Tài liệu LUẬN VĂN: Qúa trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Qúa trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá ở Việt Nam 2.Thực trạng trong quá trình CNH – HĐH trên thế giới và Việt
Nam.
a/ Khái quát quá trình CNH trên thế giới.
Trên thế giới, quá trình CNH được bắt đầu từ rất sớm, nó được đánh dấu
bằng cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh và đó cũng là cuộc cách mạng
công nghiệp lớn nhất thế giới. Vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, nguyên nhân của
sự ra đời hàng loạt các máy móc được phát minh là tính chất hạn chế của công
trường thủ công không sản xuất đủ hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của thị trường
ngày càng mở rộng. Nhưng lý do xảy ra của sự xuất hiện máy móc mới tính vụ lợi
luôn luôn khao khát lợi nhuận cao của các cấp tư sản đương thời.
Các phát minh chủ yếu trong giai đoạn này là:
Năm 1764 Giem – Ha - Grivơ sáng chế ra máy xe sợi có thể xe được 16
sợi bông cùng một lúc.
Năm 1875 ET – min Cácvai phát minh ra máy dệt.
Với sự phát minh ra máy hơi nước của Giêm wat đã tạo thuận lợi rất lớn
cho việc lắp đặt các máy móc, xây dựng các nhà xưởng ở mọi nơi. Máy hơi nước
đã phát huy tác dụng trong mọi ngành công nghiệp. Đến thế kỷ 19, máy hơi nước
đã cách mạng hoá cả giao thông thuỷ bộ phục vụ đắc lực cho vận chuyển và giao
lưu. Cách mạng công nghiệp là một hiện tượng phổ biến ở các nước tiến lên chủ
nghĩa tư bản, song diễn ra trước tiên ở Anh. Sớm hơn các nước khác 50 – 100
năm, biến Anh từ một nước nông nghiệp thành một nước có nền công thương
nghiệp phát triển nhất trên thế giới.
Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật hiện nay đã và đang diễn ra với những thành tựu phát triển vượt bậc, đưa
loài người chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ máy móc thay thế con người.
Cuộc cách mạng này được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ 20. Nội dung của
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai có thể khái quát trên những mặt chủ yếu
sau:

Nước ta tiến hành CNH-HĐH trong một tình hình chính trị, xã hội ổn định,
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lí của Nhà nước, đã hình thành và bước đầu có bước phát triển. Nguồn lực vật chất
được tăng cường, mức sống của nhân dân dần ổn định. Sản lượng lương thực, thực
phẩm đã tăng lên đáng dể, từ 13,3 triệu tấn năm 1970-1980 đã tăng lên 26,3 triệu
tấn năm 1995. Nền kinh tế bắt đầu tích luỹ. Trong 5 năm 1991-1995 nhịp độ tăng
bình quân hàng năm về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 8,2%. Vốn đầu tư toàn
xã hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP, đến năm 1995 lên 27,4%. Sự nghiệp giáo dục
của đất nước có nhiều tiến bộ cải tiến, trình độ dân trí được nâng lên. Sự lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước có thêm kinh nghiệm. Nước ta có nguồn nhân công dồi
dào, tài nguyên đa dạng, phong phú.
Hơn nữa, điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng công nghệ khoa
học kĩ thuật. Các nước đi sau như chúng ta có thể tận dụng những thành tựu và
kinh nghiệm của các nước đi trước, rút ngắn thời gian và tránh sai lầm.
Quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược
phát triển kinh tế. Hiện chúng ta là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như :
ASEAN, WTO…
b, Khó khăn:
Khó khăn lớn nhất của ta là luôn phải đối phó với 4 nguy cơ: tụt hậu, chệch
hướng xã hội chủ nghĩa, tham nhũng quan liêu và diễn biến hoà bình, đã đề cập ở
trên.
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế chủ yếu dựa vào
nông nghiệp. Năm 1992 vẫn còn 78% dân số sống ở nông thôn, lao động thất
nghiệp trong nông nghiệp là 30%-40% tổng lực lượng lao động trong nền kinh tế
quốc dân.
Nước ta trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống ngoại xâm hao người, tốn của.
Chi phí để khắc phục hậu quả chiến tranh quá lớn làm giảm tốc độ phát triển kinh

tăng năng suất lao động.Công nghiệp hoá chính là thực hiện xã hội hoá về mặt
kinh tế – kỹ thuật, tăngtrưởng và phát triển kinh tế với tốc độ cao, góp phần ổn
định ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của mọi thành viên trong
cộng đồng xã hội.
 Công nghiệp hoá phát triển mới phát triển các mối quan hệ kinh tế giữa
các ngành, các vùng trong phạm vi một nước và giữa các nước với nhau, nó nâng
cao trình độ quản lý kinh tế của Nhà nước, nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng
sản xuất, làm xuất hiện thêm nhiều ngành mới để từng bước giải quyết những nhu
cầu việc làm cho người lao động.
 Công nghiệp hoá không ngừng nâng cao vai trò của nhân tố con người
trong nền sản xuất, đặc biệt trong nền sản xuất lớn hiện đại, kỹ thuật cao.
Chỉ trên cơ sở thực hiện tốt CNH mới có khả năng thực hiện và quan tâm
đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện nhân tố con người, làm cho con người
trở nên hiện đại, có trình độ khoa học – kỹ thuật, nắm bắt được những tiến bộ mới
về khoa học kỹ thuật.
 Công nghiệp hoá tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố và tăng cường
tiềm lực quốc phòng.
 Khả năng đảm bảo an ninh và quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc nhiều
vào việc cung cấp và đảm bảo cho quốc phòng các yếu tố vật chất – kỹ thuật. Đáp
ứng yêu cầu đó, công nghiệp hoá có tác dụng trực tiếp và chủ yếu trong việc tạo ra
tiềm lực to lớn cho quốc phòng.
 Công nghiệp hoá còn tạo nhiều khả năng cho việc thực hiện tốt sự phân
công và hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học, công nghệ…
5. Các quan điểm chỉ đạo của Đảng trong quá trình CNH.
Trong bài phát biểu tại hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành trung ương
Đảng khoá VII về “phát triển công nghiệp công nghệ đến năm 2000 theo hướng
CNH và HĐH xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, đồng chí tổng bí

hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Đẩy mạnh CNH – HĐH là con đường đúng đắn nhất để nước ta thoát khỏi
nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước khác, song nó phát triển đảm bảo theo
hướng xã hội chủ nghĩa giữ được ổn định chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền đồng
thời đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế.
Sự nghiệp CNH – HĐH sẽ có nhiều chặng đường luôn tuỳ thuộc vào hình
thái phát triển trong nước và những biến đổi trong nền kinh tế thế giới. Vì vậy,
việc tiến hành CNH – HĐH ở từng giai đoạn khác nhau ngoài những điểm giống
nhau có những điểm khác nhau.
6. Nội dung của CNH – HĐH trong thời kỳ tới.
Nước ta tiến hành CNH nhằm chuyển sản xuất nhỏ, phân tán, công nghiệp
lạc hậu, kỹ thuật công nghệ và năng suất lao động thấp – thành sản xuất lớn có cơ
ccấu kinh tế mới hợp lý do đó là cơ cấu công – nông nghiệp và cịch vụ ngày càng
hiện đại, khoa học, kỹ thuật và công nghệ ngày càng tiên tiến, năng suất lao động
cao trong các ngành kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hóa ở nước ta bao hàm hai nội dung chủ yếu đó là:
a, Trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân.
- Trong mấy chục năm gần đây, thế giới đã đang diễn ra biến đổi cực
kỳ to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật và công nghệ ngày càng có nhiều nội dung. Nó không chỉ dừng lại
ở tính chất hiện đại của các yếu tố tư liệu sản xuất, mà còn ở kỹ thuật công
nghệ sản xuất hiện đại, phương pháp sản xuất tiên tiến, v.v… hiện nay cuộc
cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ có những nội dung nổi bật sau:
 Cuộc cách mạng về phương pháp sản xuất, đó là : tự động hoá. Ngoài
phạm vi hoạt động như trước đây, hiện nay tự động hoá cần được sử dụng rộng rãi,
người máy thay thế con người, điều khiển quá trình vận hành sản xuất.
 Cuộc cách mạng về năng lượng: bên cạnh những năng lượng truyền

huy mọi khả năng và tiềm lực có trong nước để cơ khí hoá và hiện đại hóa toàn
bộ nền kinh tế quốc dân.
b. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí.
- Công nghiệp hoá còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũ,
từng bước hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý. Trong cơ cấu kinh tế đó,
quan hệ giữa công nghiệp, nông ngiệp và dịch vụ là các bộ phận có tầm quan
trọng. Các mối quan hệ này được xem dưới nhiều góc độ như trình độ kỹ thuật
công nghệ, quy mô và tốc độ phát triển.
- Xây dựng cơ cấu kinh tế mới hợp lý là yêu cầu tất yếu trong quá
trình công nghiệp hoá. Cơ cấu kinh tế đó phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
 Phản ánh đúng đắn các yêu cầu, các quy luật khách quan, đặc biệt là các
quy luật kinh tế.
 Phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ
hiện đại trên thế giới hiện nay.
 Phù hợp với sự phân công và hợp tác quốc tế ngày càng phát triển vì vậy
cơ cấu kinh tế đó phải là “cơ cấu kinh tế mở”.
 Tính hợp lý của cơ cấu còn phải đảm bảo cho phép tối ưu hoá việc sử
dụng lợi thế so sánh về tài nguyên, lao động và nước phát triển muộn về công
nghiệp, khai thác tối đa và có hiệu quả những tiềm năng vốn có của các ngành,
các địa phương, các đơn vị kinh tế cơ sở.
Đáp ứng yêu cầu đó, tính hợp lý của cơ cấu kinh tế, xét về nội dung đó
chính là cơ cấu ngành và vùng. Cơ cấu kinh tế ngành và vùng cần được quan tâm
một cách đúng mức, phải được đầu tư theo cả chiều rộng và chiều sâu.
- ở nước ta trong nhiều năm trước đây, việc xây dựng cơ cấu kinh tế
tuy đã đạt được những kết quả nhất định, song cũng đã phạm phải những sai
lầm không nhỏ trong xây dựng quy mô vừa và nhỏ. Từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ 6 đến nay, chúng ta đã có những bước tiến quan trọng trong chuyển

Nam:
Có ba giải pháp sau:
 Giải pháp về tạo nguồn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả:
Vốn là tiền đề cơ bản cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nước ta tiến
hành quá trình CNH-HĐH trong điều kiện rất thiếu vốn.Vấn đề đặt ra là làm thế
nào để huy động đủ vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.
 Giải pháp về công nghệ:Công nghệ hoá, hiện đại hoá đồng thời là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng các ngành có hàm lượng khoa học
công nghệ cao, giá trị gia tăng cao. Để đạt được mục tiêu này phải phát triển công
nghệ, phải đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền kinh kế, phải sử dụng có hiệu quả
những thành tựu khoa học công nghệ của thế giới.
 Giải pháp nâng cao trình độ người lao động, xây dựng và phát triển đội
ngũ cán bộ khoa học- kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý cán bộ kinh tế, lấy việc phát
huy nguồn lực con người làm yếu tố chiến lược, cơ bản cho sự ngiệp CNH- HĐH
đất nước. Giải pháp này nhằm vào việc không ngừng đào tạo và đào tạo lại, nâng
cao trình độ người lao động, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế am
hiểu về đội ngũ cán bộ thị trường, đội ngũ cán bộ viên chức nhà nước có phẩm
chất và năng lực để điều hành nền kinh tế theo luật định.
Đây là ba giải pháp cơ bản nhằm phát huy tối đa các nguồn lực cơ bản phục
vụ sự ngiệp CNH- HĐH đất nước. Để hiểu sâu xa hơn ta phân tích hai giải pháp
sau:
a) Phát triển nhanh chóng nguồn vốn trong nước.
Hiện nay, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vẫn còn khá lớn nhưng chưa được
sử dụng đúng mục đích do đó chưa phát huy được sức mạnh của cơ cấu kinh tế. Vì
vậy cần phải có các giải pháp để triển khai và phát huy tối đa nguồn vốn nhàn dỗi
trong dân cư.
Trong việc tìm kiếm các giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển nền kinh

Thị trường chứng khoán trở thành một đòi hỏi khách quan và bức bách đối
với quá trình phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay. Việc mở rộng các hình thức
thu hút vốn trực tiếp thông qua phát hành chứng khoán cho phép chúng ta có thể
huy động triệt để mọi nguồn vốn nhàn rỗi chưa được sử dụng đúng mục đích để
phục vụ cho các hoạt động đầu tư. Việc hình thành thị trường chứng khoán là điều
kiện cơ bản đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động đầu tư ngày càng được mở rộng và
vững chắc.
b/ Huy động nguồn vốn từ bên ngoài.
Ngoài việc tạo vốn trong nước cần phải thu hút nguồn vốn từ bên ngoài. Do
đó cần có chính sách hợp lý nhằm tranh thủ các nguồn viện trợ, vốn vay và đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài. Để thực hiện vấn đề này cần có các giải pháp sau:
- Thi hành chính sách mở cửa với thế giới bên ngoài là điều kiện tiên
quyết mở đường cho việc thu hút mọi nguồn vốn từ bên ngoài vào đầu tư phát
triển và CNH – HĐh đất nước. Thông qua các hoạt động chính trị và ngoại
giao tích cực giúp cho hoạt động kinh tế đa phương hoá và đa dạng hoá, góp
phần khắc phục những khó khăn to lớn của tình trạng nền kinh tế nước ta nhằm
tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi.
- Cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng: Hệ thống giao thông vận tải, viễn
thông, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng… nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi
thu hút tối đa các nhà đầu tư, các tổ chức kinh tế… đầu tư vào Việt Nam.
- Thực hiện duy trì và đẩy mạnh chính sách kinh tế nhiều thành phần,
nâng cao trình độ, chất lượng của kinh tế quốc doanh, mở rộng kinh tế tư nhân
và gia đình nhằm thu hút các hoạt động đầu tư, tạo sức lôi cuốn các nhà đầu tư
quốc tế.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc té, tham gia tích cực hơn nữa vào quá trình
phân công lao động trong khu vực và trên toàn thế giới. Thông qua nhiều hoạt
động tích cực, uyển chuyển và khéo léo để tranh thủ sự giúp đỡ của tất cả các

quá trình thực hiện CNH- HĐH còn gặp nhiều khó khăn nhưng chúng ta cũng có
nhiều thuận lợi, thời cơ để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH- HĐH, đã đạt được
những thành tựu nhất định, nền kinh tế đã có sự khởi sắc dù mới chỉ là bước đầu.
CNH- HĐH đặt chúng ta trước những thách thức lớn, vì vậy cần phải xây
dựng các phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn. Các giải
pháp về vốn, sử dụng vốn nhằm khai thác và sử dụng một cách tối ưu nhất nguồn
vốn trong và ngoài nước. Chúng ta nghiên cứu vấn đề này không nhằm một mục
đích gì khác đó là tìm ra giải pháp, điều kiện tốt nhất đẻ phát triển đất nước. Thông
qua những phân tích và đánh giá về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của các
nước trên thế giới về quá trình CNH- HĐH từ đó chúng ta có thể rút ra những
kinh nghiệm để phù hợp với nền kinh tế Việt Nam và tìm ra những phương hướng
phát triển CNH- HĐH ở Việt Nam cho hiện tại và tương lai.
Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7.
2. Tạp chí kinh tế phát triển.
3. Kinh tế chính trị Mác - Lênin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status