BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHẠM THỊ TUYẾT
MỞ RỘNG TÍN DỤNG HỘ NGHÈO
TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN NGỌC
NHA TRANG –NĂM 2012
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha
Trang, đặc biệt là TS. Nguyễn Văn Ngọc đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn cho tôi
trong suốt quá trình viết luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng Chính sách xã hội đã cung cấp
nhiều thông tin và tài liệu tham khảo giúp tôi thực hiện đề tài.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
và động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Trân trọng.
Nha Trang, tháng 08 năm 2012
Tác giả
Phạm Thị Tuyết
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ viii
TÓM TẮT ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO VÀ TÍN DỤNG CHO HỘ
NGHÈO 7
1.1 Một số khái quát về hộ nghèo tại Việt Nam 7
1.1.1 Khái niệm về đói nghèo 7
1.1.3 Đặc điểm các hộ nghèo ở huyện Vị Thủy 9
1.1.4 Nguyên nhân nghèo đói 11
1.1.4.1. Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo 11
1.1.4.2. Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội 12
1.1.5 Đặc điểm những hộ nghèo ở Việt Nam 16
1.2 Một số khái niệm, đặc điểm, vai trò của tín dụng đối với hộ nghèo 17
1.2.1 Tín dụng đối với hộ nghèo 17
1.2.1.1 Khái niệm 17
1.2.1.2 Đặc điểm 17
1.2.1.3 Mục đích và vai trò của tín dụng NHCSXH đối với hộ nghèo 17
1.2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo 19
1.2.2 So sánh tín dụng hộ nghèo của NHCSXH với tín dụng thương
mại tại các Ngân hàng thương mại 22
1.3 Hoạt động tín dụng của NHCSXH Việt Nam 23
1.3.1 Khái quát quá trình hình thành, chức năng và vai trò của
NHCSXH Việt Nam 23
1.5.1.2 Hiệu quả xã hội 35
1.5.2 Về phía hộ nghèo 35
1.5.2.1 Hiệu quả kinh tế 35
1.5.2.2 Hiệu quả xã hội 37
1.6. Tóm tắt chương 1 37
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI
NHCSXH HUYỆN VỊ THỦY, HẬU GIANG 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế 43
vi
2.1.4 Tình hình an ninh quốc phòng 44
2.1.5 Thực trạng đói nghèo của huyện Vị Thủy 45
2.1.5.1 Số lượng, cơ cấu và phân bố hộ nghèo ở huyện Vị Thủy 45
2.1.5.2 Đặc điểm và nguyên nhân đói nghèo 45
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 47
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động 48
2.2.2.1 Cơ cấu tổ chức 48
2.2.2.2 Đặc điểm hoạt động của NHCSXH huyện Vị Thủy 50
2.2.2.3 Cơ chế cho vay 57
2.3.1 Mô tả mẫu điều tra 59
2.3.2. Về mục đích và cách thức cho vay 60
2.3.3 Về lãi suất và thời hạn cho vay 60
2.4 Những tồn tại trong hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Vị
Thủy, tỉnh Hậu Giang 61
2.4.1 Tình hình nợ khoanh và nợ quá hạn 61
2.4.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ khoanh và nợ quá hạn 62
2.5 Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHCSXH huyện Vị Thủy 62
3.3.1 Nhóm giải pháp thứ nhất: Về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý 80
3.3.1.1 Đối với Phòng giao dịch Vị Thủy 80
3.3.1.2 Về hoạt động tín dụng 81
3.3.2 Nhóm giải pháp thứ hai: về con người 81
3.3.3 Nhóm giải pháp thứ ba: Về cơ sở vật chất 82
3.3.4 Nhóm giải pháp thứ tư: Mối liên quan giữa các cấp 82
3.3.5 Nhóm giải pháp thứ năm: Quan hệ giữa các bộ phận đơn vị tốt 83
3.3.6 Nhóm giải pháp thứ sáu: Giải pháp cụ thể để xây dựng được sự
hài hòa giữa khách hàng và ngân hàng 83
3.4 Kiến nghị 84
3.4.1 Đối với Chính phủ 84
3.4.2 Đối NHCSXH Việt Nam 85
3.4.3 Đối với các cấp Chính quyền địa phương huyện Vị Thủy 85
3.4.4 Đối với NHCSXH huyện Vị Thủy 86
3.4.5 Đối với hộ nghèo 86
3.5. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 90
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Đơn vị hành chính huyện Vị Thủy 40
Bảng 2.2: Biểu tổng hợp hộ nghèo huyện Vị Thủy 45
Bảng 2.3. Cơ cấu vốn của NHCSXH huyện Vị Thủy 51
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động tín dụng của NHCSXH huyện Vị
Thủy, giai đoạn từ năm 2008-2011 52
Bảng 2.5: Tình hình ủy thác qua các hội đoàn thể tại NHCSXH huyện Vị Thủy 58
vốn của họ và đồng thời tìm ra các giải pháp để nâng cao mức độ đáp ứng nhu cầu vay
vốn của hộ nghèo tại NHCSXH Vị Thủy.
Để đạt được mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài bắt đầu từ phân tích
tình hình cho vay đối với hộ nghèo tại NHCSXH Vị Thủy trong thời gian qua. Trong
giai đoạn 4 năm (2008-2011), nhìn chung kết quả thực hiện cho vay đối với hộ nghèo
tại NHCSXH Vị Thủy đạt được kết quả tốt. Doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư
nợ đều tăng qua các năm.
Với các số liệu sơ cấp thu thập được bằng cách phỏng vấn trực tiếp 100 hộ gia
đình, sau khi xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5, đề tài đã đánh giá và cho thấy được
thực trạng cho vay hộ nghèo tại NHCS Vị Thủy. Từ các kết quả nêu trên, đề tài đã đưa
ra một số giải pháp mở rộng tín dụng hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội huyện
Vị Thủy.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với một nhà kinh doanh nào cũng đều hiểu đầu tư là cách tốt nhất để bảo toàn
và phát triển đồng vốn của mình hoặc ít nhất cũng bù đắp được những chi phí do lạm
phát gây ra. Trong khi đó, người nghèo lại có nhu cầu vốn rất lớn nhưng không phải là
đối tượng đáng để các nhà kinh tế bỏ vốn vào đầu tư do tâm lý e ngại về thời gian và
khả năng thu hồi vốn, vì thế cơ hội phát triển kinh tế của người nghèo trở nên rất khó
khăn. Nghèo đói đã trở thành gánh nặng, là nỗi lo của mọi xã hội, mọi Nhà Nước, mọi
quốc gia.
Xóa đói giảm nghèo sẽ góp phần ổn định xã hội, từ đó phát triển kinh tế. Với ý
nghĩa đó, ngày 4 tháng 12 năm 2002 Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam
(NHCSXH VN) được thành lập theo quyết định 131/QĐ-TTg và Nghị định số
78/2002/NĐ-CP của Chính Phủ nhằm tạo ra một kênh riêng biệt thực hiện công tác hỗ
tỉnh Hậu Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với
hộ nghèo tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Mục tiêu cụ thể:
- Lý luận chung về hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo và cơ sở pháp lý cho
hoạt động của hệ thống NHCSXH Việt Nam trong thực hiện chính sách tín dụng đối
với hộ nghèo của Chính Phủ.
- Phân tích hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Vị Thủy
tỉnh Hậu Giang, giai đoạn 2008-2011.
- Thông qua việc phân tích thực trạng hoạt động tín dụng hộ nghèo chỉ ra những
tồn tại, vướng mắc về cơ chế, chính sách, cũng như những tồn tại do nguyên nhân chủ
quan tại NHCSXH huyện Vị Thủy, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và
mở rộng hoạt động tín dụng hộ nghèo tại NHCSXH huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Hoạt động Tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH huyện Vị Thủy trong những
năm qua như thế nào? Có mang lại hiệu quả cho hộ nghèo không? Mức độ hiệu quả
như thế nào?
- Các hộ dân sử dụng vốn có mang lại hiệu quả không? Đồng vốn có góp phần cải
thiện chất lượng cuộc sống của người dân trong huyện không? Mức độ như thế nào?
- Có những giải pháp nào để hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo đạt kết quả như
mục tiêu của Chính phủ? 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ hoạt động tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và
hiệu quả từ các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo trong huyện.
- Đối tượng khảo sát là các hộ vay vốn tín dụng ưu đãi của NHCSXH huyện Vị Thủy.
Phạm vi nghiên cứu:
doanh. Nhóm tác giả sử dụng số liệu sơ cấp thu thập từ 237 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh ở ĐBSCL hoạt động trong ba lĩnh vực chủ yếu là sản xuất, thương mại và dịch
vụ. Bên cạnh đó, để việc phân tích được thấu đáo hơn, nhóm tác giả còn sử dụng số
liệu thứ cấp và các thông tin có liên quan từ các cơ quan nhà nước như Cục Thống kê
tỉnh, Sở Kế hoạch – Đầu tư, Sở Tài Chính, Cục thuế, v.v. của các tỉnh, thành phố.
Trong đề tài, các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy xác suất (Binary
logit) và sử dụng mô hình có dạng như sau:
QDVAY = α
0
+ α
1
QUYMO + α
2
TUOI + α
3
RUIRO + α
4
TTRUONGDT +
α
5
LNHUAN + α
6
HOCVAN + α
7
NTKDOANH + α
8
SANXUAT + α
9
DICHVU +
α
phân tích Probit và Tobit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng. Kết
quả ngiên cứu cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, tài sản thế chấp ảnh hưởng đến
khả năng tiếp cận vốn của nông hộ có thu nhập thấp đối với các tổ chức tín dụng chính
thức. Đồng thời cho thấy rằng trình độ dân trí của nông dân còn thấp, các tổ chức
chính thức còn đặt nặng vấn đề tài sản thế chấp đối với những người hộ nông dân có
thu nhập thấp, tạo nên một vòng lẩn quẩn của sự nghèo đói. Bên cạnh đó, nhu cầu vay
vốn trong nông hộ là rất lớn nhưng rất khó kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay.
6.3 Vương Quốc Duy (2007) đã nghiên cứu tác động của vốn vay cho người nghèo
đến các nông hộ nghèo. Đề tài sử dụng bộ số liệu của VLSS năm 2004 với 1430 mẫu
quan sát ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả đã sử dụng mô hình phân tích Logit để
xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn và phương pháp kết hợp
Kernel để tìm ra sự khác biệt giữa các nhóm vay và không vay. Kết quả nghiên cứu
của đề tài cho thấy sự khác biệt trong thu nhập, chi tiêu và tổng giá trị tài sản của các
hộ có vay lớn hơn các hộ không vay.
6.4 Nguyễn Văn Ngân (2008) đo lường khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và hiệu
quả sử dụng vốn vay của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Số liệu sử
dụng trong đề tài được thu thập năm 2008 với 252 hộ từ 5 tỉnh ĐBSCL. Kết quả thu
được từ mô hình Heckman hai bước của nghiên cứu này cho thấy rằng các biến có mối
quan hệ với khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức: thu nhập trước khi vay, địa vị xã
hội của chủ hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tổng chi phí cho sản xuất kinh
doanh. Và có 4 biến có ý nghĩa ảnh hưởng đến khối lượng tiền cho vay mà các nông
hộ vay từ các tổ chức chính thức. Các biến độc lập đó là mục đích vay dùng cho sản
xuất, tổng chi phí cho sản xuất kinh doanh, tổng diện tích đất, và tổng thu nhập của
nông hộ.
6.5 Âu Vi Đức (2008) nghiên cứu hiệu quả của đồng vốn vay trên các mặt xã hội cũng
như kinh tế. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ cuộc điều tra trực
tiếp 263 nông hộ ở huyện Long Mỹ năm 2008. Các mô hình phân tích Logit và Tobit
được tác giả sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa các đặc tính của hộ và khả năng
tiếp cận vốn vay của nông hộ. Ngoài ra, đề tài còn phân tích ảnh hưởng của vốn vay
đến nông hộ nghèo. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều yếu tố đặt tính của hộ đã ảnh
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO VÀ TÍN DỤNG
CHO HỘ NGHÈO
1.1 Một số khái quát về hộ nghèo tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm về đói nghèo
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoã mãn các nhu
cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình
độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục, tập quán của địa phương
1
Hộ nghèo là những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ bằng đến thấp
hơn chuẩn nghèo theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được Thủ
tướng phê duyệt theo từng thời kỳ và có trong danh sách hộ nghèo do ủy ban nhân dân
cấp xã quản lý.
1.1.2 Chuẩn mực xác định hộ nghèo
- Chuẩn nghèo đối với các nước đang phát triển
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ
giàu nghèo. Nước Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế kỷ trước với mức
thu nhập 18.600 đô la/năm đối với các gia đình có bốn người (gồm bố mẹ và hai con),
và thu nhập 9.573 đô la/năm đối với người độc thân trong độ tuổi lao động là ngưỡng
nghèo; Ma-lai-xi-a sử dụng tiêu chuẩn 9.910 ca-lo một ngày tính trên một gia đình có
hai người lớn và ba trẻ em để làm đường nghèo; Ấn Độ áp dụng ngưỡng nghèo với
chuẩn mực tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày 2.400 ca-lo đối với vùng nông
thôn và 2.100 ca-lo đối với vùng đô thị; Pa-ki-xtan lấy đường nghèo là tiêu thụ 2.350
Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực
thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100
kcal/người/ngày đêm được xem là cốt lõi . Giá của khối lượng hàng hoá LTTP để đảm
bảo 2.100 Kcalo được tính trên cơ sở giá trung bình của khoảng 40 mặt hàng LTTP
thiết yếu ở từng khu vực (thành thị và nông thôn).
Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định
bằng cách ước lượng tỷ lệ: 60% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 40% cho
các khoảng còn lại.
Trong thời gian qua Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (có sự thống nhất
với Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và đầu tư) căn cứ vào mức nghèo chung để
kiến nghị Thủ tướng quyết định chuẩn nghèo của nước ta trong từng giai đoạn.
Ngoài ra, khi xác định chuẩn nghèo, Chính phủ cũng phải xem xét để đảm bảo
được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến và đáp ứng được yêu
cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế. 9
Để từng bước tiếp cận dần với chuẩn nghèo của các nước đang phát triển trong
khu vực và thế giới, từ năm 1993 đến nay, nước ta đã nhiều lần điều chỉnh chuẩn
nghèo cho phù hợp với tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư, làm cơ sở để Nhà
nước xác định đối tượng cần trợ giúp và xây dựng, đánh giá kết quả thực hiện Chương
trình xoá đói, giảm nghèo. Diễn biến của chuẩn nghèo ở nước ta qua từng giai đoạn
như sau:
- Chuẩn nghèo giai đoạn 1993-1995: Thu nhập bình quân đầu người/tháng trong
hộ dưới: 51.000 đồng ở khu vực nông thôn và dưới 70.000 đòng ở khu vực thành thị.
- Chuẩn nghèo giai đoạn 1996-1997: Thu nhập bình quân đầu người/tháng trong
hộ dưới: 15 kg gạo (tương đương 55 ngàn đồng) ở khu vực nông thôn miền núi; 20 kg
gạo (tương đương 70 ngàn đồng) ở khu vực nông thôn đồng bằng và dưới 25 kg
(tương đương 90 ngàn đồng) ở khu vực thành thị.
đến sinh đẻ, giáo dục, nuôi dưỡng con cái, v.v. có ảnh hưởng không những đến thế hệ
hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai.
- Vấn đề tiết kiệm, tích lũy tài sản: Nếu xét về điều kiện thiên nhiên giữa các
vùng, miền trong cả nước, huyện Vị Thủy được thiên nhiên dành nhiều ưu đãi nhất,
nhờ đó người dân huyện Vị Thủy tuy còn rất nghèo nhưng nhìn chung từ xưa đến nay
chưa xảy ra tình trạng đói thuộc diện rộng ở đây nên so với người dân các vùng khác
trong cả nước, người dân ở huyện Vị Thủy còn thiếu ý thức tiết kiệm, tích lũy của cải
dự phòng cho những lúc khó khăn, phổ biến tình trạng ‘ ăn bữa nào hay bữa nấy’, đây
cũng là một trong những nguyên nhân làm cho người nghèo ở huyện Vị Thủy chậm
thoát nghèo.
- Đặc điểm về nhân khẩu học, mà ở đây là quy mô hộ gia đình cũng là yếu tố tác
động đến đói nghèo. Người nghèo không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với
các biện pháp sức khoẻ sinh sản. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của
nghèo đói.
- Thói quen làm ăn riêng lẻ, manh mún: Thói quen làm ăn riêng lẻ, manh mún
đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp đã làm tăng đáng kể chi phí sản xuất và hiệu suất
sử dụng đất do thói quen “ ruộng ai người ấy đắp bờ” . Ngoài ra cũng chính do sản
xuất nhỏ lẻ nên chất lượng sản phẩm không đồng đều, không tạo được khối lượng sản
phảm đủ lớn nên khó tạo được đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp.
- Các dịch vụ công cộng của chính phủ chưa được cung cấp công bằng giữa các
vùng miền và giữa các tầng lớp dân cư cũng là nguyên nhân của nghèo đói vì hầu hết
người dân nghèo chưa được tiếp cận tốt với hệ thống giao thông, giáo dục, y tế hiện đại. 11
1.1.4 Nguyên nhân nghèo đói
Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố, nhưng chung quy lại
thì có thể chia nguyên nhân đói nghèo của nước ta theo các nhóm sau:
1.1.4.1. Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo
1.1.4.2. Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội
- Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên không ổn định, hạn hán, mưa lũ đã tác động sâu sắc đến
SXKD của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo.
Đói nghèo tập trung khu vực nông thôn: Nghèo có đặc thù rõ rệt về mặt địa lý.
Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông thôn “Những đặc
trưng của người nghèo vẫn giống như trước đây - đói nghèo vẫn là hiện tượng phổ
biến ở nông thôn và đối với các dân tộc thiểu số, thì mức độ đói nghèo cao và nghiêm
trọng hơn so với đa số người Kinh. Các đặc trưng khác của đói nghèo, là rủi ro cao về
thu nhập, do thường xuyên bị thiên tai và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở
nông thôn”.
Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lương thực và thực phẩm ở nông thôn là 15,9%
đa số người nghèo là nông thôn (trên 80%), trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận
nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ…), thị trường tiêu thụ sản phẩm
gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém, chủng loại sản
phẩm nghèo nàn, những người nông dân nghèo thường không có điều kiện tiếp cận với
hệ thống thông tin, khó có khả năng chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông
nghiệp. Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nhất là phụ nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ
cao tuổi là những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất, phụ nữ nghèo lao động nhiều
thời gian hơn, nhưng thu nhập thấp hơn, họ có ít quyền quyết định trong gia đình và
cộng đồng, do đó có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại.
Điều kiện vị trí không thuận lợi đã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình. Người nghèo tập trung ở các vùng có điều kiện
sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng
nông thôn hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền trung; do sự biến động
của thời tiết (bão, lụt, hạn hán…) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của
người dân càng thêm khó khăn, đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở đã làm cho
các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác. “Năm 2000, khoảng 20- 30% trong
tổng số 1.870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số
sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học chiếm 12%,
tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; Trung học cơ sở chiếm 37%. Chi phí cho giáo dục đối
với người nghèo còn rất lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn
hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm
xuống khi trình độ giáo dục tăng lên; 80% số người nghèo làm các công việc trong
nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp. Trình độ học vấn thấp, hạn chế khả năng kiếm
việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp và những công việc
mang lại thu nhập cao và ổn định hơn. Do trình độ dân trí thấp, nên việc bất bình đẳng
giới thường xảy ra. Bất bình đẳng giới còn sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả 14
các mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân người phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng
do bất bình đẳng giới, thì còn có những tác động bất lợi khác đối với gia đình. Phụ nữ
chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ lệ cao trong số lao
động tăng thêm hàng năm trong ngành nông nghiệp. Mặc dù vậy, nhưng phụ nữ chỉ
chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi và 10% các khóa khuyến
nông về trồng trọt. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo; họ
thường xuyên gặp khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định
trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại
công việc. Phụ nữ có học vấn thấp, dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn,
sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn. Bất bình đẳng giới còn là
yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ lây truyền HIV do phụ nữ thiếu tiếng nói và
khả năng tự bảo vệ trong quan hệ tình dục. “Nghèo cũng liên quan chặt chẽ tới nhóm
dân tộc, ngay cả khi tất cả các đặc điểm khác nhau là giống nhau, chi tiêu của một
người thuộc dân tộc thiểu số cũng thấp hơn chi tiêu của một người thuộc hộ người
Kinh hoặc người Hoa 13%. Trình độ giáo dục cũng tạo sự khác biệt đáng kể; một hộ
gia đình chủ hộ có trình độ trung cấp có mức chi tiêu cao hơn mức trung bình gần 19%
và nếu chủ hộ có trình độ đại học thì mức cao hơn là 31%. Con số này là 29% nếu
hành cải cách doanh nghiệp. Nhiều công nhân bị mất việc đã gặp rất nhiều khó khăn
trong tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói. Phần lớn số người này là phụ nữ,
người có trình độ học vấn thấp và người lớn tuổi.
Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do
hoá thương mại tạo ra được những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến khích các
doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động
chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tạo việc làm chưa
đựợc quan tâm và tạo cơ hội phát triển. Tình trạng thiếu thông tin, trang thiết bị sản
xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp và năng lực sản xuất hạn chế đã
làm không ít các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị phá sản và đẩy công nhân vào cảnh thất
nghiệp, buộc họ phải gia nhập vào đội ngũ người nghèo.
Tăng trưởng kinh tế giúp XĐGN trên diện rộng, song việc cải thiện tình trạnh
của người nghèo về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn lực lại phụ thuộc
vào loại hình tăng trưởng kinh tế. Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm
dân cư bao gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng. Phân
tích tình hình biển đổi về thu nhập của nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từ
tăng trưởng kinh tế nhiều hơn và kết quả đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo.