BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng Á Châu - Pdf 10

Lời nói đầu
Thanh toán là cầu nối giữa sản xuất- phân phối, lu thông và tiêu dùng,
đồng thời là khâu mở đầu và khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội. Tổ
chức tốt công tác thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói
riêng sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, kinh doanh đợc tiến hành trôi
chảy, nhịp nhàng; ngợc lại việc thanh toán bị trục trặc, ách tắc thì quá trình sản
xuất, kinh doanh bị trì trệ, nền sản xuất xã hội không phát triển.
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế
tiền tệ nói riêng đặt ra ngày càng nhiều các yêu cầu đối với hệ thống ngân
hàng thơng mại, đặc biệt là trong các nghiệp vụ thanh toán để đem lại ngày
càng nhiều lợi ích cho khách hàng, tạo nhiều thụân lợi cho chính ngân hàng,
đồng thời đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế và tốc độ chu chuyển tiền tệ.
Mặt khác, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhất là các tiến bộ của công
nghệ tin học đợc ứng dụng vào hoạt động ngân hàng trở thành công nghệ tin
học ngân hàng đã mở rộng hoạt động ngân hàng lên những bớc đáng kể.
Kinh nghiệm của các nớc cho thấy, nền kinh tế xã hội càng phát triển, tỷ
lệ thanh toán bằng tiền mặt càng giảm và tỷ lệ các công cụ thanh toán không
dùng tiền mặt càng tăng. Đỉnh cao của sự phát triển các công cụ thanh toán
không dùng tiền mặt là sự ra đời của tiền điện tử - thẻ. Trong bối cảnh nền
kinh tế tài chính Việt Nam hiện nay, thẻ - công cụ chính của hoạt động ngân
hàng bán lẻ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam, có tác động lớn đến chính sách tiền tệ cũng nh đến
hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng. Đối với các ngân hàng thơng mại
(NHTM), nghiệp vụ kinh doanh thẻ mang lại một định hớng mới cho hoạt
động kinh doanh ngân hàng, theo hớng mở rộng mảng kinh doanh dịch vụ vừa
tăng thu nhập, mở rộng quy mô vừa giảm rủ ro từ hoạt động tín dụng truyền
thống.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh thẻ trong hoạt
động kinh doanh của một ngân hàng hiện đại, chiếm một tỷ lệ tơng đối lớn
trong tổng doanh thu và lợi nhuận, Ngân hàng TMCP á Châu (ACB) là ngân
hàng thứ hai sau Ngân hàng Ngoại Thơng (VCB) đi đầu trong việc triển khai

vụ này nhng họ nhận thấy không đủ khả năng. Điều đó tạo cơ hội cho các tổ
chức tài chính và ngân hàng vào cuộc.
Hình thức sơ khai của thẻ là Charg-it, một hệ thống mua bán chịu do John
Biggins sáng lập ra năm 1946. Hệ thống này cho phép khách hàng trả tiền cho
các giao dịch mua bán lẻ tại địa phơng. Các cơ sở chấp nhận thẻ nộp biên lai
bán hàng vào nhà băng của Biggins, nhà băng sẽ trả tiền cho họ và thu lại từ
khách hàng đã sử dụng Charg-it.
Hệ thống mua bán chịu này cũng mở đờng cho thẻ tín dụng ra đời do
Ngân hàng Franklin National Bank ở Long Island NewYork phát hành lần đầu
tiên năm 1951. Tại đây các khách hàng đệ đơn xin vay và đợc thẩm định khả
năng thanh toán. Các khách hàng có đủ tiêu chuẩn sẽ đợc duyệt cấp thẻ. Thẻ
này dùng cho các thơng vụ bán lẻ hàng hoá và dịch vụ. Khi thanh toán, cơ sở
cung ứng hàng hoá dịch vụ sẽ ghi các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hoá
đơn bán hàng. Sau đó nhà phát hành thẻ thanh toán lại cho cơ sở cung ứng
hàng hoá dịch vụ có chiết khấu một tỷ lệ nhất định để bù đắp những chi phí
của khoản vay.
Trong những năm sau đó ngày càng có nhiều các tổ chức tham gia vào thị
trờng thẻ ngân hàng. Vào năm 1959, một số ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
đã cung ứng thêm một dịch vụ mới đó là thẻ tín dụng tuần hòan. Với dịch vụ
này, các chủ thẻ có thể duy trì số d có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín
dụng nếu họ hoàn thành việc thanh toán hàng tháng. Khi đó số tiền thanh toán
hàng tháng của chủ thẻ sẽ đợc cộng thêm một khoản phí tính từ những khoản
vay của chủ thẻ.
Vào năm 1960, Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ đầu tiên của
mình BANKAMERICARD. Thẻ BANKAMERICARD phát triển rộng khắp
vào những năm tiếp theo và đạt đợc rất nhiều thành công. Những thành công
của BANKAMERCARD đã thúc đẩy các nhà phát hành thẻ khác trên khắp n-
ớc Mỹ bắt đầu tìm kiếm phơng thức cạnh tranh với loại thẻ này.
Năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ liên kết với nhau thành tổ
chức Interbank- một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông

lớp ép sát, lõi thẻ đợc làm bằng nhựa trắng cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng.
Thẻ có kích thớc chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 5.50 cm x8.50 cm. Trên thẻ
phải có đủ các thông tin sau:
Mặt trớc của thẻ phải ghi:
- Loại thẻ (Tên và biểu tợng của ngân hàng phát hành thẻ)
- Số thẻ đợc in nổi.
- Tên ngời sử dụng đợc in nổi.
- Ngày bắt đầu có hiệu lực và ngày hết hiệu lực.
- Biểu tợng của tổ chức thẻ.
- Các đặc tính để tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo.
Mặt sau của thẻ có băng từ ghi lại những thông tin sau:
- Số thẻ
- Tên chủ thẻ
- Thời hạn hiêu lực
- Bảng lí lịch ngân hàng
- Mã số bí mật
- Ngày giao dịch cuối cùng
- Mức rút tối đa và số d
Ngoài ra thẻ còn có thể có thêm một số yếu tố khác theo quy định của các
tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ Các ngân hàng khi phát hành
thẻ thờng sử dụng những thiết bị mang tính công nghệ cao để đảm bảo tính an
toàn cho thẻ.
1.2.3. Phân loại thẻ.
Nếu đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân chia các loại thẻ thì ta
thấy thẻ thanh toán rất đa dạng. Ngời ta có thể nhìn nhận nó từ nhiều góc độ
ngời phát hành, công nghệ sản xuất hay theo phơng thức hoàn trả:
a/ Theo đặc tính kỹ thuật
- Thẻ băng từ (Magnetic Stripe) đợc sản xuất trên kỹ thuật từ tính với một
băng từ chứa hai rãng thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại này đựoc sử dụng phổ
biến trong vòng hơn 20 năm nay.

tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những điểm khác
nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng nhng chung nhất
vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thờng.
- Thẻ thờng: Đây là loại thẻ căn bản nhất, phổ biến đại chúng nhất, đuợc
hơn 142 triệu ngời trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Hạn mức tối thiểu tuỳ theo
ngân hàng phát hành quy định.
e/ Theo phạm vi sử dụng:
- Thẻ nội địa: Là loại thẻ đợc giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc
gia, do vậy đồng tiền đợc sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá hay rút
tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này cũng có công dụng
nh những loại thẻ trên nhng hoạt động của nó đơn giản hơn bởi nó chỉ do một
tổ chức hay do một ngân hàng điều hành từ việc tổ chức phát hành đến xử lý
trung gian, thanh toán và việc sử dụng thẻ bị giới hạn trong phạm vi một quốc
gia .
- Thẻ quốc tế : Là loại thẻ thanh toán không chỉ dùng tại quốc gia nó đợc
phát hành mà còn đợc dùng trên phạm vi quốc tế. Nó đợc hỗ trợ và quản lí trên
toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn nh Master Card, Visa hoặc các
công ty điều hành nh Amex, JCB, Dinner Club hoạt động trong một hệ thống
nhất, đồng bộ.
1.3. Vai trò và lợi ích của thẻ.
1.3.1. Vai trò của thẻ.
a/ Đối với nền kinh tế: Thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lợng
tiền mặt rất lớn lẽ ra phải lu chuyển trực tiếp trong lu thông để thanh toán các
khoản mua hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ chế thị trờng đang ngày càng sôi
động, phát triển ở tất cả các nớc, loại hình thanh toán này cũng không đòi hỏi
nhiều thủ tục giấy tờ. Do đó sẽ tiết kiệm đợc một khối lợng đáng kể về chi phí
in ấn, chi phí bảo quản, vận chuyển Với hình thức thanh toán hiện đại, nhanh
chóng, an toàn, hiệu quả này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp nhà nớc
quản lí nền kinh tế cả về vi mô và vĩ mô. Việc áp dụng công nghệ hiện đại của
việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho việc hội nhập nền

- Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): Thực hiện tham gia thanh toán thẻ,
ngân hàng có thể đa dạng hoá các dịch vụ của mình, thu hút đợc những khách
hàng mới làm quen với dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác do ngân hàng cung
cấp, vừa giữ đợc những khách hàng cũ. Mặt khác thông qua hoạt động phát
hành, thanh toán thẻ ngân hàng có thể thu hút một nguồn vốn lớn để bổ sung
vào nguồn vốn ngắn hạn từ hoạt động thu phí và lãi do việc phát hành thẻ
mang lại. Cũng thông qua đó, uy tín và danh tiếng của ngân hàng đợc nâng lên
nhờ việc cung cấp các dịch vụ đầy đủ (full service).
- Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): Ngân hàng thu hút đợc nhiêù
khách hàng đến với ngân hàng mình, sử dụng các sản phẩm do ngân hàng cung
cấp. Từ đó làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận thông qua hoạt động thu phí
chiết khấu đại lí từ hoạt động thanh toán đại lí. Qua đó cũng làm tăng uy tín
của ngân hàng trong nền kinh tế.
1.4. Hoạt động kinh doanh thẻ tại các ngân hàng thơng mại.
1.4.1. Cơ chế phát hành thẻ:
a/ Hình thức phát hành thẻ:
Thẻ ngân hàng ra đời gắn với nó là hai hình thức phát hành thẻ đã đợc áp dụng:
Phát hành đơn lẻ: Đậy là hình thức phát hành đầu tiên khi thẻ ra đời.
Việc phát hành thanh toán và các điểm tiếp nhận thẻ thuộc về một ngân hàng.
Tiện ích thanh toán của thẻ phụ thuộc vào phạm vi của những điểm tiếp nhận
thẻ có kí hợp đồng với ngân hàng phát hành. Đối với ngân hàng chi phí cho
việc phát hành thẻ và phát triển mạng lới chấp nhận thẻ là rất lớn. Nh vậy sẽ
làm giảm lợi nhuận và lợi ích của việc kinh doanh thẻ cho ngân hàng. Chính vì
những nhợc điểm này mà hệ thống thanh toán liên ngân hàng đã đợc thành lập.
Phát hành tập thể: Hai tổ chức thanh toán thẻ quốc tế MASTERCARD và
VISACARD đợc thành lập cuối những năm 1970 đã đặt ra một mốc quan
trọng cho sự phát triển lớn mạnh của thẻ với cơ cấu tổ chức nhiều ngân hàng
thanh toán và phát hành rộng khắp thế giới, phạm vi thanh toán thẻ không có
giới hạn. Các ngân hàng thành viên (gồm hai loại: thành viên chính thức và
thành viên trực thuộc) đợc uỷ quyền phát hành và thanh toán thẻ có biểu tợng

hàng, bộ phận thẩm định sẽ tiến hành thẩm tra hồ sơ và ra quyết định chấp
nhận hoặc từ chối phát hành. Với những hồ sơ đợc chấp nhận, chi nhánh phát
hành thẻ tiến hành gửi hồ sơ, hợp đồng ký kết tới trung tâm thẻ, đồng thời xác
định hạn mức cho khách hàng.
B ớc 3: Trung tâm thẻ sẽ tiến hành mở tài khoản thẻ cho khách hàng cập
nhật hồ sơ và tiến hành in thẻ. Sau khi xác định số PIN, thẻ đợc giao lại cho bộ
phận phát hành. Quy trình phát hành thẻ, đặc biệt là số PIN phải đợc đảm bảo
giữ bí mật.
Sơ đồ: thủ tục phát hành thẻ.
- Chủ thẻ ký nhận và ký vào mặt sau - Gửi thẻ và mã cá nhân
- Gửi thẻ và mã số cá nhân cho chủ thẻ - Thẻ và mã cá nhân phải gửi riêng
1.4.4. Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ.
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ ở mỗi một quốc gia và mỗi một
ngân hàng là khác nhau về thủ tục và các điều kiện, do còn nhiều yếu tố ràng
buộc về luật pháp, chính trị, trình độ phát triển dân trí hay điều kiện kinh tế -xã
hội. Song về tổng thể nó gồm những nội dung cơ bản sau:
- Điền vào form yêu
cầu sử dụng thẻ
- Ký hợp đồng sử dụng
thẻ
- Kèm theo các giấy
tờ khác do ngân
hàng phát hành
Chủ thẻ
- Nhận hồ sơ khách hàng
- Thẩm định hồ sơ,
- Mở hồ sơ chủ thẻ, tài
khoản chủ thẻ, số thẻ và
lu vào file máy tính.
- Lu hồ sơ gốc

Sử
dụng
thẻ
thanh
toán
tiền
hàng
hoá
dịch
vụ
Cung
cấp
hàng
hoá
dịch
vụ, ứng
rút
tiền
mặt
(3)
(5)
(4) (6) (7) (8)
(7)
(8)
(4) (6)
Qui trình cấp phép
Qui trình đòi tiền
(4)
(6)
Qui trình thanh toán

a/ Thu nhập trong kinh doanh thẻ.
Với tính chất là một dịch vụ, thẻ đã mang lại cho ngân hàng nhiều nguồn
thu khác nhau. Trớc hết, phải kể đến là các khoản phí thờng niên mà chủ thẻ
phải nộp theo hợp đồng sử dụng thẻ. Khoản phí này thực tế không nhiều và chỉ
đóng góp chút ít vào những khoản thu nhập của ngân hàng.Tuy vậy, có thể nói
rằng ngân hàng luôn luôn có lợi khi thực hiện giao dịch thẻ.
Khoản thu nhập thứ hai tơng đối ổn định mà ngân hàng thu đợc đó là thu
từ các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối với các cơ sở chấp nhận thẻ thì khoản phí này
đợc coi là phí cho mỗi đồng doanh thu có đợc từ việc chấp nhận thanh toán
thẻ. Đây đợc coi nh khoản chiết khấu thơng mại. Ngoài ra, khách hàng cũng
phải trả một khoản lãi nếu nh không thanh toán đầy đủ theo sao kê. Khoản phí
chậm trả mà ngân hàng áp dụng đối với các chủ thẻ ứng với mỗi sao kê, ngân
hàng buộc chủ thẻ phải thanh toán một khoản tối thiểu, phần còn lại sẽ áp
dụng mức phí chậm trả mà thực chất là lãi quá hạn.
Khoản thu lớn nhất mà ngân hàng thu đợc là từ khoản phí do thực hiện
thanh toán cho các tổ chức tín dụng khác hoặc cho các tổ chức phát hành thẻ.
Khoản phí này đợc gọi là phí đại lí thanh toán. Ngoài ra còn có các loại
phí gia hạn mức tín dụng, phí tra soát, phí cấp lại thẻ bị mất cắp, thất lạc
Tất cả các khoản thu này mang lại một tỷ lệ sinh lời khá cao, lên tới
20% mỗi năm cho ngân hàng, tạo sức hấp dẫn cho những ngời kinh doanh thẻ.
Tỷ lệ sinh lời trên kinh doanh thẻ vợt lên trên tất cả các loại hình kinh doanh
khác với 1% tăng trởng về quy mô thị trờng và gắn liền với nó là sự tăng trởng
mạnh mẽ về lợi nhuận kinh doanh .
b/ Chi phí trong kinh doanh thẻ.
Bên cạnh những khoản thu từ hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, kinh
doanh thẻ cũng phải bỏ ra nhiều loại chi phí, bao gồm:
- Chi phí trong trang bị máy móc thiết bị cho các cơ sở chấp nhận thẻ.
Đây là khoản chi phí liên quan đến tài sản cố định của ngân hàng. Với sự phát
triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, chi phí này chiếm một tỷ trọng lớn
trong tổng chi phí kinh doanh thẻ bởi tốc độ hao mòn của máy móc thiết bị.

Ngân hàng có thể phát hành thẻ cho khách hàng với những thông tin giả
mạo do không thẩm định kỹ các thông tin của khách hàng trên hồ sơ xin phát
hành thẻ. Tuy thế có thể khẳng định rằng tỷ lệ phát sinh loại rủi ro này là rất
thấp, bởi vì trong thực tế, khác với nhiều loại hình kinh doanh khác hợp đồng
thẻ dễ kiểm chứng và có đảm bảo cao (có thế chấp và có số d tiền gửi tại ngân
hàng và có theo dõi dòng thu nhập của chủ thẻ). Trờng hợp rủi ro này có thể
dẫn đến các rủi ro về tín dụng cho NHPH khi chủ thẻ sử dụng thẻ mà không có
khả năng thanh toán các khoản chi tiêu của họ, hoặc có những hành vi lừa đảo.
b/ Thẻ giả (Counterfeit Card).
Thẻ do các tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào các thông
tin có đợc từ các chứng từ giao dịch thẻ hoặc thẻ mất cắp, thất lạc. Theo quy
định của tổ chức thẻ quốc tế, NHPH chịu hoàn toàn trách nhiệm với mọi giao
dịch thẻ giả có mã số (PIN) của NHPHT. Đây là loại rủi ro đặc biệt nguy hiểm
và khó quản lý vì nằm ngoài sự tiên liệu của NHPH.
c/ Chủ thẻ không nhận đ ợc thẻ do NHPH gửi (Never Received Issue).
Rủi ro này phát sinh khi ngân hàng phát hành gửi thẻ cho chủ thẻ qua đ-
ờng bu điện nhng thẻ bị đánh cắp trên đờng gửi. Thẻ bị sử dụng trong khi chủ
thẻ không hay biết gì về việc thẻ đã đợc gửi cho mình. Nếu không có biện
pháp quản lý đảm bảo, NHPH phải chịu mọi rủi ro đối với giao dịch đợc thực
hiện trong trờng hợp này.
d/ Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (Account take over).
Rủi ro này phát sinh tại thời điểm ngân hàng gia hạn hoặc phát hành thẻ.
Ngân hàng phát hành nhận đợc thông báo về thay đổi địa chỉ của chủ thẻ và đ-
ợc yêu cầu gửi thẻ về địa chỉ mới. Do không kiểm tra tính xác thực của thông
báo nên ngân hàng phát hành thẻ đã gửi thẻ đến địa chỉ thao yêu cầu nhng thực
ra đây không phải là yêu cầu của chủ thẻ đích thực. Tài khoản của chủ thẻ bị
ngời khác lợi dụng. điều này chỉ đợc phát hiện khi ngân hàng nhận đợc sự liên
hệ của chủ thẻ về việc không nhận đợc thẻ hoặc khi ngân hàng yêu cầu thanh
toán sao kê cho chủ thẻ. Trờng hợp này dễ dẫn đến rủi ro cho cả ngân hàng và
chủ thẻ.

tuân thủ, một hệ thống mạng trực tuyến (on-line) giữa các tổ chức thẻ quốc tế
với các thành viên đã đợc xây dựng để xử lí, trao đổi thông tin quản lí rủi ro
toàn cầu. Bên cạnh đó, các tổ chức thẻ quốc tế đã tổ chức các chơng trình dịch
vụ hỗ trợ, các chơng trình tập huấn đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ
cũng nh trợ giúp kỹ thuật và nghiệp vụ cho các ngân hàng thành viên nhằm
phòng ngừa và quản lý rủi ro. Nhng vấn đề thiết yếu là bản thân các ngân hàng
thành viên phải có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề này của ngân hàng mình.
Tóm lại hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi ro,
do đó để nâng cao chất lợng trong kinh doanh thẻ, giảm mất mát và tối đa hoá
thu nhập, ngân hàng cần đặc biệt chú trọng vào công tác phòng chống rủi ro
Chơng II: Thực trạng hoạt động phát hành và
thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP á Châu
I/ Một vài nét cơ bản về ngân hàng TMCP á Châu.
1.1. Khái quát về ngân hàng TMCP á Châu
Ngân hàng TMCP á Châu (Asia Commercial Bank- ACB) đợc thành lập
ngày 13/5/1993 và bắt đầu hoạt động kinh doanh từ ngày 4/6/1993 theo giấy
phép hoạt động số 0032/ NH-GP ngày 24/4/1993 của thống đốc NHNN. ACB
là một trong những ngân hàng TMCP đợc thành lập mới sau khi hai Pháp lệnh
Ngân hàng Việt Nam ra đời. Tuy ra đời và hoạt động trong điều kiện hệ thống
tài chính tiền tệ trong nớc gặp nhiều khó khăn, niềm tin của công chúng đối
với hệ thống ngân hàng trong nớc giảm sút nhng kết quả hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng TMCP á Châu trong thời gian qua đã khẳng định bớc đi vững
chắc của Ngân hàng. Những kết quả đó đã đánh dấu bớc phát triển vợt bậc của
Ngân hàng trong nỗ lực vơn lên từ một ngân hàng thơng mại cổ phần nhỏ bé,
thiếu và yếu kinh nghiệm trở thành một ngân hàng vững mạnh có uy tín trên
thị trờng trong nớc và quốc tế. Hiện nay Ngân hàng TMCP á Châu đợc đánh
giá là một trong những ngân hàng thơng mại cồ phần phát triển vững mạnh
nhất Việt Nam. Trong 3 năm 1997, 1998, 1999, Ngân hàng TMCP á Châu liên
tục đợc bình chọn là ngân hàng hoạt động có hiệu quả nhất tại Việt Nam, và là
một trong 10 ngân hàng hoạt động xuất sắc nhất Đông Nam á (theo các tạp chí

Tăng tr ởng nguồn vốn
Trong những năm vừa qua, nguồn vốn của ACB liên tục tăng trởng với tốc
độ khá cao. Tính đến thời điểm hiện tại thì ACB có quy mô vốn hoạt động lớn
nhất trong hệ thống các ngân hàng thơng mại cổ phần tại Việt Nam. Tổng vốn
hoạt động đến 31/12/2001 là 7399 tỷ đồng và tiếp tục tăng đến 30/06/2002 đã
là hơn 8517 tỷ, tăng 14,3% so với đầu năm. Tổng vốn huy động đến 6 tháng
đầu năm 2002 đạt số d là 7668 tỷ, tăng 1000 tỷ so với đầu năm, tơng đơng mức
tăng là 15%, VHĐ các loại tiền gửi đều tăng. Nguồn vốn huy động tăng trởng
ổn định qua các năm do ACB có nhiều sản phẩm tiền gửi đáp ứng đợc nhu cầu
của khách hàng, nhất là khách hàng cá nhân; chất lợng dịch vụ đợc nâng cao
và chính sách lãi suất, phí dịch vụ hợp lý, phù hợp với thị trờng, vừa duy trì đ-
ợc khách hàng hiện hữu vừa làm tăng nhiều khách hàng mới.
Chất l ợng tín dụng tăng tr ởng cao và an toàn
Trong 5 năm qua (1997-2001), hoạt động tín dụng của ACB luôn đạt mức
tăng trởng cao. Tính đến ngày 31/12/2001, d nợ cho vay đạt 2794 tỷ đồng, tăng
25% so với năm 2000 (hơn gấp 3 lần so với mức tăng 7,6% của toàn hệ thống
ngân hàng Việt Nam), đến 30/06/2002, d nợ cho vay đã đạt 3168 tỷ đồng,
trong đó cho vay nền kinh tế đạt 3040 tỷ, tăng 330 tỷ so với đầu năm, tơng ứng
với tỷ lệ tăng là 12%. Có đợc điều này là do ACB đáp ứng nhu cầu đa dạng của
mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế, cung cấp nhiều sản phẩm tín dụng
nh cho vay bổ sung vốn kinh doanh, tài trợ và đồng tài trợ các dự án đầu t, tài
trợ xuất nhập khẩu, cho vay sinh hoạt tiêu dùng, cho vay xây dựng sửa chữa
nhà, cho vay mua nhà với thời hạn cho vay phù hợp với nhu cầu. Thêm vào đó
chính sách lãi suất tín dụng hợp lí, thời gian xét duyệt hồ sơ vay và giải ngân
nhanh chóng đã thu hút đông đảo khách hàng đến vay vốn tại ACB. Trong
những năm tiếp theo, ACB cố gắng giữ vững tốc độ tăng trởng tín dụng ổn
định, vừa hớng đến khách hàng cá nhân vừa hớng đến khách hàng doanh
nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thêm sản phẩm cho vay mới, tiếp tục đồng tài trợ
cho các dự án lớn.
Tuy tốc độ tăng trởng tín dụng cao nhng tính an toàn và hiệu quả của hoạt

siêu thị đã thực hiện thanh toán cho hơn 4000 giao dịch bất động sản với tổng
trị giá trên 455.000 lợng vàng, tạo điều kiện cho khách hàng vay mua nhà đất
với doanh số cho vay trên 275 tỷ đồng, góp phần tăng trởng d nợ cho vay và
gia tăng tỷ trọng thu nhập từ thu phí dịch vụ.
Công ty chứng khoán ACB (ACBS) khai trơng hoạt động từ tháng 7/2000.
Tính đến cuối năm 2001 với hơn 1730 tài khoản giao dịch của khách hàng,
ACBS chiếm hơn 30% thi phần khách hàng giao dịch chứng khoán. ACBS đợc
đánh giá là công ty hàng đầu trong số 9 công ty chứng khoán đang hoạt động
tại Việt Nam. Với 145 phiên giao dịch trong năm, ACBS đã thực hiện môi giới
chứng khoán với doanh số 278 tỷ đồng và thu phí hoa hồng môi giới là 1,39 tỷ
đồng
Phát triển công nghệ.
Công nghệ luôn là một lĩnh vực đợc ACB quan tâm đặc biệt. Từ tháng
10/2001, ACB đã chính thức đa hệ quản trị nghiệp vụ ngân hàng TCBS (The
Complete Banking Solution) vào sử dụng. TCBS là hệ quản trị đợc xây dựng
trên nguyên tắc khách-chủ (Client-Server) với cơ sở dữ liệu tập trung và xử lý
giao dịch theo thời gian thực. ACB đã thiết lập hạ tầng thông tin là mạng diện
rộng kết nối hội sở với tất cả các chi nhánh. Thông tin, dữ liệu đợc quản lý và
lu trữ qua hệ quản trị cơ sở dữ liệu Oracle. TCBS cho phép ACB triển khai các
sản phẩm, dịch vụ, tiện ích cho khách hàng trong tơng lai nh thẻ ghi nợ, hệ
thống máy rút tiền tự động (ATM) cũng nh tiến tới các dịch vụ ngân hàng điện
tử, ngân hàng qua Internet TCBS cũng tạo cơ sở cho việc chuẩn hoá quy trình
phục vụ khách hàng.
II/ Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân
hàng TMCP á Châu
1/ Giới thiệu chung về hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng
TMCP á Châu.
1.1. Những bớc đi đầu tiên:
Việc phát triển đa dạng hoá các hình thức dịch vụ kinh doanh sẽ tạo cho
ngân hàng có điều kiện nâng cao uy tín của mình trên thị trờng và khả năng

quan trọng của sản phẩm thẻ tín dụng cũng nh tiềm năng phát triển của loại
hình thanh toán này trên lãnh thổ Việt Nam, sau một thời gian chuẩn bị, ngày
28/04/1999, ACB đã công bố việc tham gia phát hành thẻ tín dụng công ty
ACB-VISA, một sản phẩm đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam.
Có thể nói, ACB là một trong số ít những ngân hàng đầu tiên tại Việt
Nam là thành viên chính thức của hai tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất thế giới,
đánh dấu thêm một bớc tiến của ACB trên con đờng hiện đại hoá và hội nhập
vào hệ thống thanh toán toàn cầu.
Cùng với việc phát triển thẻ tín dụng quốc tế, ACB cũng rất chú trọng đến
việc phát triển thẻ tín dụng nội địa, vì thẻ nội địa phù hợp với nhu cầu, thu
nhập của đa số ngời dân Việt Nam. Hơn nữa, việc sử dụng thẻ nội địa cũng
không khác nhiều so với thẻ quốc tế, chỉ khác là phạm vi sử dụng thẻ chỉ nằm
trong lãnh thổ Việt Nam.
Hiện nay, ACB đang xúc tiến tiếp cận với tất cả các tổ chức phát hành thẻ
tín dụng quốc tế tạo điều kiện đa tất cả các loại thẻ tín dụng khác nh American
Express, JCB, Dinner Club, Mastro EuroCard, Att Card, VisionCard,
Countdown, GM Card JP Peney vào thơng trờng Việt Nam. Nói cách khác, rồi
đây các loại thẻ tín dụng quốc tế đợc du khách mang đi sử dụng ở bất kỳ nơi
nào trên toàn thế giới cũng đều đợc chấp nhận tại Việt Nam.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng thẻ ngày càng tăng, trong năm 2000, Trung
tâm thẻ đã mở rộng mạng lới đại lý chấp nhận thẻ trên hầu hết các tỉnh thành
trong cả nớc, tạo tiện ích tối đa cho khách hàng. Sự ra đời của thẻ tín dụng nội
địa ACB-Saigon Tourist và ACB-Saigon Co-op vào cuối năm 2000 nhằm đáp
ứng nhu cầu sử thẻ ngày càng cao, đã đánh dấu bớc đầu thành công của Trung
tâm thẻ trong việc tiên phong phát triển thẻ nội địa tại Việt Nam.
Những thành công trong năm 2000 đã tiếp tục đợc đẩy mạnh và phát triển
trong năm 2001 với sự ra đời của hai sản phẩm mới là thẻ tín dụng nội địa
ACB-Mai Linh và ACB-Phớc Lộc Thọ. Đầu tháng 6/2002, ACB đã phát hành
một dạng thẻ Debit nội địa mang nhãn hiệu ACB e.Card. Đây là loại thẻ nhằm
hớng đến tất cả các khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ bằng thu nhập riêng

dụng thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của tổ chức, công ty
đó. Tổ chức, công ty xin phát hành thẻ uỷ quyền cho các nhân viên thuộc tổ
chức, công ty sử dụng thẻ và chỉ định rõ hạn mức cho từng thẻ trong đơn xin
phát hành. Tổng hạn mức tín dụng của các thẻ bằng hạn mức chung quy định
trong bản thoả thuận do công ty ký với ngân hàng về việc tham gia chơng trình
thẻ công ty.
Trong đó tuỳ từng loại thẻ mà ngân hàng đa ra các loại sản phẩm thẻ kèm
theo.
- Riêng đối với thẻ cá nhân, ACB phát hành hai loại:
+ Thẻ chính: do cá nhân đứng tên xin phát hành cho mình sử dụng và cá
nhân đó là chủ thẻ chính.
+ Thẻ phụ: do chủ thẻ chính là cá nhân đứng tên xin phát hành cho một
ngời khác và chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản chi tiêu của thẻ
phụ.
- Thẻ tín dụng do ACB phát hành có hai loại
+ Thẻ vàng: có hạn mức tín dụng cao từ trên 50 triệu VND đến dới 100
triệu VND
+ Thẻ chuẩn: có hạn mức tín dụng thấp hơn thẻ vàng từ 10 triệu VND đến
dới 50 triệu VND
b/ Thẻ tín dụng nội địa:
Là sản phẩm thẻ tín dụng do ACB phát hành phối hợp với Saigon-Coop
(Liên minh các hợp tác xã thành phố Hồ Chí Minh) và Tổng công ty du lịch
Sài gòn (Saigon Tourist). Về cách sử dụng, thẻ tín dụng nội địa tơng tự nh cách
sử dụng của thẻ tín dụng quốc tế do ACB phát hành tức là có thể sử dụng thẻ
để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ, hay rút tiền mặt nhng chỉ đợc sử dụng
trong lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, khách hàng khi sử dụng thẻ tín dụng ACB-
Card còn đợc hởng các u đãi từ phía các đối tác phát hành của ACB nh đợc
chiết khấu giảm giá khi sử dụng các dịch vụ do đối tác của ACB cung cấp.
Hiện nay, ACB đang phát hành rộng rãi loại thẻ này đến mọi đối tợng khách
hàng với hạn mức tối thiểu là 2 triệu VND.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status