LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, ở nước ta ngành Dệt may đang được coi là một trong những
ngành mũi nhọn. Ngoài giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, ngành còn
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp lớn cho xuất khẩu, từ đó góp
phần tích lũy cho nền kinh tế trong quá trình CNH- HĐH đất nước. Trong xu thế
hội nhập mạnh mẽ ngày nay, ngành Dệt may Việt Nam đang đứng trước rất
nhiều thách thức bên cạnh những cơ hội lớn khi tiếp cận với nền kinh tế thế giới.
Vì vậy, muốn nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh thì
ngành Dệt may phải phát huy vai trò động lực của khoa học công nghệ trong sản
xuất kinh doanh. Muốn làm được điều đó thì ngành phải thực hiện đổi mới công
nghệ một cách hiệu quả. Xuất phát từ nhu cầu đó, em quyết định chọn đề tài :
“Đầu tư đổi mới công nghệ ngành Dệt may Việt Nam giai đoạn 2000-
2005”.
Đề tài gồm ba phần:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng đầu tư đổi mới công nghệ ngành Dệt may Việt
Nam
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Th.s Đinh Đào Ánh Thủy đã tận tình hướng
dẫn em để em hoàn thành đề tài.
1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
1. Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1. Khái niệm công nghệ
Theo Ngân hàng Thế giới (1985): Công nghệ là phương pháp chuyển hoá
các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: (1) Thông tin về phương pháp; (2)
Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; (3)
Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao".
Theo UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc): Công
nghệ là việc áp dụng khoa học công nghệ vào công nghiệp, bằng cách sử dụng
trình sản xuất. Đổi mới sản phẩm là việc tạo ra sản phẩm hoàn toàn mới hoặc cải
tiến các sản phẩm truyền thống của công ty mình hoặc công ty khác. Điều này
giúp công ty tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng độ hấp dẫn của sản phẩm. Đổi mới
quy trình sản xuất là việc tạo ra một quy trình sản xuất mới hoặc đạt được những
tiến bộ đáng kể về mặt công nghiệp đối với quy trình sản xuất. Đổi mới quy
trình sản xuất chính là đổi mới máy móc thiết bị.
2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ
2.1. Chỉ tiêu định lượng
2.1.1. Tỷ trọng máy móc thiết bị được hiện đại hóa (I
hd
):
I
hd
= x 100%
∆G
hd
= G
hd1
- G
hd0
: mức gia tăng MMTB hiện đại trong kỳ
G
hd1
: Giá trị MMTB hiện đại kỳ báo cáo
G
hd0
: Giá trị MMTB hiện đại kỳ gốc
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị máy móc thiết bị hiện đại gia tăng so với mỗi
đồng vốn đầu tư vào đổi mới công nghệ. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả đổi
mới công nghệ càng lớn.
1
: Năng suất lao động kỳ báo cáo
W
0
: Năng suất lao động kỳ gốc
Chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng trưởng về năng suất lao động của doanh
nghiệp nhờ đổi mới công nghệ. Nó cho biết một đồng vốn đầu tư cho đổi mới
công nghệ sẽ làm tăng năng suất lao động lên bao nhiêu. Chỉ tiêu này càng lớn
thì hiệu quả đổi mới công nghệ càng cao.
2.1.4. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đổi mới công nghệ tác động đến mức
tăng lợi nhuận (I
ln
):
I
ln
= x 100%
∆LN: LN
1
- LN
0
: Mức tăng lợi nhuận trong kỳ
LN
1
: Lợi nhuận năm báo cáo
LN
0
: Lợi nhuận năm gốc
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là với mỗi đồng vốn đầu tư cho đổi mới công
nghệ thì lợi nhuận tăng thêm là bao nhiêu.
2.2. Chỉ tiêu định tính:
Ngành Dệt may là một trong những ngành công nghiệp có lịch sử lâu đời
nhất nước ta và sử dụng nhiều lao động. Một kết quả thống kê cho thấy, vẫn còn
nhiều cơ sở sử dụng thiết bị từ thập kỷ 60-70 ở miền Bắc, thập kỷ 70 ở miền
Nam. Thậm chí vẫn còn máy móc thiết bị mang mác từ những năm 30-40. Mặc
5
dù vậy, trên thực tế có một khó khăn rất lớn là hầu hết các công ty đều có vốn
nhỏ, hạn hẹp. Điều này là trở ngại lớn cho việc đầu tư thay thế máy móc thiết bị.
2. Sự cần thiết phải đầu tư đổi mới công nghệ
Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex) đặt ra mục tiêu phát triển đến
năm 2010: “ Hướng ra xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo trả nợ
và tái sản xuất mở rộng các cơ sở sản xuất của ngành, đồng thời chiếm lĩnh thị
trường tiêu dùng trong nước với những sản phẩm phù hợp, góp phần tăng trưởng
kinh tế, giải quyết việc làm, thực hiện đường lối CNH-HĐH đất nước”. Để thực
hiện được những mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi phải có một hệ thống giải pháp cho
ngành Dệt may là cần thiết và cấp bách để từng bước vươn lên đáp ứng yêu cầu
hội nhập trong đó đầu tư đổi mới công nghệ là công tác quan trọng hàng đầu
nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có và tạo ra những sản phẩm mới có
tính cạnh tranh cao trên thị trường.
2.1. Đổi mới công nghệ nhằm phát huy vai trò của ngành dệt may Việt
Nam với sự phát triển kinh tế xã hội
2.1.1. Góp phần tăng tích luỹ vốn cho quá trình CNH-HĐH đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, giá trị sản xuất của ngành Dệt may chiếm 9%
giá trị toàn ngành công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu 12-15% tổng kim ngạch
xuất khẩu cả nước. Dệt may là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai (sau
xuất khẩu dầu thô) với tổng giá trị xuất khẩu là 4,4 tỷ USD (2004); 5,2 tỷ USD
(2005). Vì vậy ngành đã đóng góp một lượng ngoại tệ đáng kể cho ngân sách
quốc gia.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu ngành Dệt may Việt Nam qua các năm
Chỉ số
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp đều
nhận ra tầm quan trọng của đầu tư đổi mới công nghệ để đứng vững trên thị
trường. Điều này thể hiện trong điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW
ở 65 doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
7
Bảng 2: Mức độ cần thiết tiến hành đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp Dệt may Việt Nam
Các hoạt động
Tỷ lệ doanh nghiệp
đánh giá là rất cần thiết
(%)
Điểm số trung bình
Cải tiến các dây chuyền công
nghệ hiện đại
49 2,4
Đầu tư mới DCCN, MMTB 45 2,3
Nghiên cứu thiết kế và sản
xuất sản phẩm mới
55 2.5
Nâng cao nguồn nhân lực
công nghệ
38 2,3
Bố trí lại tổ chức sản xuất 38 2,3
Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát về đầu tư đổi mới công nghệ tại các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Đổi mới công nghệ là xu hướng tất yếu của ngành Dệt may Việt Nam để
tìm được chỗ đứng vững chắc cho mình trên thị trường trong và ngoài
nước.Nhìn vào kết quả điều tra trên có thể thấy rằng các doanh nghiệp đã đánh
giá cao vai trò của việc đầu tư đổi mới công nghệ. Đây là một dấu hiệu đáng
mừng hứa hẹn việc đầu tư trong tương lai sẽ được các doanh nghiệp xúc tiến.
Tình hình đầu tư ở Tổng công ty Dệt may Việt Nam cũng phản ánh tình
hình chung toàn ngành. Tuy vốn đầu tư giai đoạn 2000-2005 có tăng so với giai
đoạn trước nhưng xét về tỷ trọng vốn đầu tư dành cho đổi mới công nghệ thì có
giảm. Tỷ trọng vốn tư cho đổi mới công nghệ 2000-2005 là trên 50% tổng mức
vốn đầu tư trong khi ở giai đoạn 1996-2000 là 81,1%. Sở dĩ có sự giảm tỷ trọng
như trên là do giai đoạn 1996-2000 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ với mọi
tiềm lực để đầu tư hiện đại hóa máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất.
Chính vì vậy từ năm 2000 đến nay ngành không phải đầu tư nhiều cho công
nghệ nữa mà chủ yếu tập trung đầu tư theo chiều rộng. Trung bình mỗi doanh
nghiệp dệt may giành 2,9% doanh thu để đầu tư để cho đổi mới công nghệ. Có
khoảng 12 doanh nghiệp điển hình có tỷ lệ vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ
trên tổng doanh thu lớn hơn 5%: Công ty dệt kim Đông Xuân (25%); Công ty
Dệt nhuộm vải Phước Thịnh (24,61%); Công ty dệt 8/3 (11,2%); Công ty dệt
may Hà Nội (9%). Có thể thấy quy mô vốn đầu tư toàn ngành cũng như từng
doanh nghiệp đều tăng lên.
9
2. Nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ
Nếu với các nước phát triển trên thế giới thì kênh huy động vốn hiệu quả
là thị trường chứng khoán và đầu tư trực tiếp nước ngoài thì ở Việt Nam do thị
trường chứng khoán chưa phát triển nên chủ yếu chúng ta huy động thông qua
nguồn tích lũy trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy cần xem xét các
kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp dệt may bao gồm nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài. Nguồn vốn trong nước gồm có vốn từ ngân sách
nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tự có và khấu hao
của doanh nghiệp. Nguồn vốn nước ngoài gồm có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn tín dụng từ các ngân hàng
thương mại.
2.1. Nguồn vốn trong nước
2.1.1. Nguồn vốn ngân sách nhà nước
Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho
Chỉ tiêu
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tín dụng nhà nước
81,2 224,0 224,5 220,2 135,4 144,6
Ngân sách nhà nước
4,9 9,3 3,9 4,2 4,7 5,0
Nguồn khác
68,1 75,3 70,7 96 73,5 74,6
Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam
2.1.3. Nguồn vốn tự có và khấu hao của doanh nghiệp
Nguồn vốn tự có là nguồn từ tiết kiệm dân cư và tĩch lũy của doanh
nghiệp đưa vào sản xuất.
Vốn khấu hao là toàn bộ số tiền trích khấu hao được tích lũy lại. Vốn
khấu hao không thuộc sản xuất kinh doanh mà là nguồn vốn để tái sản xuất giản
đơn tài sản cố định. Ở Việt Nam, đối với mỗi doanh nghịêp thì tỷ lệ vốn khấu
hao được quy định khác nhau và luôn được đề cao nhằm phát huy đổi mới tính
tự chủ của doanh nghiệp trong ngành và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thường thì
11
các doanh nghiệp nhà nước được sự đầu tư ban đầu của nhà nước sẽ có tiềm lực
vốn khá hơn doanh nghiệp tư nhân.
Để huy động vốn trong nước phục vụ cho đầu tư đổi mới công nghệ, các
doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cho riêng mình: dựa vào tiềm lực của mình là
vốn tự có và khấu hao, vay tín dụng nhà nước hay ngân sách nhà nước. Đây là
câu hỏi lớn đối với các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư đổi mới công nghệ.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn có thể hy vọng vào nguồn khác triển
vọng hơn là nguồn vốn từ nước ngoài.
2.2. Nguồn vốn nước ngoài
Đây là nguồn vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nước đang
phát triển. Một mặt nó giải quyết tình trạng thiếu vốn cản trở quá trình đổi mới
chính là xúc tiến đầu tư vào Dệt may Việt Nam.
Theo hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), Tập đoàn Pamatex Berhad
(Malaixia) với vốn đầu tư hơn 100 triệu USD đã được cấp phép đầu tư vào khu
kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam), Công ty Daewon (Hàn Quốc) quyết định đầu
tư xây dựng 1 nhà máy may xuất khẩu trị giá 8 triệu USD tại khu công nghiệp
Hòa Khánh (Đà Nẵng) sau khi đã đầu tư 1 nhà máy may tại khu công nghiệp
Vĩnh Lộc ( thành phố Hồ Chí Minh) và một nhà máy dệt tại khu công nghiệp
Nhơn Trạch I (Đồng Nai). Qua các sự kiện trên cho thấy triển vọng huy động
vốn cho ngành từ đầu tư nước ngoài là rất lớn.
Hiện nay, trong tất cả các nguồn vốn trong và ngoài nước thì vốn tín dụng
đầu tư phát triển của nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất, vốn tín dụng thương mại
chiếm 30%, ODA là 20%, vốn tự có và ngân sách là thấp nhất.
II. PHƯƠNG THỨC ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Đa số các doanh nghiệp sử dụng kết hợp nhiều phương thức, rất ít doanh
nghiệp chỉ sử dụng một phương thức đổi mới công nghệ. Trong đó, tự tổ chức
nghiên cứu được tiến hành song song với việc mua công nghệ mới nhằm mục
đích tăng hiệu quả ứng dụng và vận hành công nghệ.
13
Bảng 5: Phương thức đầu tư đổi mới công nghệ của 64 doanh nghiệp dệt
may Việt Nam.
Phương thức đầu tư
Tỷ lệ
(%)
Tự tổ chức nghiên cứu và thiết kế trong nội bộ doanh nghiệp 32
Hợp tác với cơ quan khoa học nước ngoài 26
Hợp tác với cơ quan khoa học trong nước 5
Bắt chước thiết kế lại theo mẫu 54
Mua công nghệ từ trong nước 20
Mua công nghệ từ nước ngoài 54
Liên doanh liên kết với doanh nghiệp trong nước 20
Có thể có được những điều khoản hợp đồng có lợi: Việc đàm phán hợp
đồng tiếp nhận công nghệ có thể tạo ra nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp.
Tuy nhiên,việc mua công nghệ từ nước ngoài cũng có nhiều hạn chế, có
thể gây cho các doanh nghiệp dệt may nhiều rủi ro
Thứ nhất, bên nhận công nghệ sẽ trở nên thụ động, bị lệ thuộc vào cơ
quan nước ngoài đến khi nào nắm vững đầy đủ và thích ứng tới mức cần thiết
công nghệ với điều kiện của mình. Mua công nghệ đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp không tự nghiên cứu trong nội bộ và như vậy thì doanh nghiệp sẽ đánh
mất sự chủ động sáng tạo, công tác tổ chức nghiên cứu sẽ không thể phát triển
được. Thậm chí còn xảy ra tình trạng doanh nghiệp phải thay đổi điều kiện của
mình để có thể tiếp nhận công nghệ.
Thứ hai, có thể có rủi ro, thất bại về kỹ thuật khi được chuyển giao: Với
trường hợp mua công nghệ đã qua sử dụng thì rủi ro mua phải công nghệ đã quá
lạc hậu là rất lớn. Còn đối với công nghệ mới thì mặc dù đã được xem xét cẩn
thận vẫn còn có những rủi ro do những thiếu sót trong công nghệ. Các doanh
nghiệp phải hết sức thận trọng khi đánh giá năng lực sở tại hiện có và khả năng
của mình để tiếp nhận và làm chủ công nghệ được chuyển giao. Chỉ có sự đánh
giá đầy đủ ưu, nhược điểm của công nghệ và bên cung cấp kỹ thuật mới có thể
giúp đỡ để hạn chế thấp nhất rủi ro.
Thứ ba là rủi ro xuất phát từ bản thân bên cung cấp công nghệ về kiến
thức, kinh nghiệm
15