Kế toán thuế GTGT và tình hình thực hiện thuế GTGT tại công ty TNHH TONG JOU Việt Nam - Pdf 10

Trang 1 LỜI NĨI ĐẦU
Thuế là một phạm trù lòch sử, tồn tại và phát tirển cùng với sự tồn
tại và phát triển của Nhà Nước. Đối với bất kỳ quốc gia nào thì thuế cũng đóng
một vai trò quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà Nước. Việc
thực thi một chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn đònh cho nguồn thu này, từ
đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
Ở Việt Nam, trong bước chuyển biến của nền kinh tế, các sắc thuế
hiện tại tỏ ra không còn phù hợp và cùng với xu thế hoà nhập khu vực và quốc tế
cần có những sắc thuế phù hợp. Do đó trong chương trình công tác cải cách thuế
bước hai (1998 -2000) Bộ Tài chính đã đưa ra các loại thuế mới thay thế các sắc
thuế không còn phù hợp và đưa thêm các loại thuế mới phát sinh mà Nhà nước cần
phải thu [5].
Một trong những bước cải cách này đó là Thuế Doanh Thu được
thay thế bằng Thuế Giá Trò Gia Tăng mà Quốc hội đã thông qua có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/1999. Đến nay, sau gần 10 năm thực hiện Luật Thuế Giá
Trò Gia Tăng đã thực sự đi vào đời sống kinh tế và phát huy nhiều tác dụng
như: Khuyến khích phát triển kinh tế sản xuất, kinh doanh, tăng cường xuất
khẩu và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Song chính trong quá
trình thực hiện, Luật Thuế Giá Trò Gia Tăng đã nảy sinh nhiều vấn đề. Để
phù hợp hơn với tình hình thực tế, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi số
57/2005/QH11 ngày 29/11/2005, cùng với nghò đònh 158/2003/NĐ-CP ngày
10/12/2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006.Và mới đây tại kỳ họp thứ 3
ngày 03/06/2008 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam khóa XII
cũng thông qua Luật điều chỉnh, đã chính thức áp dụng kể từ ngày 01/01/2009 [6].
Trang 2 Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “ Kế Toán Thuế Giá Trò Gia Tăng

:
1.1.1, Bản chất của Thuế:
1.1.1.1, Khái niệm : [3]
Û Kinh tế thò trường là kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai
đoạn cao . Sự vận hành của nền kinh tế chòu sự tác động của các quy luật kinh tế
khách quan như quy luật giá trò , quy luật cung cầu , quy luật lưu thông tiền tệ ....đã
bộc lộ những ưu điểm cũng như những khuyết tật của kinh tế thò trường . Để hạn
chế và khắc phục những khuyết tật đó ,Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành
của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
ổn đònh. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thò trường là sự can thiệp gián
tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như : pháp luật , kế hoạch , tổ chức , tài chính,
tiền tệ . . .trong đó ngân sách Nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của
Nhà nước . Mà thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước , nó ảnh hưởng
to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế . Thuế là một khoản thu của nhà nước đối
với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, khoản thu đó mang tính bắt buộc,
không hoàn trả trực tiếp, được pháp luật quy đònh.
- Sự xuất hiện của nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều
kiện cho nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình . Nhà nước dùng quyền
lực chính trò để ban hành những quy đònh pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối
lại một phần của cải trong xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước .
- Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội và cơ sở chủ yếu tạo
khả năng và nguồn thu để thuế tồn tại và phát triển . Như vậy , thuế là phạm trù có
tính lòch sử và là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng
Trang 4 của nhà nước . Thuế phát sinh , tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời , tồn tại và
phát triển của nhà nước . Thuế được nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế
quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước , góp phần điều
chỉnh kinh tế và điều hoà thu nhập . của phương thức sản xuất , kết cấu giai cấp là

của cải xã hội được sáng tạo ra hàng năm tập trung vào trong tay Nhà nước. Thuế
gắn chặt chẽ với sản xuất kinh doanh và kiểm soát thu nhập của mọi tổ chức và cá
nhân để động viên và điều hoà thu nhập , điều tiết kinh tế . Nguồn thu từ thuế cho
ngân sách nhà nước chỉ có thể tăng nhiều và nhanh trên cơ sở nền kinh tế được
phát triền và đạt hiệu quả cao . Ngược lại qua thu thuế phải góp phần kích thích
kinh doanh phát triển , thúc đẩy thực hành tiết kiệm về mọi mặt trong sản xuất tiêu
dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu thuế ngày một lớn hơn . Vì vậy nếu nhà
nước tăng mức động viên thuế quá cao chỉ nhằm mục đích đơn thuần tăng thu ngân
sách để đáp ứng nhu cầu chi của nhà nước mà bỏ qua yêu cầu đảm bảo sự tăng
trưởng về kinh tế thì thường là gặp thất bại , dẫn đến hiệu qủa xấu về nhiều mặt
cả về kinh tế – chính trò . Mức động viên thuế hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho
ngân sách và kích thích sản xuất kinh doanh phát triển
- Xét về bản chất chính trò của thuế: Thuế thể hiện quyền lực chính
trò của Nhà nước , sự áp đặt của Nhà nước với mọi người dân, bắt mọi người dân
phải tuân theo. Thuế ra đời là do sự ra đời của nhà nước . Nhà nước đại diện cho
quyền lợi của giai cấp thống trò xã hội , do đó bản chất của nhà nước quyết đònh
bản chất của thuế . Nhà nước mang bản chất giai cấp nên thuế cũng mang bản chất
giai cấp . Vì vậy với những nhà nước khác nhau thì bản chất của thuế cũng không
giống nhau . Điều đó được ẩn chứa bên trong những nội dung chủ yếu là : Thuế thu
vào ai ? Thu như thế nào ? Và thu để làm gì ?
- Xét về bản chất xã hội: Thuế thể hiện tính xã hội rất rộng rãi .
Trước hết thuế thu vào toàn dân , thuế có liên quan tới mọi tổ chức , cá nhân trong
xã hội. Thuế là công cụ để điều tiết và quản lý toàn xã hội, là nghóa vụ mà người
Trang 6 dân phải đóng góp khi sử dụng các dòch vụ công cộng mà Nhà nước đã tạo ra. Thuế
gắn liền với nhà nước , mà trong cơ chế quản lý đất nước ta hiện nay theo công
thức “ Đảng lãnh đạo , nhân dân làm chủ , nhà nước quản lý “ thì nhà nước , chỉ có
nhà nước là chủ thể duy nhất có chức năng , nhiệm vụ quản lý xã hội mang tính

1.1.2.2, Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế và công bằng xã hội: [3]
- Hệ thống thuế mới được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề ,
các thành phần kinh tế , các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng công bằng
xã hội về quyền lợi và nghóa vụ của mọi công dân , không có những đặc quyền ,
đặc lợi bất hợp lý cho đối tượng nào.
- Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách
động viên giống nhau giữa các đơn vò, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có
những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng.
- Công bằng xã hội không có nghóa là bình quân chủ nghóa, đòi hỏi
mọi người trong xã hội chỉ có thể có thu nhập ngang nhau. Người có thu nhập cao,
thậm chí là rất cao với người làm ăn lười biếng, kém hiệu quả, khuyến khích cải
tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi để có thu
nhập cao một cách chính đáng.
- Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà
phải được biểu hiện bằng luật pháp, chế độ, quy đònh rõ dàng của nhà nước. Phải
có những biện pháp chống thất thu có hiệu quả về số cơ sở thuộc thuế, về kiểm tra,
xử lý nghiêm minh với các vụ vi phạm, khắc phục trường hợp sử lý “nhẹ với trên
nặng với dưới”
- Nhận thức đúng đắn và ý thức tự nguyện, tự giác chấp nhận các
nghóa vụ về chế độ giữ sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn, thu nộp thuế theo đúng
Trang 8 pháp luật củng cố những yếu tố quan trọng để chính sách thuế đảm bảo bình đẳng
và công bằng xã hội.
1.1.2.3, Thuế là công cụ điều tiết vó mô nền kinh tế
:
* Một là, thuế là công cụ đònh hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới
, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền [3].

1.1.3.1, Tên gọi
[3]
Tên gọi nói lên đối tượng tính thuế hoặc nội dung chủ yếu của sắc
thuế như: thuế giá trò gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất nhập khẩu, thuế nhà đất...
1.1.3.2, Đối tượng nộp thuế
[3]
Đối tượng nộp thuế là những những người có trách nhiệm phải thanh
toán tiền thuế với ngân sách Nhà nước. Người nộp thuế là các tổ chức ( pháp nhân
) hoặc cá nhân có đăng ký các hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động
khác được luật pháp của Nhà nước công nhận và quy đònh nghóa vụ đóng góp một
phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước.
1.1.3.3, Đối tượng tính thuế
[3]
Đối tượng tính thuế là căn cứ để từ đó tính ra tiền thuế. Đònh lượng
tính thuế là một yếu tố cần thiết của sắc thuế và phải quán triệt nhiều mặt của
chính sách động viên đối với sắc thuế đó.
Ví dụ: Đối tượng thuế giá trò gia tăng là doanh thu, Đối tượng tính
thuế thu nhập dn là thu nhập chòu thuế...
1.1.3.4, Thuế suất
: [3] Thuế suất là một linh hồn của một sắc thuế,
biểu hiện yêu cầu động viên trên đối tượng tính thuế và được chia ra:
Trang 10 - Thuế suất cố đònh: là mức thuế suất được ấn đònh bằng số tuyệt đối
cho các đối tượng tính thuế.
- Thuế suất tỷ lệ là mức thuế được ấn đònh bằng số tương đối hay tỷ
lệ phần trăm ( % ) trên đối tượng tính thuế.
- Thuế suất luỹ tiến : là hình thức biến tướng của thuế suất tỷ lệ, nó

thu nộp được coi như một căn cứ pháp lý góp phần đảm bảo thu nộp kòp thời , đều
đặn và đầy đủ các khoản thuế vào ngân sách nhà nước.
1.2. Những nội dung cơ bản về thuế giá trò gia tăng:
1.2.1, Quá trình hình thành và phát triển của Thuế Giá trò gia
tăng:
1.2.1.1, Trên Thế Giới:
- Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu được nghiên cứu , áp
dụng từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất nhằm động viên sự đóng góp rộng rãi
của quảng đại quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước , để nhanh
chóng hàn gắn vết thương chiến tranh . Thuế doanh thu được áp dụng ở Pháp từ
năm 1917 . Thời kì đầu thuế doanh thu chỉ đánh ở giai đoạn cuối cùng của quá trình
lưu thông hàng hoá , với thuế suất thấp . Đầu năm 1920 , thuế doanh thu được điều
chỉnh , đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất . Như vậy quá trình sản xuất ra
sản phẩm càng nhiều khâu thì thuế càng cao thì thuế chồng lên thuế . Để khắc
phục nhược điểm này , năm 1936 , Pháp đã cải tiến thuế doanh thu qua hình thức
đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất . Tuy nhiên chính
sách thuế này lại phát sinh nhïc điểm là việc thu thuế lại bò chậm trễ so với trước
vì chỉ khi sản phẩm được đưa vào khâu lưu thông lần đầu nhà nước mới được thu
thuế . Đến năm 1954 , chính phủ Pháp đã ban hành loại thuế mới có tên là thuế
GTGT theo tiếng pháp là TAXE SUR LA VALEUR AJOUTEE ( viết tắt là TVA )
.Quá trình thống nhất hoá Châu Âu bò thúc đẩy vào những năm 1950 đã có tác
dụng thuận lợi để TVA được triển khai nhanh chóng ở một số nước khác . Từ năm
1978 , theo yêu cầu điều hoà luật pháp ở các nước thành viên cộng đồng kinh tế
Trang 12 châu Âu (EEC) nước Pháp điều chỉnh lại luật tài chính , trong đó có phần đặc biệt
quan trọng liên quan tới thúê GTGT . Năm 1986 , thuế GTGT ở Pháp được áp dụng
rộng rãi đối với các ngành nghề sản xuất , lưu thông hàng hoá dòch vụ , nhằm đáp
ứng hai mục tiêu quan trọng : Bảo đảm số thu kòp thời thường xuyên cho NSNN và

1.2.2.1, Giá trò gia tăng: [3]
- Giá trò gia tăng là giá trò tăng thêm của sản phẩm hàng hoá, dòch
vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, đến tiêu dùng, được xác đònh làm
căn cứ tính thuế giá trò gia tăng.
- Ngoài ra, giá trò gia tăng còn được xem là giá trò tăng thêm đối với
một sản phẩm hàng hoá hoặc dòch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, bán buôn hoặc
dòch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hoá mua vào, làm cho giá trò
của chúng tăng thêm. Nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa giá đầu ra với giá
đầu vào do đơn vò kinh tế tạo gia trong quá trình sản xuất, kinh doanh và dòch vụ.
- Trò giá gia tăng có thể tính bằng phương pháp cộng hoặc trừ.
+ Đối với phương pháp cộng, trò giá gia tăng là trò giá các yếu tố cấu
thành trò giá tăng thêm, bao gồm chủ yếu là trò giá lao động (thường được tính bằng
chi phí lao động) và lợi nhuận về hoạt động sản xúât kinh doanh và dòch vụ
Giá trò gia tăng = Tiền công lao động + Lợi nhuận
+ Đối với phương pháp trừ, trò giá gia tăng là khoản chênh lệch giữa
trò giá khâu sau của sản phẩm (đầu ra) với trò giá của nguyên vật liệu hay sản phẩm
của khâu trước mà nhà kinh tế đã sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dòch vụ mới
(đầu vào).
Giá trò gia tăng = Giá đầu ra – Giá đầu vào
(Mức chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào càng cao thì đơn vò
kinh doanh càng thành công khẳng đònh kinh doanh tăng trưởng và phát triển ổn
đònh, bền vững).
Trang 14 1.2.2.2, Thuế giá trò gia tăng: [3]
Tại điều 1 của luật thuế Giá trò gia tăng thì thuế giá trò gia tăng được
đònh nghóa như sau: Là thuế tính trên khoản giá trò tăng thêm của hàng hoá, dòch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
- Thuế giá trò gia tăng là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu

1.2.3, Nội dung và căn cứ tính thuế giá trò gia tăng
:
1.2.3.1, Nội dung của thuế giá trò gia tăng
[4]: Thuế giá trò gia tăng là
thuế tính trên giá trò tăng thêm của hàng hoá, dòch vụ phát sinh trong quá trình từ
sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
- Đối tượng chòu thuế: Hàng hóa, dòch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chòu thuế giá trò gia tăng
- Người nộp thuế: Người nộp thuế giá trò gia tăng là tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dòch vụ chòu thuế giá trò gia tăng (sau đây gọi là cơ
sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chòu thuế giá trò gia tăng
(sau đây gọi là người nhập khẩu).
- Đối tượng không chòu thuế: Theo qui đònh tại Điều 4 Luật thuế
GTGT, Điều 4 nghò đònh số 158/2003/NĐ-CP của Chính phủ, các hàng hoá, dòch vụ
không thuộc diện chòu thuế GTGT gồm 28 nhóm hàng
1.2.3.2, Căn cứ tính thuế giá trò gia tăng
: là giá tính thuế và thuế suất.
* Giá tính thuế
: [1]
- Được qui đònh tại Điều 7 Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 ngày
10/05/1997 và Điều 6 Nghò đònh số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003.
- Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác đònh số thuế GTGT
phải nộp, giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thể được ghi trên hoá đơn bán
Trang 16 hàng của người bán hàng, cung cấp dòch vụ hoặc người nhập khẩu. Giá tính thuế
GTGT của hàng hoá, dòch vụ được xác đònh cụ thể như sau :
+ Đối với hàng hoá do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán
chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá chòu thuế tiêu thu đặc biệt là giá bán đã có

+ Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế là giá gia công chưa có
thuế (bao gồm tiền công, tiền nhiên liệu, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công).
+ Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá xây dựng, lắp đặt chưa
có thuế GTGT của công trình, hạng mục công trình.
+ Đối với hoạt động đầu tư xây nhà để bán, xây dựng cơ sở hạ tầng
để chuyển nhượng của các đơn vò được Nhà nước giao đất, giá tính thuế là giá bán
nhà, cơ sở hạ tầng gắn với đất trừ(-) tiền sử dụng đất phải nộp NSNN.
+ Đối với các hoạt động đại lý, môi giới mua, bán hàng hoá, dòch vụ
hưởng hoa hồng thì giá chưa có thuế làm căn cứ tính thuế là tiền hoa hồng thu từ
các hoạt động này.
+ Đối với hàng hoá, dòch vụ có tính đặc thù được dùng chứng từ
thanh toán như: tem bưu chính, vé cước vận tải, vé sổ số kiến thiết…ghi giá thanh
toán là giá đã có thuế, còn giá chưa có thuế được xác đònh như sau :
Giá chưa có thuế
giá trò gia tăng =

Giá thanh toán trên chứng từ

1 + thuế suất của hàng hoá, dòch vụ (%)

+ Đối với dòch vụ đại lý tàu biển, dòch vụ môi giới, uỷ thác xuất
nhập khẩu và dòch vụ khác hưởng tiền công hoặc hoa hồng, giá tính thuế là tiền
công hoặc hoa hồng được hưởng chưa có thuế.Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp
Trang 18 thì giá tính thuế là giá cước vận chuyển, bốc xếp chưa có thuế . Đối với hoạt động

phái sinh; dòch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên,
khoáng sản khai thác chưa qua chế biến quy đònh tại khoản 23 Điều 5 của Luật
này.
+ Mức thuế suât 5% : áp dụng đối với các hàng hoá, dòch vụ thiết
yếu cần khuyến khích, hoặc sản xuất-kinh doanh còn đang gặp khó khăn.
 Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt;
 Phân bón, quặng để sản xuất phân bón; thuốc trừ sâu bệnh và
chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng;
 Thiết bò và dụng cụ y tế; bông và băng vệ sinh y tế;
 Thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;
 Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập;
 Đồ chơi cho trẻ em; sách khoa học - kỹ thuật, sách văn học
nghệ thuật, sách phục vụ thiếu nhi, sách pháp luật, trừ sách văn bản pháp luật quy
đònh tại khoản 13 Điều 4 của Luật này;
 Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa qua
chế biến gồm cả con giống, cây giống, hạt giống, trừ đối tượng quy đònh tại khoản
1 Điều 4 của Luật này;
 Lâm sản (trừ gỗ, măng) chưa qua chế biến; thực phẩm tươi
sống;
 Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá;
 Bông sơ chế từ bông trồng ở trong nước;
 Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác;
 Dòch vụ khoa học, kỹ thuật;
Trang 20  Dòch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp;
+ Mức thuế suất 10% : là mức thuế suất phổ biến, áp dụng cho các
loại hàng hoá, dòch vụ thông thường còn lại ngoài những hàng hoá, dòch vụ đã chòu
thuế suất 0%, 5%

hàng hoa, dòch vụ nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước
ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài Chính.
Nếu hàng hoá, dòch vụ mua vào được dùng chứng từ đặc thù ghi gia
thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở có thể căn cứ vào giá trên để xác đònh
giá chưa có thuế GTGT được khấu trừ.
* Xác đònh thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
:
+ Thuế GTGT của hàng hoá, dòchvụ mua vào dùng cho sản xuất
kinh doanh hàng hoá, dòch vụ chòu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.
+ Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dòch vụ mua vào dùng đồng
thời để sản xuất kinh doanh hàng hoá, dòch vụ chòu thuế và không chòu thuê thì chỉ
khấu trừ số thuế đầu vào tương ứng của hàng hoá, dòch vụ dung cho sản xuất kinh
doanh hàng hoá, dòch vụ chòu thuế GTGT, còn số thuế GTGT đầu vào không được
khấu trừ sẽ tính vào chi phí của hàng hoá, dòch vụ không chòu thuế GTGT.
+ Hàng hoá mua vào bò tổn thất do thiên tai, hoả hoạn hoặc do mất,
xác đònh trách nhiệm do cá nhân hoặc tổ chức phải bồi thường thì thuế GTGT đầu
vào của số hàng hoá, dòch vụ này được tính vào giá trò của hàng hoá tổn thất hoặc
phải bồi thường không được tính vào thuế GTGT đầu vào để khấu trừ khi kê khai
thuế GTGT phải nộp.
+ Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dòch vụ được khấu trừ phát
sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ khi xác đònh số thuế phải nộp của
tháng đó, không phân biệt hàng hoá, dòch vụ đó đã xuất dùng hay còn trong kho.
Trang 22 Trường hợp không kê khai kòp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng
tiếp sau nhưng tối đa không quá 3 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát
sinh.
+ Đối với tài sản cố đònh(TSCĐ) mua vào sử dụng riêng cho sản
xuất-kinh doanh hàng hoá, dòch vụ không chòu thuế GTGT, thì thuế GTGT của

thêm mà bên mua phải trả.
- Giá vốn của hàng hoá, dòch vụ bán ra được xác đònh bằng giá trò
hàng hoá, dòch vụ(giá mua bao gồm cả thuế GTGT) mà cơ sở sản xuất, kinh doanh
đã dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dòch vụ chòu thuế GTGT bán ra trong
kỳ.
* GTGT đối với một số trường hợp và ngành nghề kinh doanh
:
- Đối với hoạt động sản xuất , kinh doanh bán hàng thì GTGT là
chênh lệch giữa doanh số bán ra với doanh số mua vào dùng cho sản xuất kinh
doanh.
- Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán riêng được doanh số
hàng hoá, vật tư mua vào tương ứng với doanh số bán ra thì :
Giá vốn hàng = Trò giá tồn + Trò giá mua - Trò giá tồn
hoá bán ra đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
- Đối với kinh doanh ngoại tệ giá trò gia tăng của hoạt động này xác
đònh như sau :
GTGT = Doanh số bán ra trong kỳ – Doanh số mua vào tng ứng
Trong đó :
D.S mua vào tương ứng= số ngoại tệ đã bán xTỷ giá mua vào thực tế.
* Ngoài ra, trong luật thuế GTGT còn qui đònh việc đăng ký, kê
khai, nộp thuế, quyết toán thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế (nếu có).
1.2.5, Quy trình thực hiện thuế giá trò gia tăng
:
1.25.1, Đăng ký nôp thuế
[2]
Trang 24 - Các đối tượng quy đònh nêu trên đều phải đăng ký kê khai nộp
thuế tại chi cục thuế quận huyện nơi có đòa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh

theo đúng số thuế, ngày nộp thuế và đòa điểm nộp thuế ghi trong thông báo nộp
thuế. Thời gian thông báo nộp thuế của tháng đối với các hộ kinh doanh do cơ quan
thuế xác đònh phù hợp với từng ngành nghề, đòa bàn. Đối với từng hộ kinh doanh
(trừ đối tượng nộp thuế theo kê khai) cơ quan thuế tổ chức thu thuế và nộp vào
Ngân Sách Nhà nước (NSNN ) đối với những đòa bàn xa kho bạc nhà nước, hoặc
kinh doanh lưu động, không thường xuyên. Thời hạn cơ quan thuế nộp tiền thuế
vào NSNN chậm nhất không quá 3 ngày (kể từ ngày thu được tiền thuế); Đối với
vùng hải đảo, vùng đi lại khó khăn thì chậm nhất không quá 6 ngày.
- Đòa điểm nộp thuế được quy đònh cụ thể như sau:
+ Đối với hộ kinh doanh đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá
đơn chứng từ nộp thuế theo kết quả kinh doanh kê khai, hộ kinh doanh lớn, đòa
điểm nộp thuế theo quy đònh tại Kho Bạc Nhà Nước quận huyện, thò xã, hoặc theo
đòa điểm Kho bạc Nhà nước chỉ đònh.
+ Các trường hợp khác nếu thuận tiện cũng trực tiếp nộp vào Kho
bạc Nhà Nước hoặc tại trụ sở UBND phường, xã, thò trấn, trụ sở Chi cục thuế, đội
thuế. Cơ quan thuế tổ chức thu thuế tại trụ sở UBND phường, xã, đội thuế thực
hiện đúng quản lý biên lai thuế, thanh toán biên lai thuế, nộp tiền thuễvào Kho bạc
Nhà nước.
1.2.5.4, Quyết toán thuế GTGT
[2].
Tất cả cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế (trừ hộ kinh
doanh vừa và nhỏ nộp thuế theo mức ấn đònh doanh thu, hộ kinh doanh buôn
chuyến nộp thuế theo từng chuyến hàng ) đều phải thực hiện quyết toán thuế
GTGT với cơ quan thuế.

Trích đoạn Lịch sử hình thành và phát triển của Cơng ty TNHH Tong Jou Việt Nam: Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận Chính Sách Vệ Sinh An Tồn: Chú trọng an tồn mạng Trọng Điểm Quản Lý Vệ Sinh An Tồn: Những thuận lợi, khĩ khăn, phương hướng và chiến lược
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status