nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội huyện hạ hòa tỉnh phú thọ - Pdf 24



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN MINH PHƯỢNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI
HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ
HỘI HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ƯU ĐÃI ĐỐI
VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Mai Ngọc Cường
Thái Nguyên - Năm 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Hòa đã giúp đỡ và cung cấp cho tôi nhiều thông tin tư liệu có giá trị.
Xin cảm ơn các đồng nghiệp đang công tác tại Ngân hàng Chính sách
xã hội huyện Hạ Hoà , gia đình và các bạn bè đã hỗ trợ, tạo điều kiện, khuyến
khích cho tôi trong thời gian qua để có thể hoàn thành được Luận văn này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv
MỤC LỤC

TRANG B ÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU xi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Kết cấu của luận văn 3
CHƢƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
HIỆU QUẢ CHO VAY ƢU ĐÃI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 4
1.1. Đói nghèo và cho vay ƣu đãi đối với hộ nghèo 4
1.1.1. Đói nghèo 4
1.1.1.1. Khái niệm về đói nghèo 4

nghèo của NHCSXH. 30
1.2.3.3.Các nhân tố liên quan đến hộ nghèo. 31
1.2.3.4. Các nhân tố liên quan đến hoạt động hỗ trợ và phối hợp của các
tổ chức chính trị xã hội. 31
1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cho vay ƣu đãi đối với hộ nghèo của
một số NHCSXH ở tỉnh Phú Thọ. 32
1.3.1 Kinh nghiệm của NHCSXH Huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ 32
1.3.2 Kinh nghiệm của NHCSXH huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ 33
1.3.3. Một số bài học kinh nghiệm cho NHCSXH huyện Hạ Hoà 34 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu vi
CHƢƠNG 2 36
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1.Khái quát về tình hình khai thác tài nguyên phát triển kinh tế xã hội và
nghèo đói Huyện Hạ Hòa 36
2.1.1. Về khai thác tài nguyên phát triển kinh tế xã hội 36
2.1.2. Tình hình nghèo đói của Huyện Hạ Hòa 40
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: 41
2.2.2 Phương pháp phân tích thông qua tài liệu sơ cấp 42
2.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích 42
2.4. Khung phân tích của đề tài 43
CHƢƠNG III 44
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY ƢU ĐÃI HỘ NGHÈO TẠI
NHCSXH HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ ( 2006 - 2011 ) 44
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và khái quát hoạt động cho vay ƣu đãi

vay vốn. 70
3.3.2.4 Các nguyên nhân liên quan đến hoạt động hỗ trợ và phối hợp của
các tổ chức xã hội, đoàn thể. 71
CHƢƠNG IV 73
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA
CHO VAY ƢU ĐÃI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CSXH
HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ ĐẾN NĂM 2015 73
4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Hạ Hòa và phƣơng hƣớng
nâng cao hiệu quả cho vay ƣu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH Hạ Hòa
đến năm 2015 73
4.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Hạ Hòa và phương hướng
hoạt động của NHCSXH huyện Hạ Hòa đến năm 2015. 73
4.1.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và giảm nghèo của huyện Hạ
Hòa đến năm 2015. 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu viii
4.1.1.2 Phương hướng hoạt động của NHCSXH huyện Hạ Hòa đến năm
2015 74
4.1.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo
của NHCSXH huyện Hạ Hòa đến năm 2015 74
4.1.2.1.Phương hướng nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ
nghèo về phía NHCSXH 74
4.1.2.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ
nghèo về phía người vay vốn. 75
4.1.2.3. Phương hướng nâng cao hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ
nghèo về phía địa phương 75

4.3 Kiến nghị 87
4.3.1 Đối với địa phương và chính quyền các cấp về môi trường thể chế và
cơ chế chính sách về giảm nghèo. 87
4.3.2 Đối với Ngân hàng chính sách xã hội các cấp 88
4.3.3 Đối với các tổ chức hội, đoàn thể địa phương 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 1: TÌNH HÌNH HỘ NGHÈO CỦA HUYỆN HẠ HÒA 93 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu x

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT
Nội dung
Ký hiệu, viết tắt
1
Xoá đói, giảm nghèo
XĐGN
2
Hộ nghèo
HN
3
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH - HĐH
4

Đoàn thanh niên
ĐTN
15
Ban quản lý
BQL
16
Cho vay hộ nghèo
CVHN
17
Xuất khẩu lao động
XKLĐ
18
Học sinh sinh viên
HSSV
19
Giải quyết việc làm
GQVL
20
Nước sạch và vệ sinh môi trường
NS&VSMT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu xi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Nội dung bảng biểu

Bảng 3.8.
Dư nợ cho vay hộ nghèo theo xã
57
Bảng 3.9.
Tỷ trọng dư nợ hộ nghèo trong tổng dư nợ của NHCSXH huyện Hạ
Hoà
61
Bảng 3.10.
Tăng trưởng dư nợ hộ nghèo của NHCSXH huyện Hạ Hoà
62
Bảng 3.11.
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay hộ nghèo của NHCSXH huyện Hạ Hoà
62
Bảng 3.12.
Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng vốn sai mục đích xin vay
63
Bảng 3.13.
Mức độ đáp ứng nhu cầu vay vốn của hộ nghèo
63
Bảng 3.14.
Tỷ lệ hộ thoát nghèo nhờ chương trình cho vay ưu đãi
64
Bảng 3.15.
Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn
65
Bảng 3.16.
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của việc cho vay ưu đãi đối với
hộ nghèo ảnh hưởng đến kết quả kinh tế - xã hội của huyện Hạ Hoà
66
Bảng 3.17.

chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu
dài và nhấn mạnh “phải thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối với
vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc. Xây dựng và phát triển quỹ
XĐGN bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư
đúng đối tượng và có hiệu quả”. Chính phủ đã phê duyệt và triển khai chương
trình, mục tiêu quốc gia XĐGN, giai đoạn 1998- 2000 và giai đoạn 2001-
2010, như hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; hỗ trợ đồng bào dân tộc
đặc biệt khó khăn; định canh, định cư, di dân, kinh tế mới; hướng dẫn người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2
nghèo cách làm ăn và khuyến nông- lâm- ngư; hỗ trợ tín dụng cho người
nghèo; hỗ trợ người nghèo về y tế; hỗ trợ người nghèo về giáo dục; hỗ trợ sản
xuất, phát triển ngành nghề; đào tạo cán bộ làm công tác XĐGN, cán bộ các
xã nghèo, chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn
(QĐ số 135/1998/QĐ-TTg), chương trình mục tiêu quốc gia về việc
làm.v.v…
Trong lĩnh vực tín dụng cho người nghèo, năm 1996 đã thành lập Ngân
hàng phục vụ người nghèo và đến ngày 04 tháng 10 năm 2002 được tách ra
thành Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), với mục tiêu chủ yếu là cho
vay ưu đãi hộ nghèo. Sau 10 năm hoạt động, NHCSXH đã cho vay hàng chục
ngàn tỷ đồng, cho hàng chục triệu lượt hộ nghèo và đã góp phần to lớn trong
công cuộc XĐGN cho đất nước.
Tuy nhiên, sự nghiệp XĐGN vẫn đang còn ở phía trước, với nhiệm vụ
ngày càng khó khăn, phức tạp; trong đó, lĩnh vực tín dụng cho hộ nghèo nhiều
vấn đề vẫn đang bức xúc như: Quy mô tín dụng chưa lớn, hiệu quả XĐGN
còn chưa cao, hoạt động của NHCSXH chưa thực sự bền vững.v.v… Những

gồm 4 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hiệu quả cho vay
ưu đãi đối với hộ nghèo của NHCSXH.
Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng, hiệu quả cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo của
NHCSXH huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả cho
vay ưu đãi đối với hộ nghèo cuả NHCSXH huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
những năm tới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 4
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
HIỆU QUẢ CHO VAY ƢU ĐÃI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1. Đói nghèo và cho vay ƣu đãi đối với hộ nghèo
1.1.1. Đói nghèo
1.1.1.1. Khái niệm về đói nghèo
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và
số lượng, thay đổi theo thời gian. Người nghèo của quốc gia này có thể có
mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, để nhìn
nhận và đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và

tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục, tập quán của địa
phương’’[1, trang 122]
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức
sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Đói nghèo là tổng hợp khái niệm đói và khái niệm nghèo: Đói và nghèo
thường gắn chặt với nhau, nhưng mức độ gay gắt khác nhau. Đói có mức độ
gay gắt cao hơn, cần thiết phải xoá và có khả năng xoá. Còn nghèo, mức độ
thấp hơn và khó xoá hơn, chỉ có thể xoá dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo
tương đối chỉ có thể giảm dần. Vì vậy, để giải quyết vấn đề đói nghèo, ta
thường dùng cụm từ "Xoá đói giảm nghèo".
Cụ thể hơn các khái niệm đói nghèo ta có thể thấy: Dù ở dạng nào, thì
đói cũng đi liền với thiếu chất dinh dưỡng, suy dinh dưỡng. Có thể hình dung
các biểu hiện của tình trạng thiếu đói như sau:
- Thất thường về lượng: Bữa đói, bữa no, ăn không đủ bữa .
- Về mặt năng lượng: Nếu trong một ngày con người chỉ được thoả
mãn mức 1.500 calo/ngày, thì đó là thiếu đói (thiếu ăn); dưới mức đó là gay
gắt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 6
Nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu. Trong hoàn
cảnh nào thì hộ nghèo, người nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh
hàng ngày về kinh tế, biểu hiện trực tiếp nhất là bữa ăn. Họ không thể vươn
tới các nhu cầu về văn hoá, tinh thần, hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm
tới mức tối thiểu nhất, gần như không có. Biểu hiện rõ nhất ở các hộ nghèo là
hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, không có điều kiện để chữa bệnh khi ốm
đau. Nhìn chung ở hộ nghèo, người nghèo thu nhập thực tế của họ hầu như

năng chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông nghiệp. Phụ nữ nông dân
ở vùng sâu, vùng xa, nhất là phụ nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là
những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất, phụ nữ nghèo lao động nhiều thời
gian hơn, nhưng thu nhập thấp hơn, họ có ít quyền quyết định trong gia đình
và cộng đồng, do đó có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính
sách mang lại.
Điều kiện vị trí không thuận lợi đã hạn chế nhiều đến sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm và sinh hoạt của các hộ gia đình. Người nghèo tập trung ở các vùng
có điều kiện sống khó khăn; đa số người nghèo sinh sống ở vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn hoặc ở các vùng đồng bằng sông Cửu
Long, miền trung; do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán…) khiến
cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn,
đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở đã làm cho các vùng này càng bị
tách biệt với các vùng khác. “Năm 2000, khoảng 20- 30% trong tổng số 1.870
xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã
chưa đủ phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước
sạch; 40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã; 50% số xã chưa đủ
công trình thủy lợi nhỏ; 20% số xã chưa có chợ xã hoặc cụm xã. Bên cạnh đó,
do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người dân thuộc diện cứu trợ đột
xuất hàng năm khá cao, khoảng 1- 1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái đói
nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo còn lớn” [14, trang 19].
Đói nghèo trong khu vực thành thị: Đa số người nghèo đô thị làm việc trong
khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 8
bấp bênh. Một số lao động mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ


9
ngành phi nông nghiệp và những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định
hơn. Do trình độ dân trí thấp, nên việc bất bình đẳng giới thường xảy ra. Bất
bình đẳng giới còn sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt. Ngoài
những bất công mà cá nhân người phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất
bình đẳng giới, thì còn có những tác động bất lợi khác đối với gia đình. Phụ
nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ lệ cao
trong số lao động tăng thêm hàng năm trong ngành nông nghiệp. Mặc dù vậy,
nhưng phụ nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khóa khuyến nông về chăn nuôi
và 10% các khóa khuyến nông về trồng trọt. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với
công nghệ, tín dụng và đào tạo; họ thường xuyên gặp khó khăn do gánh nặng
công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được
trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc. Phụ nữ có
học vấn thấp, dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khỏe của
gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn. “Nghèo cũng liên quan chặt chẽ
tới nhóm dân tộc, ngay cả khi tất cả các đặc điểm khác nhau là giống nhau,
chi tiêu của một người thuộc dân tộc thiểu số cũng thấp hơn chi tiêu của một
người thuộc hộ người Kinh hoặc người Hoa 13%. Trình độ giáo dục cũng tạo
sự khác biệt đáng kể; một hộ gia đình chủ hộ có trình độ trung cấp có mức chi
tiêu cao hơn mức trung bình gần 19% và nếu chủ hộ có trình độ đại học thì
mức cao hơn là 31%. Con số này là 29% nếu vợ/chồng có trình độ trung cấp
và 48% nếu vợ/chồng có trình độ đại học” [2, trang 20].
Ngoài yếu tố dân trí ra thì phong tục, tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã
hội như buôn bán thuốc phiện, khai thác khoáng sản bừa bãi và di dân tự do
cũng là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Một số vùng đồng bào dân tộc hiện
nay vẫn còn những hủ tục lạc hậu, như người ốm không đưa đến các trạm y tế
để chữa bệnh mà mời thầy cúng đến làm lễ để cúng “con ma” ám vào người
bệnh (họ cho rằng người ốm là do ma ám). Làm lễ cúng như thế, bệnh của


các doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp thu hút
nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 11
năng tạo việc làm chưa đựợc quan tâm và tạo cơ hội phát triển. Tình trạng
thiếu thông tin, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản
phẩm thấp và năng lực sản xuất hạn chế đã làm không ít các doanh nghiệp
nhỏ và vừa bị phá sản và đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, buộc họ phải
gia nhập vào đội ngũ người nghèo.
Tăng trưởng kinh tế giúp XĐGN trên diện rộng, song việc cải thiện tình
trạnh của người nghèo về thu nhập, khả năng tiếp cận, phát triển các nguồn
lực lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế. Việc phân phối lợi ích
tăng trưởng trong các nhóm dân cư bao gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc
vào đặc tính của tăng trưởng. Phân tích tình hình biển đổi về thu nhập của
nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn
và kết quả đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo.
Kết cấu hạ tầng giao thông đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo
còn thiếu và yếu kém. Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn,
đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, đóng góp nguồn lực của
nhân dân còn hạn chế, chủ yếu bằng lao động. Hệ thống pháp luật kinh tế vẫn
chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu một số đạo luật quan trọng. Nhiều văn bản
pháp quy dưới luật chưa được ban hành kịp thời và thiếu nhất quán đã gây
không ít cản trở trong quá trình thực hiện. Chất lượng một số luật về kinh tế,
một số văn bản pháp quy dưới luật còn yếu.
Việc mở các lớp bồi dưỡng về khoa học kỹ thuật mới đối với hộ nghèo
còn ít, hiệu quả chưa cao. Nhà nước chưa định hướng cụ thể cho người dân

pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu ở
các vùng thành phố, thị xã… Nên người nghèo khó tiếp cận; hơn nữa phí dịch
vụ pháp lý còn cao so với khả năng tài chính của họ.
Hộ nghèo thường gặp khó khăn và thiếu tự tin trong việc giải quyết các
vấn đề của chính bản thân mình. Về giao tiếp xã hội, người nghèo thường
quan hệ với những người nghèo như mình, hoặc nghèo hơn mình. Không
muốn quan hệ với những người khá giả hơn mình. Từ đó, càng làm hạn chế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 13
về khả năng tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏi. Đây
là một cản trở lớn trong công cuộc XĐGN.
Đại đa số hộ nghèo kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp
canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức. Sản xuất tự cung, tự cấp là chính,
chưa có khái niệm về sản xuất hàng hoá. Kiến thức về marketting không có;
bán các sản phẩm làm ra, nhưng chưa qua chế biến, nên giá trị thấp; sản phẩm
làm ra chưa xuất phát từ nhu cầu của thị trường (bán sản phẩm của mình có,
chứ không bán cái mà thị trường cần). Người nghèo thường sống ở những
vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện thông tin
liên lạc, con cái thất học…Thiếu việc làm, không năng động tìm kiếm việc
làm, lười biếng lao động. Do sinh con nhiều, đông con vừa là nguyên nhân,
vừa là hệ quả của đói nghèo. Trong gia đình các hộ nghèo mặc dù nhân khẩu
nhiều, nhưng số người có sức lao động lại ít. Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị
tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường
xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất
thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém, nên họ khó có khả năng chống chọi
với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status