LỜI MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Trong thời đại ngày nay xu hướng của nền kinh tế Thế giới nói chung
và của Nước ta nói riêng là sự Quốc tế hoá và Hợp tác hoá. Nền kinh tế
càng được Quốc tế hoá bao nhiêu thì sự cạnh tranh giữa các Quốc gia, các
Doanh nghiệp ngày càng trở nên mạnh mẽ bấy nhiêu. Chính vì thế các
doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường đều phải tự tìm
cho mình một hướng đi, đó là phải tự tìm được đầu ra cho sản phẩm của
mình và mang lại lợi nhuận cao.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, cơ chế thị trường
ngày càng mở rộng thì doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì
phải tìm biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Đây là
vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất đồng thời
cũng là mối quan tâm của toàn Xã hội. Và Công ty in Tài chính cũng trong
khó khăn chung của ngành in, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau về thị
phần, khoa học công nghệ phát triển lớn mạnh,…thì vấn đề tiết kiệm chi
phí và hạ giá thành đối với mỗi doanh nghiệp là vấn đề nan giải. Do vậy
việc hạch toán chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp tính đủ giá thành sản
phẩm, có thể tính chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kịp thời
đưa ra các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đó chính là
điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị
trường từ đó nâng cao lợi nhuận của mình trong sản xuất kinh doanh.
Chính vì lẽ đó mà kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
là một đáp án hay cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác kế toấn chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm. Em đã mạnh dạn chọn đề tài.
“ Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Công ty
In tài chính“.
2/ Mục tiêu của đề tài:
1
- Góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện một cách có hệ thống những lý
thành ở doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2 : Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành
sản phảm ở Công ty in Tài chính.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm ở Công ty in Tài chính.
Kết luận:
Qua quá trình tìm hiểu lý luận và tiếp cận với thực tế để hoàn thiện đề tài
này mặc dù Em đã nhận được sự giúp đỡ của Thầy giáo-PGS-TS Lê Gia
Lục , các Cô, Chú trong phòng kế toán cùng sự nỗ lực của bản thân nhưng
do trình độ có hạn nên bài viết của Em khó tránh được những thiếu sót và
hạn chế. Em rất mong được tiếp thu và chân thành cám ơn những ý kiến
của các Thầy, Cô giáo để Em có điều kiện bổ xung, nâng cao kiến thức của
mình hơn nữa.
Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2001
Sinh viên:
Đầu Vũ Hoan.
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
I/ Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất (CPSX) và giá
thành sản phẩm (GTSP) là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các
nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm. Vì nó là những chỉ tiêu phản ánh chất
lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm đáp ứng đầy đủ, trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Kế toán cần thực
hiện các nhiệm vụ sau đây.
Thứ nhất: Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức
kỳ nhất định.
1.2. Sự khác nhau giữa 2 khái niệm chi phí sản xuất (CPSX) và chi tiêu.
Để hiểu đúng chi phí sản xuất cần phân biệt hai khái niệm này. Chỉ
được tính là chi phí (CP) của kỳ hạch toán là những hao phí về tài sản và
lao động có liên quan đéen khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ
không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Còn chi tiêu (CT) là sự
giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp bất kể
nó được dùng vào mục đích gì.
Như vậy, có thể nói, chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau
cần phải phân biệt. Điều này có ý nghĩa trong tìm hiểu bản chất cũng như
nội dung phạm vi và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, từ đó tính
đúng giá thành sản phẩm nhằm hạch toán chính xác (lãi, lỗ) và có quyết
định đầu tư đúng đắn.
1.3. Phân loại chi phí sản xuất (CPSX).
5
Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp thông tin, góc độ xem
xét chi phí, mà chi phí sản xuất được phân loại theo các tiêu thức sau.
1.3.1 Phân theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí.
- Chi phí nguyên vật liệu (CPNVL).
- Chi phí nhân công (CPNC).
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương.
- Chi phí các khoản trích theo lương bao gồm: BHXH, BHYT,
KPCĐ.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định (CPKHTSCĐ).
- Chi phí dịch vụ mua ngoài (CPDVMN).
- Chi phí khác bằng tiền (CPKBT).
Tác dụng: Cách phân loại này có tác dụng cho biết kết cấu, tỷ trọng
từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra cho hoạt động sản xuất kinh
doanh để lập bảng thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho yêu cầu
thông tin và quản trị doanh nghiệp để phân tích tình hình thực hiện dự toán
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp đến một
đối tượng chịu chi phí (một loại sản phẩm, một giai đoạn công nghệ, một
phân xưởng sản xuất,.. ).
- Chi phí gián tiếp: Là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi
phí, do vậy cần tiến hành phân bổ các chi phí đó cho các đối tượng bằng
phương pháp gián tiếp.
Tác dụng: Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định
phương pháp tập hợp chi phí vào các đối tượng phục vụ cho việc tính giá
thành sản phẩm,..
2/ Khái niệm, phân loaị giá thành sản phẩm (GTSP):
2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm (GTSP).
7
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất tính cho
một khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất đã
hoàn thành.
Tác dụng: Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả sử dụng các loại tài sản,
vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp
kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản
xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và
hạ giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán, xác định hiệu quả kinh tế
các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp,…
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm (GTSP).
Để giúp việc nghiên cứu, quản lý tốt giá thành. Kế toán cần phân biệt
các loại giá thành: Có 2 cách phân loại chủ yếu.
2.2.1 Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá (về mặt quản
lý).
- Giá thành kế hoạch: Được xây dựng trước khi bước vào hoạt động sản xuất
kinh doanh đựơc tính trên cơ sở sản lượng kế hoạch và CPSX theo kế
1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất (CPSX).
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn để tập hợp các chi
phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
1.1.1 Căn cứ xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở doanh
nghiệp.
Việc lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp có
sự khác nhau, điều đó phụ thuộc vào các đặc điểm sau.
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Đặc điểm quy trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Mục đích và công dụng của chi phí đối với quá trình sản xuất.
9
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Tuỳ theo đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp mà đối tượng hạch toán
CPSX có thể là từng phân xưởng, từng bộ phận, từng đơn đăt hàng, từng
nhóm sản phẩm.
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trước hết căn cứ vào
mục đích sử dụng của chi phí, sau đó căn cứ vào địa điểm phát sinh chi phí.
Tác dụng: Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí đúng và phù hợp
với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản
xuất, từ việc tổ chức ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài
khoản, sổ chi tiết.
1.2.Đối tượng tính giá thành sản phẩm (GTSP).
Đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm, dịch vụ, lao vụ nhất định
đòi hỏi phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên, cần thiết
trong toàn bộ công việc tính giá thành của kế toán.
Phải căn cứ vào đặc điểm, hoạt động sản xuất kinh doanh,loại sản
phẩm,..của doanh nghiệp sản xuất để xác định đối tượng tính giá thành cho
phù hợp với thực tế của doanh nghiệp.
-Xác định đối tượng hạch toán chi phí là xác định nơi phát sinh chi phí.
- Xác định đối tượng tính giá thành có liên quan đến kết quả sản xuất
(thành phẩm hoặc dich vụ hoàn thành).
- Một đối tượng tập hợp chi phí có thể có nhiều đối tượng tính giá thành.
2/ Phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm :
2.1 Trình tự hạch toán tập hợp chi phí sản xuất(CPSX) và tính giá thành
(GT) qua các bước sau.
11
Bước 1: Tập hợp chi phí cơ bản trực tiếp liên quan đến đối tượng tập
hợp chi phí (CP) và tính giá thành .
Bước 2: Tiến hành tính toán và phân bổ chi phí có liên quan đến các
đối tượng tính giá thành (GT) như chi phí quản lý phân xưởng.
Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung (CPSXC) cho các
loại sản phẩm có liên quan.
Bước 4: Xác định giá trị sản phẩm dở dang (SPDD) trên cơ sở tính ra
giá thành thực tế của từng loại sản phẩm.
Lưu ý : Tuỳ theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong DN
mà nội dung, cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những điểm khác
nhau.
2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất (CPSX).
Tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán hàng tồn kho mà doanh nghiệp
áp dụng, mà lựa chọn một trong hai phương pháp kế toán tập hợp CPSX
sau.
+ Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX).
+ Phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK).
2.2.1 Phương pháp tập hợp chi phí cơ bản trực tiếp (CPCB)
A) Khái niệm: Chi phí cơ bản là những chi phí sản xuất thuộc các yếu
tố cơ bản của sản xuất, có mối liên hệ trực tiếp với sản phẩm sản xuất trong
kỳ. Chi phí cơ bản ở các doanh nghiệp bao gồm:
*) Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
đối tượng i
D) Các tiêu thức lựa chọn để phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(CPNVLTT) có thể là: Chi phí định mức, chi phí kế hoạch. (Sơ đồ 1a,1b).
- Nếu chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT) liên quan đến nhiều đối
tượng tính giá thành thì lựa chọn tiêu thức để phân bổ
E) Các tiêu thức lựa chọn để phân bổ (CPNCTT) có thể là: Chi phí tiền
công định mức, giờ công định mức, giờ công thực tế,.. (Sơ đồ 2).
2.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất chung (CPSXC).
A)Khái niệm: Chi phí sản xuất chung (CPSXC) là những chi phí quản lý
phân xưởng bao gồm: Chi phínhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi
13
phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua
ngoài và những chi phí sản xuất khác bằng tiền có liên quan đến nhiều đối
tượng chịu chi phí.
B)Tài khoản sử dụng: Tài khoản 627(TK 627) “Chi phí sản xuất chung”.
C)Phương pháp hạch toán: Thông thường chi phí sản xuất chung liên
quan đến việc sản xuất ra nhiều loại sản phẩm vì vậy kế toán phái áp dụng
phương pháp phân bổ giáng tiếp.
D)Các tiêu thức thường chọn để phân bổ : Phân bổ theo chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, định mức chi phí sản xuất
chung,..
Những chi phí này khi phát sinh sẽ hạch toán vào các khoản mục chi phí
theo từng nội dung cụ thể. Cuối kỳ tiến hành phân bổ cho từng đối tượng
tập hợp chi phí theo tiêu thức phù hợp. (Sơ đồ 3).
Công thức phân bổ chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất
chung phân bổ
cho từng loại sản
phẩm
= Tổng chi phí sản xuất chung
a) Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp trực tiếp).
b) Phương pháp tính giá thành phân bước: Chia làm hai phương pháp
- Phương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm.
- Phương pháp phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm.
c) Phương pháp tính giá thành đối với doanh nghiệp sản xuất theo nhóm sản
phẩm cùng loại.
d) Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp định mức.
e) Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ.
f) Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo hệ số.
g) Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ.
h) Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
Phương pháp đơn đặt hàng áp dụng thích hợp đối với các doanh
nghiệp sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt nhỏ, vừa theo đơn đặt hàng. Đối
tượng tính giá thành là các đơn đặt hàng đã hoàn thành. Vì chỉ khi nào hoàn
15
thành mới tính giá thành do vậy kỳ tính giá thành không phải phù hợp với
kỳ báo cáo.
Tuy vậy, nếu trong tháng đơn đặt hàng chưa hoàn thành vẫn phải tập
hợp chi phí sản xuất cho đơn đặt hàng đó trên các bảng tính giá thành. Sau
đó tiếp tục tập hợp chi phí cho đến khi các đơn đặt hàng hoàn thành và ta
tính được giá thành của đơn đặt hàng đó.
Nếu đơn đặt hàng sản xuất ở nhiều phân xưởng khác nhau thì phải
tính toán xác định chi phí của từng phân xưởng liên quan đến đơn đặt hàng
đó. Những chi phí trực tiếp được hạch toán thẳng vào đơn đặt hàng còn các
chi phí chung cần phân bổ theo tiêu thức phù hợp.
IV/ Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Toàn bộ các chi phí sản xuất sau khi tập hợp vào các TK
621,622,627, cuối tháng phải được kết chuyển sang TK 154 hoặc TK 631
để tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
1/ Tài khoản sử dụng.
Tên giao dịch: Công ty In Tài chính.
Địa chỉ: Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội.
17
Chi nhánh tại TP HCM: 22 Tôn Thất Thuyết, Phường 16, Quận 4.
Tiền thân của Công ty in Tài chính là nhà in Tài chính được thành
lập theo Quyết định số 41 TC/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tính đến
nay, quá trình hoạt động của công ty có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn I (Từ năm 1985 - 1990): Đây là thời kỳ đầu thành lập
Công ty,với số vốn ban đầu chỉ là 5.000.000 đồng, cơ sở nhà xưởng là một
dãy nhà cấp bốn, 5 máy Typô cũ kỹ, một máy Offset của Liên Xô. Thêm
vào đó, một khó khăn rất lớn cho Nhà in là phải hoạt động theo chế độ hạch
toán phụ thuộc Văn phòng Bộ Tài chính. Do đó rất lúng túng trong việc
giao dịch ký kết hợp đồng cũng như thực hiện kế hoạch sản xuất kinh
doanh.
Giai đoạn II (Từ năm 1990 - 1995): Do việc hạch toán phụ thuộc
càng bộc lộ những bất cập. Vì vậy Nhà in Tài chính được Bộ Tài chính cho
phép thực hiện hạch toán độc lập kể từ ngày 01/04/1990, từ đó nhà in biến
đổi nhanh chóng về số lượng cũng như mẫu mã sản phẩm. Toàn bộ quy
trình công nghệ sản xuất được thay đổi từ công nghệ in TYPO sang công
nghệ in OFFSET là chủ yếu.
Giai đoạn III (Từ năm 1995 đến nay): Với những thành quả đạt được
vào ngày17/08/1995, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 925 TC/
TCCB chính thức đổi tên Nhà in Tài chính thành Công ty in Tài chính và
ban hành bản điều lệ tổ chức của Công ty theo Quyết định số 977
TC/TCCB ngày 30/10/1996. Đó là những tiền đề vững chắc để Công ty
bước vào một giai đoạn mới.
Từ năm 1997, để phát triển sản xuất và mở rộng đối tượng
khách hàng Công ty đã đặt chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh.
MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG KHOẢNG THỜI GIAN 1999 - 2000.
CHỈ TIÊU Đơn vị Năm 1999 Năm 2000
chí, biểu mẫu kế toán,..Sản lượng chiếm 70% đến 80% sản lượng của toàn
Công ty.
- Công nghệ in TYPÔ: Chủ yếu đáp ứng cho việc sản xuất những
sản phẩm phải in số nhảy và những sản phẩm có màu đơn nhất như: Các ấn
chỉ,, biên lai, phiếu thu,...Sản lượng chiếm 20% đến 30% sản lượng toàn
Công ty.
Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty được thể hiện ở (Sơ đồ 5).
2.2.2.Tổ chức sản xuất:
Công ty in thuộc loại hình doanh nghiệp sản xuất hàng loạt nhỏ theo đơn
đặt hàng, có quy mô sản xuất vừa, quy trình công nghệ phức tạp. Vì vậy, tổ
chức sản xuất được sắp xếp thành từng bộ phận phân xưởng phù hợp với
công nghệ và đặc điểm ngành in.
- Phân xưởng vi tính, chế bản: Có 10 người. Đây là phân xưởng giải
quyết khâu đầu tiên của quy trình công nghệ in, thực hiện các giai đoạn sản
xuất sau:
Giai đoạn sắp chữ trên vi tính:
Phân màu (ảnh phim):……
Giai đoạn tạo bản kẽm và phơi bản: …
- Phân xưởng in OFFSET: Có 31 công nhân. Đây là phân xưởng có vai trò
quan trọng trong toàn bộ dây chuyền sản xuất của Công ty,….
- Phân xưởng in TYPÔ: Có 20 công nhân.,…
- Phân xưởng thành phẩm: Bao gồm 3 phân xưởng Sách + Xén + Tem
và có 55 công nhân,……
2.3.Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.
Bộ máy quản lý của Công ty tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng. Đứng
đầu là giám đốc- người có quyền lực cao nhất điều hành, quản lý Công ty
theo chế độ một thủ trưởng, trực tiếp chỉ đạ, chịu trách nhiệm với cơ quan
quản lý chức năng, khách hàng và toàn thể cán bộ công nhân viên về mọi
20
hoạt động của Công ty. Bên dưới là hệ thống các phòng ban chức năng
người theo dõi tình hình nhập, xuất của các loại vật liệu và công cụ, dụng
cụ trong kỳ. Đồng thời còn là người tính lương để trả cho từng nhân viên,
phân bổ chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội,…trích theo lương.
- Kế toán tiêu thụ, theo dõi thanh toán: Là người theo dõi về doanh thu
bán hàng, theo dõi công nợ của khách hàng, viết thanh lý hợp đồng với
từng khách hàng.
- Thủ quỹ: Là người giữ sổ kế toán quỹ, quản lý số lượng tiền mặt,
thực hiện việc thu chi theo chứng từ kế toán đã lập, hàng ngày rút số tồn,
đối chiếu két.
Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty được thể hiện ở (Sơ đồ 7).
3.2. Hình thức kế toán sử dụng.
Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung.
Toàn bộ sổ kế toán của công ty đều được tiến hành theo mẫu quy định của
chế độ sổ kế toán do Bộ Tài chính ban hành theo quyết định số 1141
TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995. Cụ thể là:
Sổ chi tiết: Sổ chi tiết vật liệu, sổ chi tiết theo dõi thanh toán với khách
hàng, sổ chi tiết công nợ...
Sổ kế toán tổng hợp: Sổ nhật ký chung, sổ cái...
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Công ty áp dụng phương
pháp kê khai thường xuyên.
- Niên độ kế toán: Công ty áp dụng theo năm, năm kế toán trùng với
năm dương lịch (tính từ 1/1 đến 31/12).
22
- Phương pháp kế toán VAT: Công ty tính thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ.
- Kỳ kế toán: Công ty sử dụng kỳ hạch toán theo quý.
Công ty xử lý toàn bộ công tác kế toán trên máy và có một phần
mềm kế toán chuyên dụng Acc – Win cho riêng mình từ năm 1996.
Trình tự luân chuyển chứng từ và ghi sổ kế toán tại Công ty được biểu
hiện ở (Sơ đồ 8).
xanh, vàng, đỏ của Nhật Bản, Trung Quốc...theo dõi trên TK 15213.
- Chi phí vật liệu phụ: Được theo dõi trên TK 1522 và bao gồm:
+ Vật liệu phụ sử dụng thường xuyên: Có nhiều loại như keo dán,
băng dính,...
+ Vật liệu phụ ít sử dụng: Có các loại như xăng, dầu để rửa máy,
cồn...
- Chi phí nhiên liệu, phụ tùng thay thế:
+ Nhiên liệu: Gồm than, xăng dầu để chạy máy...
+ Phụ tùng thay thế: Có rất nhiều loại như chi tiết của máy móc thiết
bị (vòng bi, dao xén, cam, số nhảy...) và các vật liệu như dây điện, bóng
đèn...
b. Chi phí nhân công trực tiếp: Công ty đã được cơ quan chủ quản là Bộ
Tài chính giao định mức tiền lương cho toàn Công ty là 11,5% trên tổng
doanh thu tiêu thụ sản phẩm toàn quý.
c. Chi phí sản xuất chung: Bao gồm chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí
vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí
dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
1.3. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất (CPSX) của Công ty.
Xuất phát từ những đặc điểm của Công ty do đó, đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất trong đó chi phí
nguyên vật liệu chính trực tiếp được tập hợp theo từng đơn đặt hàng làm
căn cứ để phân bổ các chi phí khác.
24
Tại công ty, các chi phí về nguyên vật liệu chính liên quan trực tiếp
đến từng đơn đặt hàng đã xác định thì kế toán căn cứ vào chứng từ gốc để
phân loại, tập hợp trực tiếp những chi phí đó cho các hợp đồng có liên
quan. Đối với chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung có liên
quan đến nhiều đơn đặt hàng thì kế toán tập hợp trực tiếp theo từng yếu tố
chi phí, sau đó tiến hành phân bổ gián tiếp cho các hợp đồng theo tiêu thức
chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp.