Tài liệu Luận văn: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ KINH DOANH CỦA CÔNG TY NHỰA CAO CẤP HÀNG KHÔNG doc - Pdf 10

Luận văn
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
VÀ THỰC TRẠNG VỀ HOẠT
ĐỘNG QUẢN TRỊ KINH DOANH
CỦA CÔNG TY NHỰA CAO CẤP
HÀNG KHÔNG
PHẦN I: SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CÁC
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY

1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên giao dịch (Trong nước): Công ty Nhựa cao cấp Hàng Không
Tên giao dịch (Quốc tế) : APLACO (Aviation high grade plastic
Company)
Địa chỉ : Sân bay Gia Lâm - Hà Nội
Công ty Nhựa cao cấp Hàng Không là một doanh nghiệp Nhà nước,
hoạt động sản xuất công nghiệp trực thuộc sự quản lý về mặt Nhà nước
của Cục Hàng Không dân dụng Việt Nam.
Tổ chức tiền thân của Công ty là xí nghiệp hoá nhựa cao sự hàng
không. Công ty được chính thức thành lập theo quyết định số 732/QĐ -
TCHK ngày 04/11/1989 của Tổng cục trưởng Tổng cục hàng không dân
dụng Việt Nam.
Tổng số vốn được giao ban đầu là 1.100.000.000 (theo thời giá
1989). Mục tiêu của giai đoạn này là xí nghiệp hoá nhựa cao sự Hàng
không thực hiện các nhiệm vụ Tổng cục hàng không dân dụng giao cho đó
là thực hiện sản xuất thu hút nhân lực dôi thừa đảm bảo sản xuất và tạo đà
phát triển. Đồng thời không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, xí nghiệp
thực hiện hạch toán độc lập tự bù đắp chi phí và thực hiện nghĩa vụ với

theo quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước ban hành theo
nghị định số 338/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ). Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã ra quyết định số 1125
QĐ/TC - LĐ ngày 21/7/1994 về việcthành lập Công ty Nhựa cao cấp Hàng
Không, trực thuộc Cục Hàng không dân dụng Việt Nam.
Đây cũng là tên giao dịch chính thức của Công ty cho đến nay. Do sự
chuyển đổi cơ chế trong việc xác định thành lập các Tổng Công ty chủ lực
của đất nước. Công ty nhựa cao cấp Hàng không chính thức được trở thành
đơn vị hạch toán độc lập của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam tại quyết
định số 328/QĐ - TCTHK (ngày 27/5/1995) của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, theo nghị định số
04/CP ngày 27/1/1996 của Thủ tướng Chính phủ quy định về điều lệ tổ
chức và hoạt động của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.
Chức năng chính của Công ty là cung cấp các sản phẩm nhựa phục
vụ cho nhu cầu của ngành Hàng không Việt Nam và các hãng Hàng không
đi đến Việt Nam. Ngoài ra, Công ty còn sản xuất một số sản phẩm nhựa
phục vụ cho nhu cầu của các nhóm khách hàng công nghiệp và dân dụng,
bao bì đóng gói, linh kiện xây dựng trong nước và xuất khẩu.
Trên đây là sự khái quát về lịch sử hình thành của Công ty còn quá
trình phát triển của Công ty có thể chia thành các giai đoạn sau:
* Giai đoạn I (1989 - 1991)
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của Công ty. Với tổng số vốn được
giao là 1.100.000.000 (đồng), có trụ sở chính đặt tại Sân bay Gia Lâm - Hà
Nội. Hoạt động với mục tiêu là cung cấp các sản phẩm nhựa phục vụ hành
khách đi máy bay. Nhưng do cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cũ kỹ, trình
độ công nhân còn thấp, chủng loại sản phẩm ít, do đó hoạt động kinh doanh
của Công ty hầu như không có lãi. Lực lượng lao động chủ yếu sống bằng
lương bao cấp của Tổng cục Hàng không. Vì vậy, doanh số giảm từ 954 -
240 đồng năm 1990 xuống còn 301.893.000 đồng năm 1991.
* Giai đoạn II (1992 - 1995).

hoạt động là 11.000m
2
, có 07 phòng chức năng; 03 phân xưởng sản xuất
chính, 01 phân xưởng sản xuất phụ và 01 chi nhánh ở thành phố Hồ Chí
Minh. Năm 2001, tổng số công nhân viên của toàn Công ty là 200 người.
2. Mô hình tổ chức quản lý của Công ty.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY Ghi chú: Quan hệ chức năng
Quan hệ trong hệ thống chất lượng

Từ năm 1996 đến nay, sau khi được chính thức trở thành một đơn vị
hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam thì quy
mô, cơ cấu tổ chức của Công ty hoạt động tương đối ổn định.

tiêu
th


Phòn
g
kỹ
thuậ
t

Phòn
g
chất
lượn
g

Phân
xưởn
g
phun
ép
Phân
xưởn
g in
màng
m

ng

Phân

- Phó giám đốc (PGĐ).
Phó giám đốc tham mưu, giúp việc cho giám đốc về mọi mặt hoạt
động của Công ty, thay mặt giám đốc ký các phiếu xuất, nhập
Đồng thời phó giám đốc còn là người thay mặt giám đốc đôn đốc
việc th các kế hoạch sản xuất kinh doanh, nắm bắt các thông tin về thị
trường giá cả và tổng hợp toàn bộ tình hình Công ty báo cáo cho giám đốc.
- Phòng kế toán - tài chính (KT - TC)
Phòng kế toán - tài chính gồm 06 nhân viên có chức năng tham mưu
giúp việc cho cơ quan giám đốc về công tác kế toán tài chính của Công ty
nhằm sử dụng tiền và vốn đúng mục đích, đúng chế độ chính sách, hợp lý
và phục vụ cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Ngoài ra phòng kế toán -
tài chính còn tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kế toán - tài chính cho giám
đốc kiểm soát và chịu trách nhiệm về toàn bộ những hoạt động của Công ty
có liên quan đến lĩnh vực tài chính doanh nghiệp (chịu trách nhiệm trong
việc tạo nguồn).
Cùng với các bộ phận chức năng và phân xưởng lập các định mức
vật tư kỹ thuật, xây dựng đơn giá tiền lương và quỹ tiền lương theo kế
hoạch. Vì vậy phòng kế toán - tài chính không tham gia vào việc thanh toán
tiền lương.
Phòng kế toán - tài chính phải căn cứ vào các số liệu báo cáo lên từ
phân xưởng và phòng kế hoạch để tính giá thành công xưởng và giá thành
đầy đủ làm căn cứ cho phòng kế hoạch định mức giá bán sao cho có lợi
nhất cho Công ty.
Phòng còn thực hiện quá trình bảo quản sổ sách, các số liệu tài chính
kế toán của Công ty, có trách nhiệm huy động các nguồn tài chính cho
Công ty. Định kỳ hàng quý các báo cáo về tình hình tài chính của doanh
nghiệp theo yêu cầu của các đối tượng quan tâm.
- Phòng tổ chức cán bộ -lao động tiền lương.
Phòng tổ chức cán bộ - Lao động tiền lương gồm có 06 nhân viên có
nhiệm vụ là quản lý chung về công tác nhân lực: sắp xếp, điều động nhân

hợp đồng xây dựng. Ngoài ra, phòng còn đôn đốc thực hiện kế hoạch sản
xuất của các đơn vị để đảm bảo hoàn thành kế hoạch của Công ty.
Tại Công ty nhựa cao cấp Hàng không, phòng kế hoạch có quan hệ
mật thiết với phòng kế toán - tài chính trong việc xác định chi phí sản xuất
cũng như xác định kết quả tiêu thụ của Công ty. Việc tiêu thụ sản phẩm của
Công ty cũng tương tự việc nhập nguyên liệu đầu vào. Tất cả các hoá đơn
xuất bán thành phẩm trực tiếp hay giữ bán đều phải thông qua phòng kế
hoạch và phải có chữ ký của phòng kế hoạch, sau đó các hoá đơn này được
chuyền qua phòng kế toán - tài chính để thanh toán và xác định kết quả
kinh doanh.
Chính vì có quan hệ mật thiết trên mà phòng kế hoạch và phòng kế
toán thường phối hợp với nhau để xây dựng và điều chỉnh chính sách giá
thành hợp lý, phân bố và điều động kế hoạch sản xuất cho các phân xưởng.
- Phòng Marketing và tiêu thụ.
Phòng bao gồm 06 người được tách ra từ phòng kế hoạch. Nhiệm vụ
của phòng là giới thiệu sản phẩm, triển khai việc tiêu thụ hàng hoá vào thị
trường tự do. Phòng có chức năng tham mưu cho cơ quan giám đốc tổ chức
kinh doanh thương mại tại thị trường trong và ngoài nước.
Đồng thời phòng phải nghiên cứu sản phẩm chào hàng, tổ chức
thông tin quảng cáo, đàm phán ký hợp đồng tiêu thụ với khách hàng và đặt
hàng sản xuất với phòng kế hoạch.
Phòng tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm và các hàng hoá khác
theo quy định của Công ty tại thị trường trong và ngoài nước nhằm đáp ứng
yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty để đạt hiệu quả kinh tế cao.
Ngoài ra phòng còn thường xuyên nghiên cứu thị trường, nhu cầu và
mong muốn của khách hàng. Lập kế hoạch và phân bố nỗ lực Marketing để
đạt hiệu quả trong kinh doanh.
Tổ chức qk Marketing của phòng bao gồm đảm bảo kế hoạch quảng
cáo dịch vụ, kích thích tiêu thụ, tư vấn bán hàng và huấn luyện nhân viên,
tổ chức tham ia các kỳ hội chợ, triển lãm

Công ty giao nhiệm vụ chính là sản xuất các mặt hàng bằng công nghệ thồi
màng mỏng và in trên màng mỏng.
- Phân xưởng bao bì hút chân không
Là phân xưởng hạch toán, báo sổ, tham mưu giúp việc cho giám
đốc Công ty quản lý, điều hành và thực hiện công việc theo kế hoạch được
Công ty giao nhiệm vụ chính là sản xuất các mặt hàng bằng nhựa bằng
công nghệ hút chân không.
Ba phân xưởng này là các đơn vị sản xuất chính của Công ty, tổ
chức sản xuất hoàn chỉnh sản phẩm nhựa (polyme) từ khâu nhận nguyên
liệu phụ liệu đến nhập kho thành phẩm theo yêu cầu của lệnh sản xuất.
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TRIỂN KHAI SẢN XUẤT Ở PHÂN XƯỞNG Phòng kế hoạch Phòng kỹ thuật
Phân xưởng nhận lệnh Giám đốc
Người được uỷ quyền
Phòng kỹ thuật
Phân xưởng nhận lệnh Phòng kế hoạch + kỹ thuật


Lập kế hoạch sản xuất và lựa
ch

n thi
ế
t b
ịChuẩn bị sản xuấ
t
Sản xuất hàng
lo

t

Kiểm tra và đóng
gói

Nhập kho
còn sản xuất và cung ứng hàng hoá cho thị trường trên cơ sở tự đảm bảo
các nguồn lực và chủ động khâu tiêu thụ theo đúng quy định của Nhà nước.
- Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh
Là đơn vị thành viên hạch toán báo sổ, trực thuộc Công ty nhựa cao
cấp Hàng không. Chi nhánh hoạt động trong các lĩnh vực, khai thác thị
trường phía Nam, sản xuất kinh doanh của sản phẩm nhựa và giới thiệu sản
phẩm Công ty.
Ngoài ra Công ty còn có một cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại Hà
Nội với chức năng giới thiệu, trưng bày, bán buôn bán lẻ cho khách hàng

dĩa, các laọi khay đựng thức ăn chuyên dùng trên máy bay.
Bên cạnh đó Công ty còn sản xuất theo hợp đồng đối với các doanh
nghiệp sản xuất khác như: Công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Công
ty Muối, Công ty Bánh kẹo Hải Châu, Hải hà KOTOBUKI Còn lại là
các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thị trường tự do như ghế nhựa, mâm
nhựa, các linh kiện cho công nghiệp và xây dựng như thiết bị vệ sinh 707,
706, bộ thiết bị gương và phụ trợ cho trang trí nội thất
* Đặc điểm về quy trình công nghệ.
Do mỗi laọi chi tiết sản phẩm đều có đặc thù kỹ thuật khác nhau và
đều được sản xuất từ một quy trình công nghệ riiêng nên những đặc điểm
của quy trình sản xuất này sẽ ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất và tổ
chức quản lý Công ty. Mặt khác, sản phẩm sản xuất ra lại vừa đơn giản và
vừa đưa ra sản phẩm lắp ráp liên hoàn khép kín nên việc tổ chức hạch toán
kế toán tại Công ty khá đơn giản . Hạch toán cpó sản xuất và tình giá thành
sản phẩm được tiến hành tổng hợp tại phòng kế toán. Theo phương thức
hạch toán tính giá thành sản phẩm không phân bước, không tính giá thành
bán thành phẩm, toàn bộ chi phí sản xuất được tập hợp về phòng kế toán
đến cuối kỳ căn cứ vào số thành phẩm nhập kho sẽ tính giá thành riêng cho
từng loại sản phẩm.

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CHẾ TẠO CÁC LOẠI SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY


PE

Hoá nhựa Hoá nhựa Cắt màng
Phun ép khuôn

Dùn thổi màng Đặt khuôn
Gia công nhỏ Cắt dán đột
Hút chân không

Đóng gói thành
ph

m

Bao bì đóng gói Nắp khay
Nhập kho phân
x
ư

ng nh

a

Nhập kho phân
x
ư

ng màng


ty Nhìn chung các quy trình chế tạo sản phẩm của Công ty đều mang
tính chất quy trình công nghệ hiện đại nhưng việc thao thác lại đơn giản,
chế biến kiểu liên tục khép kén không phân bước. Sản phẩm hoàn thành
nhập kho là kết quả của một quá trình sản xuất liên từ khi đưa nguyên liệu
vào sản xuất đến khi nhận được sản phẩm hoàn thành nhập kho. Trong quá
trình sản xuất đều sử dụng một nguyên liệu chính đó là hạt nhựa, chu kỳ
sản xuất sản phẩm ngắn và tương đương với thời gian chế tạo sản phẩm của
máy.
Đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm là ngành công
nghiệp sản xuất từ chất dẻo vừa đưa ra sản phẩm đơn lẻ mang tính chất
đơn giản, không có những bộ phận và chi tiết lẻ lắp ráp thành sản phẩm mà
sản xuất xong phải qua khâu gia công, cắt gọt, cạo via và bao bì đóng gói
để nhập kho thành phẩm.
* Đặc điểm về trang thiết bị chủ yếu.
Ta thấy so với các doanh nghiệp cùng ngành nhựa ở Việt Nam thì
Công ty nhựa cao cấp Hàng không có cơ sở vật chất và công nghệ sản xuất.
Ở trình độ khá cao. Các máy móc thiết bị đang hoạt động đều là máy mới,
hiện đại như máy phun ép nhựa nhập từ Đài Loan, Nhật Bản và máy hút
chân không nhập từ Đài Loan và các thiết bị đó có đủ sức để tạo ra các
sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao nhằm thoả mãn nhu cầu của các nhóm
hàng mục tiêu trong và ngoài nước đặc biệt đối với các sản phẩm phục vụ
cho ngành Hàng không thì luôn luôn được đảm bảo tiêu chuẩn của thế giới.
* Đặc điểm về nguyên vật liệu đang sử dụng
Hầu hết các nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra sản phẩm cua Công
ty là nhập khẩu như là các hạt nhựa (hạt nhựa trắng, hạt nhựa màu, màng
nhựa) đều từ nước ngoài như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapo,
Thái Lan ngoài ra còn có một số chất phụ gia khác. Những năm gần đây

* Phân xưởng Nhựa
Đây là phân xưởng chủ lực của Công ty, phân xưởng này quyết định
chủ yếu đến sự phát triển của Công ty. Phân xưởng cung cấp 70% chủng
loại sản phẩm và chiếm 43% nhân lực toàn Công ty. Phân xưởng nhựa có
nhiệm vụ sản xuất chủ yếu các mặt hàng nhựa cao cấp như: cốc cà phê, bộ
dao dĩa thìa, cốc ly, xô nhựa, ghế và các đồ dùng khác phục vụ cho các
chuyến bay. Ngoài ra, phân xưởng còn sản xuất các loại hộp nhựa đựng
bánh kẹo và rất nhiều các sản phẩm nhựa khác dùng cho sản xuất công
nghiệp hoặc phục vụ thị trường tiêu dùng.
Công nhân của phân xưởng được chia thành từng tổ, từng nhóm tuỳ
theo công việc mà công nhân thực hiện, nhằm chuyên môn hoá sản xuất
trong phân xưởng. Mỗi (tổ) nhóm này do một tổ trưởng quản lý.
Phân xưởng Nhựa hiện có các tổ: tổ vận hành thiết bị, tổ công nghệ,
tổ hoàn thiện sản phẩm và tổ đóng gói, KCS.
Các tổ sản xuất này chịu sự quản lý chung của phó quản đốc phân
xưởng.
* Phân xưởng màng mòng và in trên màng mỏng.
Với các máy công nghiệp phục vụ cho việc thổi túi, cắt dán túi và in
túi sản phẩm chủ yếu của phân xưởng này là các loại túi, bao bì với các
kiểu, các kích cỡ khác nhau, sản phẩm được sản xuất từ hạt nhựa PEHO,
PELD. Ở phân xưởng này sản phẩm có quy tình công nghệ riêng biệt độc
lập cũng giống như phân xưởng Nhựa thì phân xưởng màng mỏng cungx
được chia thành các tổ như: tổ vận hành thiết bị, tổ in túi, tổ dán túi.
Quy trình sản xuất của phân xưởng được chia làm ba giai đoạn
chính:
Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: sàng lọc hạt nhựa PE, hạt PHHD,
PSHX và pha trộn hạt nhựa với vật liệu phụ, bột ty tan, bột mầu theo tỷ lệ
thích hợp để chọn màu cho sản phẩm.
Giai đoạn điều khiển máy sản xuất (trực tiếp sản xuất): kiểm soát
hoạt động của máy và xử lý các trường hợp hỏng hóc xảy ra đối với sản

1. Số lao
động
Người 150

158

158

160

164

178

180

180

2. Tổng TS Triệu đồng

12.60
0

13.00
0

13.40
0

16.00

20.00
0

- TSGĐ 5.600

6.000

6.500

7.500

7.300

7.300

7.502

9.000

3. Doanh thu 13.00
0

16.15
0

21.80
0

23.07
0

Như vậy, trong những năm gần đây, tình hình doanh thu và lợi nhuận
đã có hướng giảm xuống. Đây là một kết quả tất yếu đối với các doanh
nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ khi phải đối đầu với cuộc khủng hoảng
kinh tế Châu Á.
Ta biết kinh tế thị trường luôn luôn biến động và đầy rủi ro, tuy có
nhiều cơ hội xong có thể đạt được hiệu quả cao trong hoạt động, vừa tránh
được những nguy cơ trong sản xuất kinh doanh, Công ty coi chức năng
chính là sản xuất kinh doanh và các hoạt động Thương mại hỗ trợ cho
nhiệm vụ sản xuất chính của Công ty nhằm tăng thêm thu nhập cho người
lao động.
Tính từ khi thành lập đến nay, nhiệm vụ của Công ty tuy có những
thay đổi nhưng nhiệm vụ chính vẫn là sản xuất các mặt hàng nhựa phục vụ
các dịch vụ ngành Hàng không. Cùng với sự đa dạng các thành phần kinh
tế của nền kinh tế thì hiện nay Công ty còn có thêm một số định hướng
khác nhằm phát huy thế mạnh của các bên tham gia.
* Phương hướng hoạt động kinh doanh của Công ty đó là:
thực hiện liên doanh liên kết trực tiếp với các cơ sở sản xuất kinh
doanh trong nước và ngoài nước nhằm phát triển sản xuất, mở rộng phạm
vi sản xuất kinh doanh (Nhưng chiến lược chính của Công ty vẫn là trú
trọng vào chiếm lĩnh hoàn toàn thị trường nội địa).
Mặt khác Công ty còn từng bước nâng cao chất lượng cơ sở vật chất
kỹ thuật, đầu tư thêm thiết bị phục vụ lao động, nâng cao năng suất, lao
động thông qua việc sử dụng các trang thiết bị hiện đại dần từng bước hiện
đại hoá trong lao động và trong sản xuất kinh doanh.
Đồng thời Công ty còn mở rộng thị trường ngoài ngành song song
với thị trường trong ngành Hàng không, khẳng định chỗ đứng trên thị
trường bằng việc đa dạng hoá sản phẩm với các sản phẩm chất lượng cao.
Đặc biệt Công ty còn chú trọng vào việc đầu tư cải thiện nguồn lực
(nhân lực, vật lực, tài lực) bằng việc thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng
thêm cho cán bộ công nhân viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status