XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ VỐN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN THANH OAI - Pdf 10


Luận văn
XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG
TIN QUẢN LÝ VỐN TẠI NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
HUYỆN THANH OAI LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay nền kinh tế thế giới đang phát triển như vũ bão không phải thay
đổi theo từng ngày từng giờ mà là từng phút. Vì thế để có thể tiến kịp, hội nhập
với nền kinh tế thế giới thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực hết mình của các cấp các
ngành, các thành phần trong xã hội. Hoà cùng nhịp đập đó thì ngành Ngân hàng
cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế, trong đó có hoạt động
của Ngân hàng chính sách xã hội.
Vấn đề đặt ra ngày càng không chỉ cho Việt Nam mà còn cho nhiều nước
khác là vấn đề phát triển bền vững: Phát triển kinh tế theo chiều sâu gắn với chiều
dọc, như vậy nền kinh tế mới vững chắc. Để đảm bảo cho không chỉ những người
có tài sản thế chấp mới được vay vốn để học tập, phát triển kinh tế mà cho cả
những người nghèo cũng có điều kiện ( tạo dựng kinh tế, cơ hội học tập ) có vốn.
Do vậy mà Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam ra đời và Phòng giao dịch
Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Oai là một chi nhánh.
Ngân hàng chính sách xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được
Nhà nước bảo trợ. Khi người nghèo và các đối tượng chính sách không có đủ khả

khách hàng mới của Ngân hàng Thương Mại, thay vì trước đây chỉ là khách hàng
của Ngân hàng Phục vụ người nghèo.
Tuy nhiên, do nguồn lực tài chính cho các hoạt động tín dụng chính sách
còn rất nhiều hạn chế, lại bị phân tán bởi nhiều định chế, tài chính tiền tệ, do năng
lực quản lý, sự thiếu minh bạch giữa tín dụng chính sách với tín dụng thương mại
ngay trong hệ thống ngân hàng và trong môi trường tài chính ở nước ta, đã tác
động tiêu cực tới hiệu quả của hoạt động thương mại theo nguyên tắc thị trường
và hiệu quả xoá đói giảm nghèo trên diện rộng.
Để khắc phục những mặt hạn chế nói trên, ngày 04-10-2002, thủ tướng
Chính Phủ đã quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), thời
hạn hoạt động là 99 năm kể từ ngày 01-01-2003. NHCSXH có nhiệm vụ thực hiện
chính sách tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác trên cơ sở
tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo. 2. Mục tiêu hoạt động.
Ngân hàng chính sách xã hội làm nhiệm vụ cho vay ưu đãi đối với các hộ
nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm nhằm tạo việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao
động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh
tế, góp phần thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và
việc làm, ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
3. Nguồn vốn hoạt động.
3.1. Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước.
-Vốn điều lệ cấp ban đầu: 5.000 tỷ đồng.
-Vốn cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thực hiện chính sách xã
hội khác theo kế hoạch hàng năm.
-Vốn từ UBND các cấp để tăng nguồn cho vay người nghèo và các đối
tượng chính sách khác trên địa bàn.
-Vốn ODA do Chính phủ giao.

10-2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHCSXH, ngày 14-01-2003
chủ tịch hội đồng quản trị NHCSX ra quyết định thành lập Ngân hàng chính sách
xã hội tỉnh Hà Tây. Trong quá trình hoạt động của mình Ngân hàng chính sách xã
hội tỉnh Hà Tây đã thành lập thêm các phòng giao dịch tại các huyện thị nhằm trợ
giúp cho công việc của Ngân hàng và đồng thời để những người dân nghèo có thể
vay vốn được dễ dàng hơn. Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Oai ra đời
nhằm phục vụ cho mục đích đó.
2. Một số quy định đối với Phòng Giao Dịch Ngân hàng chính sách xã
hội huyện Thanh Oai.
a. Đối tượng vay vốn.
Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Oai là một chi
nhánh trực thuộc Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hà Tây được thành lập nhằm
hỗ trợ cho việc giao dịch của các hộ nghèo tại địa bàn huyện Thanh Oai và Ngân
hàng được thuận lợi hơn. Chính vì vậy đối tượng phục vụ của Phòng Giao dịch
Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thanh Oai bao gồm toàn bộ đối tượng đã
được quy định theo nghị định của Chính Phủ đối với Ngân hàng chính sách xã hội
nói chung.
b. Nguồn vốn hoạt động.
Nguồn vốn của PGD Ngân hàng chính sách xã hội Huyện Thanh Oai bao
gồm:
-Vốn được cấp theo kế hoạch của Ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Hà
Tây.
-Vốn uỷ thác của UBND Huyện Thanh Oai. -Vốn huy động từ các nguồn khác theo kế hoạch được giao của Ngân hàng
chính sách xã hội Tỉnh Hà Tây.
3. Chức năng của phòng giao dịch NHCSXH huyện Thanh Oai.
- Tham mưu, giúp việc Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp huyện triển khai
các hoạt động của NHCSXH trên địa bàn.


-Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh,
tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc
gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội.
-Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá
nhân trong nước và nước ngoài theo hợp đồng uỷ thác.
Để thực hiện đúng chức năng của Phòng Giao dịch NHCHXH cấp huyện
đã được quy định và căn cứ vào nhiệm vụ của NHCHXH, Phòng giao dịch
NHCSXH cấp huyện được giao tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
-Ký kết cụ thể về uỷ thác cho vay, hợp đồng nhận uỷ thác vốn trên địa bàn
cấp huyện.
-Tổ chức thu chi nghiệp vụ
-Tổ chức nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm dân cư.
-Thực hiện nghiệp vụ thanh toán
-Phối hợp với chính quyền các cấp, các tổ chức nhận uỷ thác, các tổ chức
chính trị- xã hội trên địa bàn trong việc triển khai thành lập, đào tạo bồi dưỡng,
giám sát các hoạt động của “Tổ tiết kiệm và vay vốn”; phối hợp với các ngành các
chức năng lồng ghép các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư với
chương trình cho vay vốn trên địa bàn.
-Tổ chức thực hiện và chấp hành chế độ báo cáo thống kê, kế toán và báo
cáo nghiệp vụ, quản lý nghiệp vụ theo quy định của NHCSXH.
-Thực hiện nhiệm vụ khác do Hội đồng quản trị cho phép.
5. Cơ cấu tổ chức.
Cơ cấu Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Thanh Oai
được bố trí gọn nhẹ, có một số cán bộ chuyên môn về kế toán, kiểm toán, ngân
quỹ và kế hoạch nghiệp vụ. Tất cả các nhân viên trong ngân hàng đều chịu sự
quản lý của Giám đốc Ngân hàng. NHCSXH huyện Thanh Oai tổ chức thành các
phòng ban sau:
- Phòng Giám đốc.
- Phòng kế toán- ngân quỹ

Trong đó nhân viên kiểm soát của ngân hàng có nhiệm vụ:
-Kiểm tra, kiểm soát thường xuyên các hoạt động trong hệ thống.
-Kiểm tra, kiểm soát báo cáo chuyên đề.
6.3. Phòng tín dụng.
Phòng tín dụng hay còn gọi là phòng Kế hoạch nghiệp vụ có chức năng
như sau:
-Nghiên cứu các dự án nhằm tăng trưởng vốn để mở rộng phạm vi hoạt
động.
-Thẩm định các chương trình, dự án tín dụng, lựa chọn lập kế hoạch theo
quy định -Tổ chức kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn.
-Đôn đốc trả lãi, trả gốc.
-Xử lý nợ đến hạn.
-Huy động vốn.
-Báo cáo chuyên đề.
-Thực hiện các nhiệm vụ do Giám đốc giao. 7. Sơ đồ tổ chức.

sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội góp một phần
hết sức quan trọng vào việc phát triển nền kinh tế nói chung và ở các ngành, các
lĩnh vực nói riêng đồng thời phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Một trong những ngành kinh tế ứng dụng tin học sớm nhất ở Việt Nam là
ngành Ngân hàng. Với sự trợ giúp của máy tính và các chương trình phần mềm
ứng dụng đã làm giảm sai sót, nhầm lẫn và tăng chất lượng phục vụ của ngân hàng lên rất nhiều đặc biệt là trong lĩnh vực huy động vốn và sử dụng vốn để cho vay.
Nhờ đó các nhân viên trong Ngân hàng không những giải quyết công việc một
cách nhanh chóng mà còn được tạo điều kiện để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ. Ngoài ra, máy tính còn giúp cho việc bảo mật thông tin, lưu trữ dữ liệu
của Ngân hàng. Đây là vấn đề được quan tâm nhiều nhất và là yêu cầu đặt ra hàng
đầu đối với thiết kế phần mềm sử dụng trong Ngân hàng. Chính vì vậy các chương
trình phần mềm ứng dụng trong Ngân hàng luôn luôn được bảo trì, đổi mới để phù
hợp và phục vụ tốt hơn trong hoạt động của Ngân hàng, nhất là các chương trình
về nhận tiền gửi và cho vay vì đây là hoạt động cơ bản nhất trong bất kỳ Ngân
hàng nào.
2. Xây dựng đề tài.
Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế hoạt
động với mục đích là tối đa hoá lợi nhuận thông qua việc sản xuất, trao đổi hàng
hoá, dịch vụ trên thị trường. Để đạt được mục đích của mình thì một trong những
vấn đề quan trọng là doanh nghiệp phải có vốn để thực hiện các hoạt động của
mình.
Vốn đóng vai trò rất quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Nó vừa là tiền đề, vừa là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với Ngân hàng nói chung và Ngân hàng chính sách xã hội nói riêng
quản lý vốn là nghiệp vụ cần thiết và quan trọng đảm bảo hoàn thành các mục tiêu
đặt ra.

Thông tin đã trở nên quan trọng đối với các tổ chức ngay từ đầu những năm
80. Vào năm 1980, mỗi ngày thế giới kinh doanh Mỹ đã sản sinh ra gần 600 triệu
trang dữ liệu tin học, 235 triệu tờ phôtô copy và 76 triệu thư tín. Ngày nay trong
các xã hội phương tây, số lượng nhân viên thu thập, xử lý và phân phối thông tin
nhiều hơn số lượng nhân viên ở bất kỳ ngành nghề nào khác. Hàng triệu máy tính
được lắp đặt trên thế giới và nhiều triệu km cáp quang, dây dẫn và sóng điện từ
kết nối con người, máy tính cũng như các phương tiện xử lý thông tin lại với nhau.
Xã hội giờ đây thực sự trở thành một xã hội thông tin, thời đại là thời đại thông
tin.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đóng vai trò của một lực trợ giúp
và một chất xúc tác trong công việc nâng cao tầm quan trọng của thông tin. Những
khái niệm về cơ sở dữ liệu, phần mềm hệ thứ tư, Fax, hệ chuyên gia, vệ tinh viễn
thông và vi tin học là những công cụ xử lý thông tin mà các tổ chức hiện đại đã và
đang sử dụng thường ngày.
Thông tin trong các cơ quan tổ chức có tầm quan trọng vô cùng to lớn.
Thông tin được dùng để lập kế hoạch nhằm tạo ra sự chuyển biến trong tổ chức.
Nhờ có thông tin, các nhà quản lý có thể lập kế hoạch, đặt ra những mục
tiêu cho công ty hay tổ chức của mình một cách sát với thực tế. Các nhà quản lý,
lãnh đạo nhờ có thông tin có thể đưa ra các quyết định nhanh chóng đối với hoạt
động của tổ chức, giúp tổ chức đạt được những mục tiêu của mình.
Quy mô công nghiệp đã phát triển mạnh từ những năm 50. Các doanh
nghiệp mà hoạt động chủ yếu của chúng là xử lý thông tin như Ngân hàng, các tổ
chức thế giới, các công ty bảo hiểm, các doanh nghiệp quảng cáo trước đây chiếm
một tỷ lệ nhỏ trong GNP của cả nước, thì từ những năm 1988 trở lại đây chúng đã
chiếm một tỷ lệ lớn và có xu hướng ngày càng lớn hơn. Đối với nhiều doanh nghiệp lớn, thông tin vừa là nguyên liệu vừa là sản phẩm cuối cùng. Xã hội đang
chuyển dần sang xã hội thông tin.
R.N Anthony đã đưa ra mô hình thể hiện một tổ chức trong đó tổ chức

phân tích một hệ thống thông tin mới. Những luật mới của chính phủ mới ban
hành, việc ký kết một hiệp tác mới, đa dạng hóa các hoạt động của doanh nghiệp
bằng sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới đòi hỏi cách thức quản lý mới. Các hành
động mới của doanh nghiệp cạnh tranh cũng có tác động mạnh buộc doanh nghiệp
cần có những hành động đáp ứng.
Việc xuất hiện các công nghệ mới cũng có thể dẫn đến việc một tổ chức
phải xem lại những thiết bị hiện có trong hệ thống thông tin của mình. Đặc biệt
khi các hệ quản trị cơ sở dữ liệu ra đời, nhiều tổ chức phải rà soát lại các hệ thống
thông tin của mình để quyết định những gì họ phải cài đặt khi muốn sử dụng
những công nghệ mới này.
Vai trò của những thách thức chính trị cũng không nên bỏ qua. Nó cũng có
thể là nguyên nhân dẫn đến việc phát triển một hệ thông tin. Chẳng hạn, không
phải là không có những hệ thông tin được phát triển chỉ vì người quản lý muốn
mở rộng quyền lực của mình và khi biết rằng thông tin là một phương tiện thực
hiện điều đó.
Tuy nhiên, việc nhận ra yêu cầu phát triển hệ thông tin chưa đủ để bắt đầu
sự phát triển này, ta phải tính toán và đánh giá tính khả thi về cơ cấu tổ chức, tài
chính, thời gian và kỹ thuật có đáp ứng cho việc phát triển hay không. Ngoài ra,
trong suốt quá trình thực hiện dự án phát triển hệ thống, ta phải xác định lại xem
dự án có thể tiếp tục hay kết thúc nó nếu không đạt được những yêu cầu cần thiết
trong các mặt của quá trình quản lý.
3.2. Phương pháp phát triển hệ thống thông tin
Mục đích chính xác của dự án phát triển một hệ thống thông tin là có được
một sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, hòa hợp được vào trong các
hoạt động của tổ chức, chính xác về mặt kỹ thuật, tuân thủ các giới hạn về tài
chính và thời gian định trước. Không nhất thiết phải theo đuổi một phương pháp
để phát triển một hệ thống thông tin, tuy nhiên không có phương pháp ta có nguy
cơ không đạt được những mục tiêu định trước. Bởi vì, một hệ thống thông tin là
một đối tượng phức tạp, vận động trong môi trường cũng phức tạp. Do vậy, để
làm chủ hệ thống, ta cần phải có một cách tiến hành nghiêm túc – một phương

4.1. Đánh giá yêu cầu
4.1.1. Điều kiện tiến hành
Sau khi nhận thức được sự cần thiết phải tiến hanh thay đổi hay hiệu chỉnh
một hệ thống thông tin, người quản lý chịu trách nhiệm về vấn đề đó phát biểu yêu
cầu phân tích hệ thống. Yêu cầu này sẽ được gửi tới lãnh đạo bộ phận tin học hoặc
đến một hãng chuyên môn. 4.1.2. Mục đích
Đánh giá yêu cầu nhằm nêu lên vấn đề, ước đoán độ lớn của dự án và
những thay đổi có thể, đánh giá tác động của những thay đổi đó, đánh giá khả thi
của dự án và đưa ra những gợi ý cho những người chịu trách nhiệm đưa ra quyết
định.
4.1.3. Các công đoạn của đánh giá yêu cầu
- Lập kế hoạch đánh giá yêu cầu
- Làm rõ yêu cầu
- Đánh giá tính khả thi
- Chuẩn bị và trình bày báo cáo đánh giá yêu cầu
4.2. Phân tích chi tiết
4.2.1. Điều kiện tiến hành
Sau khi nghiên cứu báo cáo yêu cầu và tham dự buổi thuyết trình về giai
đoạn đánh giá yêu cầu, một quyết định sẽ được ban hành là tiếp tục hay hủy bỏ dự
án. Trong trường hợp tiếp tục dự án, giai đoạn phân tích chi tiết được tiến hành.
4.2.2. Mục đích
Giai đoạn phân tích chi tiết cần đưa ra được những chuẩn đoán về hệ thống
đang tồn tại – nghĩa là xác định được những vấn đề chính cũng như các nguyên
nhân chính của chúng, xác định được mục tiêu cần đạt được của hệ thống mới và
đề xuất ra được các yếu tố giải pháp cho phép đạt được mục tiêu trên.
4.2.3. Các công đoạn của phân tích chi tiết
- Lập kế hoạch phân tích chi tiết

những đối tượng cần biểu diễn. Mã hóa nhằm mục đích: nhận diện không nhầm
lẫn các đối tượng, mô tả nhanh chóng các đối tượng, nhận diện nhanh chóng nhóm
đối tượng.
* Các phương pháp mã hóa:
- Phương pháp mã hóa phân cấp: đối tượng được phân cấp từ trên xuống và
mã số được xây dựng từ trái qua phải - các chữ số được kéo dài về phía bên phải
để thể hiện chi tiết sự phân cấp sâu hơn.
- Phương pháp mã hóa liên tiếp: mã được tạo ra bởi một quy tắc tạo dãy
nhất định. - Phương pháp mã hóa theo xeri: sử dụng một tập hợp theo dãy gọi là xeri,
xeri được coi như một giấy phép theo mã quy định.
- Phương pháp mã hóa gợi nhớ: căn cứ vào đặc tính của đối tượng để xây
dựng bộ mã.
- Phương pháp mã hóa ghép nối: chia mã ra thành nhiều trường, mỗi trường
tương ứng bới một đặc tính, những liên hệ có thể có giữa những tập hợp con khác
nhau với đối tượng được gán mã.
* Yêu cầu đối với bộ mã:
- Bảo đảm tỷ lệ kén chọn và tỷ lệ sâu sắc bằng 1
- Có tính uyển chuyển và lâu bền
- Tiện lợi khi sử dụng.
* Cách thức tiến hành mã hóa
- Xác định tập hợp các đối tượng cần mã hóa
- Xác định các xử lý cần thực hiện
- Lựa chọn giải pháp mã hóa
- Triển khai mã hóa
Mã hóa là một công việc rất quan trọng của việc xây dựng một hệ thống
thông tin. Việc mã hóa và sử dụng mã xảy ra trong suốt quá trình từ khi phân tích,
thiết kế đến cài đặt và khai thác hệ thống thông tin.

c2. Sơ đồ luồng dữ liệu (DFD)
Sơ đồ luồng dữ liệu cũng dùng để mô tả hệ thống thông tin nhưng trên góc
độ trừu tượng. Sơ đồ luồng dữ liệu không quan tâm tới nơi, thời điểm và đối tượng
chịu trách nhiệm xử lý mà chỉ mô tả hệ thống thông tin làm gì và để làm gì.
Các ký pháp dùng cho sơ đồ luồng dữ liệu:
- Nguồn hoặc đích - Dòng dữ liệu

- Tiến trình xử lý - Kho dữ liệu Các mức của DFD
- Sơ đồ ngữ cảnh (Context Diagram): thể hiện rất khái quát nội dung chính
của hệ thống thông tin. Sơ đồ này không đi vào chi tiết mà mô tả nhằm dễ dàng
nhìn nhận được nội dung chính của hệ thống.
- Các sơ đồ phân rã: thực hiện nhằm mô tả chi tiết hơn hệ thống bắt đầu từ
sơ đồ ngữ cảnh phân rã ra thành sơ đồ mức 0, sơ đồ mức 1…. cho tới khi xử lý là
cập nhật hoặc sửa chữa.
Các phích logic: dùng để mô tả thêm cho luồng dữ liệu, xử lý, kho dữ liệu,
tệp dữ liệu và phần tử thông tin. Có 5 loại phích logic:
- Phích xử lý logic
- Phích luồng dữ liệu

Phương pháp này gồm các bước:
* B1. Xác định các đầu ra
- Liệt kê toàn bộ các thông tin đầu ra
- Nội dung, khối lượng, tần xuất và nơi nhận của chúng
* B2. Xác định các tệp cần thiết cung cấp đủ dữ liệu cho việc tạo ra từng
đầu ra
- Liệt kê các phần tử thông tin trên đầu ra.
Trên mỗi thông tin đầu ra bao gồm các phần tử thông tin (Information
Element) được gọi là các thuộc tính. Ta cần liệt kê toàn bộ các thuộc tính thành
một danh sách. Đánh dấu các thuộc tính lặp (Repeatable), các thuộc tính thứ sinh
(Secondary) và gạch chân các thuộc tính khóa.
Loại bỏ các thuộc tính thứ sinh ra khỏi danh sách, chỉ để lại các thuộc tính
cơ sở. Xem xét loại bỏ những thuộc tính không có ý nghĩa trong quản lý.
- Chuẩn hóa mức 1 (1-NF): quy định rằng trong mỗi danh sách không chứa
thuộc tính lặp. Nếu có các thuộc tính lặp thì phải tách các thuộc tính lặp đó ra thành các
danh sách con, có một ý nghĩa dưới góc độ quản lý.
Gắn thêm cho nó một tên, tìm cho nó một thuộc tính định danh riêng và
thêm thuộc tính định danh của danh sách gốc.
- Chuẩn hóa mức 2 (2-NF): quy định rằng, trong một danh sách mỗi thuộc
tính phải phụ thuộc hàm vào toàn bộ khóa chứ không chỉ phụ thuộc vào một phần
của khóa.
Nếu có sự phụ thuộc như vậy thì phải tách những thuộc tính phụ thuộc hàm
vào bộ phận của khóa thành một danh sách con mới.
Lấy bộ phận khóa đó làm khóa cho danh sách mới. Đặt cho danh sách mới
này một tên riêng cho phù hợp với nội dung của các thuộc tính trong danh sách.
- Chuẩn hóa mức 3 (3-NF): quy định rằng, trong một danh sách không
được phép có sự phụ thuộc bắc cầu giữa các thuộc tính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status