học
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 2006, cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, Đảng và nhà nước đã
có những thay đổi lớn trong chính sách kinh tế xã hội. Đồng hành với những cơ hội
khi tiếp cận với thị trường thế giới, Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức.
Để đáp ứng được nhu cầu đó, nước ta đã chú trọng ưu tiên một số ngành trong đó
có ngành Dệt may. Vì vậy, để giữ vững vai trò là một ngành mũi nhọn trong nền
kinh tế đất nước thì ngoài sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế
vĩ mô cần phải có sự thay đổi từ chính các doanh nghiệp trong ngành mà quan
trọng nhất là tăng cường đầu tư cho đổi mới công nghệ. Xuất phát từ nhu cầu đó,
em quyết định chọn đề tài :
“Đầu tư đổi mới công nghệ ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2000-
2005”.
Đề tài gồm ba phần:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng đầu tư đổi mới công nghệ ngành Dệt may Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Th.s Đinh Đào Ánh Thủy đã tận tình hướng dẫn
em để em hoàn thành đề tài.
1
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
1
Đề án môn học
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
1. Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1. Khái niệm công nghệ
Theo Ngân hàng Thế giới (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hoá
các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: (1) Thông tin về phương pháp; (2)
Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; (3) Sự
hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”.

máy móc thiết bị hay phương pháp mới về sản xuất hay kỹ thuật, tổ chức, quản lý
hay marketing mà nhờ đó việc sản xuất ra sản phẩm sẽ đạt năng suất cao hơn, chi
phí thấp hơn, chất lượng cao hơn.
Như vậy có thể thấy , Đổi mới công nghệ là hoạt động bao gồm đổi mới sản
phẩm và đổi mới quy trình sản xuất. Đổi mới sản phẩm là việc tạo ra sản phẩm
hoàn toàn mới hoặc cải tiến các sản phẩm đã có của công ty mình hoặc công ty
khác. Điều này giúp công ty tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng độ hấp dẫn của sản
phẩm. Đổi mới quy trình sản xuất là việc tạo ra một quy trình sản xuất mới hoặc đạt
được những tiến bộ đáng kể về mặt công nghiệp đối với quy trình sản xuất. Đổi
mới quy trình sản xuất chính là đổi mới máy móc thiết bị.
2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ
2.1. Chỉ tiêu định lượng
2.1.1. Tỷ trọng máy móc thiết bị được hiện đại hóa (I
hd
):
I
hd
= x 100%
∆G
hd
= G
hd1
- G
hd0
: mức gia tăng MMTB
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
33
Đề án môn học
G
hd1


W
= W
1
- W
0
: Mức gia tăng năng suất lao động
Chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng trưởng về năng suất lao động của doanh
nghiệp nhờ đổi mới công nghệ. Nó cho biết một đồng vốn đầu tư cho đổi mới công
nghệ sẽ làm tăng năng suất lao động lên bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu
quả đổi mới công nghệ càng cao.
2.1.4. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đổi mới công nghệ tác động đến mức tăng
lợi nhuận (I
ln
):
I
ln
= x 100%

LN
= LN
1
- LN
0
LN
1
: Lợi nhuận kỳ báo cáo
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
44
Đề án môn học

Đề án môn học
vào cho khâu may, sản xuất dệt trong nước mới đáp ứng được 70-80% nhu cầu tiêu
dùng trong nước và hàng Dệt may Việt Nam chưa đủ sức cạnh tranh với sản phẩm
nước ngoài. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự đầu tư theo nhiều giai
đoạn, theo nhiều loại công nghệ và công nghệ của nhiều nước khác nhau dẫn tới
hiệu quả sản xuất toàn ngành không cao.
1.2. Trình độ công nghệ lạc hậu
Ngành Dệt may là một trong những ngành công nghiệp ra đời sớm nhất nước
ta và có nhu cầu về lao động rất lớn. Một kết quả thống kê cho thấy, ở miền Bắc
vẫn còn nhiều cơ sở Dệt may sử dụng thiết bị từ thập kỷ 60-70 , còn ở miền Nam
cũng còn nhiều nơi sử dụng máy móc của thập kỷ 70 . Thậm chí vẫn còn máy móc
thiết bị được sản xuất từ những năm 30-40. Mặc dù vậy, trên thực tế có một khó
khăn rất lớn là hầu hết các công ty đều có vốn nhỏ, hạn hẹp. Điều này là trở ngại
lớn cho việc đầu tư thay thế máy móc thiết bị.
2. Sự cần thiết phải đầu tư đổi mới công nghệ
Tổng công ty Dệt may Việt Nam nay là Tập đoàn Dệt may Việt Nam
(Vinatex) đặt ra mục tiêu phát triển đến năm 2010: “Hướng ra xuất khẩu nhằm tăng
nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo trả nợ và tái sản xuất mở rộng các cơ sở sản xuất của
ngành, đồng thời chiếm lĩnh thị trường tiêu dùng trong nước với những sản phẩm
phù hợp, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thực hiện đường lối
CNH-HĐH đất nước”. Để thực hiện được những mục tiêu đã đề ra, Tập đoàn Dệt
may nói riêng và các doanh nghiệp Dệt may nói chung cần phải đề ra các giải pháp
thích hợp để từng bước vươn lên đáp ứng yêu cầu hội nhập mà quan trọng nhất là
đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có và tạo ra
những sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao trên thị trường.
2.1. Đổi mới công nghệ nhằm phát huy vai trò của ngành Dệt may Việt
Nam với sự phát triển kinh tế xã hội
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
66
Đề án môn học

là Trung Quốc và Đài Loan. Sự cạnh tranh này sẽ càng khốc liệt hơn khi Việt Nam
gia nhập WTO bởi sự tràn vào ồ ạt của các doanh nghiệp nước ngoài. Trước đây,
vải sản xuất trong nước tiêu thụ chậm, ở thành phố lớn hàng sản xuất trong nước
không được ưa chuộng, ở nông thôn tiêu thụ chậm vì chất lượng thua kém, giá cao
hơn hàng Trung Quốc, mẫu mã kém phong phú hơn. Trong vài năm trở lại đây, do
nắm bắt nhu cầu người tiêu dùng nên ngành Dệt may đã có nhiều đổi mới. Hàng
Dệt may Việt Nam đang dần khẳng định vị trí trong lòng người tiêu dùng trong và
ngoài nước. Nhiều sản phẩm của các công ty Dệt may như May 10, Việt Tiến, Nhà
Bè, May Đức Giang… đang ngày càng trở nên quen thuộc với người dân và thoả
mãn về số lượng cũng như chất lượng, được nhiều người ưa thích và đoạt được giải
thưởng tại Hội chợ thời trang tháng 12/2005 tổ chức tại Hà Nội.
2.2. Đáp ứng nhu cầu công nghệ của ngành
Với tình trạng công nghệ hiện nay thì nhu cầu công nghệ của ngành là rất lớn
và rất cấp thiết. Để ngành Dệt may tiếp tục giữ vững vai trò của mình thì việc đáp
ứng nhu cầu về công nghệ là hết sức cần thiết.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp đều nhận
ra tầm quan trọng của đầu tư đổi mới công nghệ để đứng vững trên thị trường. Điều
này thể hiện trong điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW ở 65 doanh
nghiệp Dệt may Việt Nam.

Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
88
Đề án môn học
Bảng 2: Mức độ cần thiết tiến hành đổi mới công nghệ
của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Các hoạt động
Tỷ lệ doanh
nghiệp đánh giá là rất
cần thiết (%)
Điểm số trung

Đề án môn học
I. KHỐI LƯỢNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
1. Khối lượng vốn đầu tư
Khối lượng vốn đầu tư toàn ngành trong những năm qua có xu hướng tăng
và vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu vốn đầu tư,
thường là 40-60%. Theo kết quả thống kê cho bảng sau:
Bảng 3: Khối lượng vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ Tổng công ty Dệt may
Việt Nam giai đoạn 2000-2005
Năm Tổng mức đầu tư
(tỷ đồng)
Vốn đầu tư đổi mới công nghệ
(tỷ đồng)
Tỷ trọng
(%)
2000 2.066,8 1.126,0 54,48
2001 3.157,0 1.774,0 56,19
2002 2.111,8 1.036,0 48,89
2003 1.245,3 598,0 48,02
2004 1.514,6 709,6 46,85
2005 1.863,4 808,9 43,41
Tổng 11.948,9 6.052,5 TB:50,65

Nguồn: Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex)
Tuy vốn đầu tư giai đoạn 2000-2005 có tăng so với giai đoạn trước nhưng
xét về tỷ trọng vốn đầu tư dành cho đổi mới công nghệ thì có giảm. Nếu tỷ trọng
vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ giai đoạn 1996-2000 là 81,1 % thì sang đến giai
đoạn này chỉ còn trên 50% trên tổng vốn đầu tư. Có sự giảm tỷ trọng như trên là do
giai đoạn 1996-2000 có sự tập trung đầu tư hiện đại hóa máy móc thiết bị, nâng cao
năng lực sản xuất nhằm tạo ra bước nhảy vọt trong toàn ngành. Chính vì vậy từ
năm 2000 đến nay ngành không phải đầu tư nhiều cho công nghệ nữa mà chủ yếu

-Vốn cấp cho doanh nghiệp nhà nước Dệt may để đầu tư chiều sâu, mở
rộng các cơ sở sản xuất
-Vốn nhà nước đầu tư mới các cơ sở Dệt may
-Vốn nhà nước liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
1111
Đề án môn học
Tuy nhiên, ở nước ta do nguồn thu cho vốn ngân sách chưa đáp ứng được các
khoản chi tiêu, ngân sách thường xuyên phải đi vay nước ngoài nên đây chưa phải
là nguồn chính để giúp các doanh nghiệp Dệt may đầu tư đổi mới công nghệ. Theo
Bộ Công Nghiệp thì tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn ngành đến năm 2006 cần 900
nghìn tỷ đồng nhưng huy động ngân sách chỉ chiếm 7%, còn lại phải do các doanh
nghiệp tự tìm kiếm. Như vậy, mặc dù Dệt may Việt Nam nằm trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội nhưng vốn đầu tư từ ngân sách còn rất thiếu thốn. Dù đã có sự
gia tăng giữa các năm nhưng xét về mặt tỷ trọng thì tỷ trọng hiện nay không vượt
quá 0,6% lượng vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ.
2.1.2. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Đây là hình thức cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, được áp dụng cho các dự án
trong lĩnh vực ưu tiên của kế hoạch ngân sách nhà nước. Do lãi suất vay thấp và
thời gian vay dài nên nguồn vốn này ngày càng tăng và có vị trí quan trọng. Đây
được xem là nguồn vốn nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp Dệt may đổi mới
công nghệ.
Thực tế cho thấy nguồn vốn này biến động mạnh và khó dự đoán. Giai đoạn
1991-1997 là 236 tỷ đồng, trung bình là 26,2 tỷ/năm. Giai đoạn 2000-2005, nguồn
vốn này đạt cao nhất là vào năm 2002 là 224,0. Nhưng vào năm 2004 lại giảm đột
ngột xuống còn 135,4 tỷ đồng. Có thể thấy là qua các năm, nguồn vốn tín dụng này
đã tăng lên đáng kể, nếu duy trì được tốc độ như những năm 2001, 2002 thì chắc
chắn sẽ đảm bảo được nhu cầu về vốn cho ngành
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
1212

Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn có thể hy vọng vào nguồn khác triển vọng
hơn là nguồn vốn từ nước ngoài.
2.2. Nguồn vốn nước ngoài
Đây là nguồn vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nước đang phát
triển. Một mặt nó giải quyết tình trạng thiếu vốn cản trở quá trình đổi mới công
nghệ, mặt khác nước nhận đầu tư sẽ thu được lợi ích từ việc chuyển giao công
nghệ.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài
mà chủ đầu tư trực tiếp quản lý và sử dụng vốn, đầu tư cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận với ba hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh,
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Nếu chúng ta kêu
gọi và khuyến khích đầu tư FDI đúng hướng sẽ phục vụ cho phát triển kinh tế xã
hội nước ta, phát huy được lợi thế so sánh của nước ta và tạo điều kiện tiếp thu
những công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại của thế
giới.
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là khoản viện trợ không hoàn lại hoặc
các khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng
vay lớn của các chính phủ, tổ chức tài chính tiền tệ thế giới. Đây là hình thức đầu tư
mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn là hai chủ thể khác nhau. ODA cho ngành
Dệt may thời gian qua chủ yếu là dành cho xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng cho
ngành và hỗ trợ công tác xuất khẩu.
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại là nguồn vốn các doanh
nghiệp vay từ các tổ chức tài chính, ngân hàng nước ngoài lãi suất cao, thời hạn trả
nợ nhanh đáp ứng mục tiêu đầu tư ngắn hạn như: hỗ trợ nhập khẩu hàng hoá,
nguyên liệu nước ngoài, thâm nhập thị trường, nhập khẩu máy móc thiết bị…
Giai đoạn 1991-1996, đầu tư nước ngoài đạt 985,76 triệu USD; trong đó hình
thức liên doanh liên kết có tổng vốn đầu tư là 126,77 triệu USD chiếm 87,14%.
Đầu tư nước ngoài vào ngành Dệt may có 88 dự án với tổng vốn đầu tư là 189,46
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
1414

Phương thức đầu tư Tỷ lệ (%)
Tự tổ chức nghiên cứu và thiết kế trong nội bộ doanh nghiệp 32
Hợp tác với cơ quan khoa học nước ngoài 26
Hợp tác với cơ quan khoa học trong nước 5
Bắt chước thiết kế lại theo mẫu 54
Mua công nghệ từ trong nước 20
Mua công nghệ từ nước ngoài 54
Liên doanh liên kết với doanh nghiệp trong nước 20
Liên doanh liên kết với doanh nghiệp nước ngoài 23
Thuê tư vấn trong nước 18
Thuê tư vấn nước ngoài 3

Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát về đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công
nghiệp Việt Nam.
Từ kết quả nghiên cứu trên thấy rằng đa số các doanh nghiệp lựa chọn hình
thức khép kín, ít có sự giao lưu hợp tác với nước ngoài. Phương thức được áp dụng
nhiều nhất là mua công nghệ từ nước ngoài và bắt chước thiết kế lại theo mẫu đều
được 54% doanh nghiệp áp dụng. Hai phương thức này có chung một ưu điểm là
đều tiết kiệm được thời gian và chi phí nghiên cứu. Đặc biệt với phương thức mua
công nghệ từ nước ngoài thì có thêm một số ưu điểm như:
Tạo được sự tiến bộ đáng kể về thương mại và kỹ thuật thông qua việc mua
công nghệ từ nước ngoài: Khi mua công nghệ thì các doanh nghiệp sẽ có cơ hội
nhận được sự cung cấp tài liệu và huấn luyện đầy đủ để nâng cao kiến thức của
mình trong vận hành và sử dụng công nghệ, từ đó tăng khả năng sản xuất của máy
móc thiết bị và áp dụng quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm một cách thành
công. Đôi khi sự giúp đỡ thêm về tài chính, tìm thị trường và tiêu thụ sản phẩm của bên
cung cấp còn mở ra một khả năng thương mại cho các doanh nghiệp của chúng ta.
Đoàn Thị Thu Trang - Kinh tế Đầu tư 45C
1616
Đề án môn học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status