Tài liệu LUẬN VĂN: Sự phát triển con người và nguồn nhân lực - Pdf 10



LUẬN VĂN:

Sự phát triển con người và
nguồn nhân lực Lời nói đầu
Trước xu thế mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới cũng như trong quá trình
tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vấn để phát triển nguồn nhân lực ở
nước ta đang đối mặt với nhiều thử thách gay gắt để đáp ứng những yêu cầu mới đặt
ra. Trong suốt thời gian dài, với khái nhiệm thành công của những năm kháng chiến
chống Mỹ nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chỉ cần kích thích tính tích cực của người lao
động bằng sự động viên tính thần bằng lời kêu gọi lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã
hội là đủ thêm vào đó do quan niệm ấu chỉ về xã hội chủ nghĩa, do hiểu sai và do đó
vận dụng sai quy luật qua hệ sản xuất không phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, có thời kỳ chúng ta đã cho rằng chỉ cần tiến hành cải tạo quan hệ sản
xuất cũ, nhanh chóng thiết lập sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất là sẽ nhanh
chóng có được kết quả tích cực trong kinh tế xã hội.
Thực tiễn đã diễn ra không như chúng ta nghĩ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nước ta đã chứng tỏ rằng dủ về cơ bản

quan trọng khác mà khi tác động vào nó chúng ta có thể khơi dậy được tính this cực
không chỉ của từng cá nhân mà còn của cả cộng đồng.
Cùng với những điều trên đây còn một vấn đề tối quan trọng là phải sử dụng
tính tích cực của con người như thế nào cho đúng bởi vì tính tích cực của con người
có thể tác dụng xây dựng, cũng có thể kìm hãm thậm chí phá hoại sự vận động theo
hướng tiến bộ của xã hội. Vì vậy điều quan trọng chỉ là ở chỗ làm thế nào phát huy
tính tích cực của con người mà điều quan không kém mà còn là ở chỗ làm thế nào để
sử dụng được tính tích cực ấy một cách đúng đắn để thúc đẩy, quá trình vận động của
xã hội theo hướng tiến bộ.
Không nằm ngoài những vấn đề nêu trên bài tiểu luận này của em mục đích
nho nhỏ là góp phần thúc đẩy tính tích cực của con người trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì thời gian hạn chế nên bài viết của em không có
tham vọng tìm hiểu sâu sa được vấn đề đó mà chỉ là một số ý kiến nhỏ như nhận

thức, nhiệm vụ và phát huy nguồn nhân lực của con người. Vì thế em đã chọn đề tài
“Sự phát triển con người và nguồn nhân lực Phần II: Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận
Trong cuộc sống của mỗi con người hay cũng như của toàn xã hội, khái niệm
về vật chất và ý thức dường như không bao giờ có thể tách rời giữa chúng có mối
quan hẹe biện chứng với nhau, vật chất dữ vai trò quyết định với ý thức và ý thức tác
động trở lại vật chất thông qua sự chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.
Vậy vật chất là gì? ý thức là gì? Giữa chúng có mối quan hệ như thế nào đối
với “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước”.
Tim hiểu về con người (nguồn nhân lực) vậy con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá như thế nào? phải phát huy nguồn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất như thế nào vào bài viết tiểu luận này.

“con người bản năng” tổng quát hơn, triết học mác xít quan niệm “trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội ” và “tổng hoà”. Thứ
nhất, bản chất con người không phải là cái gì có sẵn, hay là cái gì nhất thành bất biến,
mà bản chất con người là cái gì đó được hình thành nên hay bộc lộ ra trong cuộc sống
của nó. Trong cuộc sống bằng hoạt động của bản thân, con người mới chịu tác động
của các quan hệ xã hội và nhờ đó con người hội nhập vào các quan hệ đó. Toàn bộ
tồn tại khách quan chung quanh con người tác động vào con người thông qua các
quan hệ xã hội (quan hệ sản xuất,quan hệ chính trị, quan hệ giai cấp, quan hệ cộng
đồng, quan hệ nhóm….), hoặc dưới hình thức các quan hệ xã hội mà tác động vào
con người. Ngược lại, con người có tác động trở lại vào tồn tại khách quan (môi
trường tự nhiên, môi trường sinh sống, gia đình, các quan hệ, thể chế xã hội, v v ).
Con người bao giờ cũng cùng với những người khác (nhóm, cộng đồng, giai
cấp, dân tộc v v ) lao động, học tập, vui chơi, đấu tranh, xây dựng chính trong quá
trình học tập lao động… này con người thiết lập nên các mối quan hệ xã hội.

II. ý thức của con người đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Con người Việt Nam đi vào thế kỷ XXI trong bối cảnh chung như thế, cần tự
xây dựng cho mình một hệ thống giá trị, một thang giá trị một thước đo gí trị như thế
nào, để có thể vừa góp phần tốt nhất vào sự nghiệp xây dựng đất nước, vừa phát huy
nhiều nhất những tiềm năng của bản thân, đạt những tiến bộ đáng kể. Muốn vậy, xã
hội cần có một hệ thống những định hướng giá trị chung phù hợp với yêu cầu phát
triển của đất nước trong thời kỳ mới, làm chuẩn mực để từng con người xây dựng hệ
giá trị thích hợp với mình.
Hướng vào yêu cầu này, xuất phát từ bối cảnh chung nói trên cũng nên nếu
thêm một vài nội dung cần thiết liên quan đến vấn đề “con người Việt Nam mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội ” nói chung và đặc biệt liên quan đến vấn
đề định hướng giá trị xã hội giúp cho con người Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt mới
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
1. Từ nhận thức về đường lối đổi mới và kết quả đổi mới trong 10 năm
qua (1986-1996)con người đã hình thành nên có ý thức.

tiến bộ. Người lao động phát huy được quyền làm chủ và tính năng động sáng tạo,
chủ động hơn trong tìm việc làm tăng thu nhập, tham gia các sinh hoạt chung của
cộng đồng hơn xã hội lòng tin của nhân dân vào chế độ và tiến độ của đất nước vào
Đảng và Nhà nước được nâng cao.
Trong quá trình xây dựng nưững định hướng giá trị cho con người Việt Nam
đi vào thế kỷ XXI những đánh giá về 10 năm đổi mới và những mục tiêu, phương
hướng, nhiệm vụ của nhân dân ta trong thời ký mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá, được trình bày trong đại hội VIII thực sự là một nguồn phong phú
về trí tuệ và cảm súc hết sức quý bán để chúng ta nghiên cứu và vận dụng.
Cũng tại văn kiện hội nghị VIII cho ta thấy “Đảng đã quyết định đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng và văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Muốn tiến hành công
nghiệp hoá hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo phát huy
nguồn lực con người yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh bền vững.

2. Từ nhận thức về sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, dẫn đến hình thành ý
thức của con người về sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trong 10 năm đổi mới, thấy rõ xu hướng phân tầng xã hội, phân hoá giàu
nghèo, phân hoá giai cấp.
- Xu hướng biến động cơ cấu xã hội đang diễn ra nhanh chóng, sâu rộng, đa
dạng và không đồng đều giữa các ngành kinh tế, các vùng đất nước. Đó là xu hướng
phù hợp với quy luật phát triển, biểu hiện tính năng động xã hội và gắn liền với sự
phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, phân hoá giai cấp nhưng cũng chứa đựng
nguy cơ phân cưch, đẩy một bộ phận dân cư nghèo khổ ra lề của cuộc sống, tạo nên
những xu thế xung đột xã hội gia tăng.
Xu hướng biến động của cơ cấu xã hội tỏng quá trình đổi mới là sự chuyển
dịch ngày càng lớn, ngày càng nhah chóng, sấu sắc về cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu
dan cư, cơ cấu giao cấp và ngay trong bản thân từng tầng lớp xã hội, từng giai cấp.
Nhiều ngành nghề mới ra đời, nhiều lĩnh vực sản xuất mới xuất hiện, nhiều ngành
kinh doanh phi sản xuất phát triển, cùng với xu thế đo thị hoá, thị trấn hoá thu hút

phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững.
Quan điểm này đặt ra cho lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực phát triển nguồn
nhân lực ở nước ta nhiều nhiệm vụ to lớn và mới mẻ. Như trên đã nói, phát triển
nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người, trên các mặt
như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực… làm cho con người trở thành những
người lao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những
yêu cầu to lớn của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, của sự công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Với ý nghĩa này, theo “Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc”, có năm
nhân tố “phát năng” của sự phát triển nguồn nhân lực: là giáo dục và đào tạo, sức
khoẻ và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người. Những nhân
tố phát năng này gắn bó với nhau và tuỳ thuộc lẫn nhau, những giáo dục - đào tạo là

cơ sở của tất cả các nhân tố khác, là nhân tố thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và dinh
dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao
động, và để duy trì sự đáp ứng về kinh tế và chính trị nhằm giải phóng con người, từ
đó giáo dục đào tạo là cơ sở cho sự phát triển bền vững. Bởi vậy cũng không lạ gì khi
tất cả các nước đều hết sức nhấn mạnh đến chính sách giáo dục trong quá trình thiết
kế những kế hoạch gia tăng tốc độ phát triển.
* Vai trò nguồn nhân lực, ngày nay được nhận thức như yếu tố năng động
nhất. Từ quản lý một doanh nghiệp, một tổ chức, đến quản lý một quốc gia mà cọi
nhẹ phát triển nguồn nhân lực, thì doanh nghiệp đó, tổ chức đó, quốc gia đó thế nào
cũng trì trệ, đối ngoại thì không đủ sức cạnh tranh, không thích ứng được với những
biến động nhanh chóng, mà đối nội thì năng suất lao động, hiệu suất công tác đều
giảm sút. Quản lý một đất nước, theo kinh nghiệm của nhiều nước phát triển, của
những nước công nghiệp mới – NIC, cho thấy ở thời đại này, sự chăm lo đầy đủ đến
con người là bảo đảm chắc chắn nhất của sự phồn vinh, thịnh vượng, sự đầu tư vào
con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển.
Cùng ý tưởng nói trên, tháng 6 năm 1991, đại hội VII Đảng cộng sản Việt

mới …
- Giáo dục - đào tạo là một bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, cần được tăng
đầu tư, đồng bộ với kết cấu hạ tầng kỹ thuật, không thể coi giáo dục chỉ là phúc lợi
xã hội.
- Giáo dục đào tạo nhân lực, chuẩn bị con người đi vào thị trường sức lao
động, trong chính sách “tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường ”, phải tổ chức tốt
thị trường sức lao động, khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi
nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động, phát triển
dịch vụ việc làm, thông tin tốt về việc làm.
Giáo dục - đào tạo chuẩn bị con người cho sự phát triển bền vững trên các lĩnh
vực, cho lợi ích hiện tại và cho lợi ích tương lai, dựa vào phát triển nội sinh (có coi
trọng ngoại lực, với tính thần để phát triển nội lực, dựa vào nội lực để phát triển ),
giáo dục đào tạo là con đường cơ bản nhất để phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Về hai đặc tính của giáo dục - đào tạo.
Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối vói giáo dục,

- Giáo dục có hai đặc tính, xét về mặt lợi ích đem lại cho người học, cho xã
hội, là:
+ Giáo dục cần có sự chi phí, đầu tư cho giáo dục là đầu tư “lợi ích tương lai”
(gần xa), không hưởng thụ ngay lập tức được “lợi ích đầu tư cho giáo dục có tác dụng
như là đầu tư cho phương tiện sản xuất ”, một loại phương tiện sản xuất ra sản phẩm
có tính vô hình, sản phẩm không phải thuộc loại tiêu dùng mà thuộc loại “tạo tiềm
năng”. Đó là ý nghĩa của tư tưởng “giáo dục đi trước một bước”.
+ Giáo dục đem lại cho toàn xã hội lợi ích chung, lợi ích cho toàn xã hội, gọi
là lợi ích “lan toả” để xã hội cũng được hưởng, không chỉ đối với những người chi
phí, đầu tư cho giáo dục, mà kể cả những người không trực tiếp chi gì cho giáo dục
(những người này được hưởng môi trường lễ phép, trật tự, vệ sinh v v của tre được
đi học, hưởng môi trường xã hội văn minh, lành mạnh, v v do dân trí được nâng
cao, hưởng cuộc sống có chất lượng hơn, do kinh tế xã hội nhớ và dân trí, nhân lực,

giới về hai quá trình xen kẻ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, (là một đặc
trưng lớn của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại), là có nguy cơ rơi vào các
quyền lực kinh tế có tính quốc tế và toàn cầu, độc quyền về những sản phẩm khoa
học và công nghệ, sẽ làm biến dạng các tính chất phổ biến và làm biến mất tính chất
“của cải tự do” của khoa học. Điều này nhắc nhở chúng ta phải có bản lĩnh trong sự
tiếp nhận khoa học và công nghệ, không bị thiệt hại, không bị phụ thuộc một chiều
đơn thuần, đất nước ta không trở thành “bãi thải” của các sản phẩm công nghiệp lỗi
thời.
b. Trong những năm đổi mới vừa qua, ở nước ta, đã nổi lên một số ngành có
bước phát triển về chất, tạo nên những mũi đột phá góp phần có hiệu quả đưa nền
kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng, như những ngành bưu chính – viễn thông, hàng
không, dầu khí, dệt may, thực phẩm, Ngân hàng, công nghiệp điện tử – tin học …
đồng thời đang hình thành dần một số ngành mũi nhọn khác, phát triển khá nhanh,
như: Chế biến nông lâm – thuỷ sản, một số nghề trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, một
số nghề trong lĩnh vực dịch vụ như: du lịch hàng hải, thương mại, vận tải, tài chính,
kiểm toán bảo hộ lao động, pháp lý, thông tin, các dịch vụ phục vụ đời sống Nổi
bật lên một số công nghệ cao đã bắt đầu được ứng dụng và sẽ phát triển mạnh: công
nghệ sinh học, công nghệ tin học, công nghệ năng lượng mới…phương thức sản xuất

dựa trên nền công nghiệp “vĩ mô”, nhỏ, nhẹ, tác động nhanh, vóc dáng những khu
công nghiệp mới đang xuất hiện, Ví dụ đang hình thành nhanh chóng ba vùng trọng
điểm kinh tế: tứ giác Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Sông Bé, Bà Rịa – Vũng
Tàu, tam giác Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, các tỉnh ve biển miềm trung. Đã
thành lập 6 khu chế xuất và 10 khu công nghiệp tại 8 địa phương, đến nay, bước đầu
đã có 1,4 tỷ USD đầu tư nước ngoài, chiếm gần 7% tổng số vốn đầu tư của nước
ngoài đăng ký tại Việt Nam, như Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Malaixia, v v., với hàng
trăm xí nghiệp hiện đại, thu hút hàng vạn lao động Việt Nam vào làm việc trên
nhiều ngành nghề, như: dệt may, cơ khí, điện tử, điệ. Thực tiễn này là những nhân tố
mới của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, đang phát huy tác dụng đến một số
bộ phận con người Việt Nam, phát huy ảnh hưởng đến một bộ phận khác, rất đáng để

- Quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi vĩ mô phải tiến
hành đồng bộ trên cả 3 mặt: Đào tạo, sử dụng, việc làm thì mới có thể phát huy
nguồn lực con người một cách hiệu quả. Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo toàn diện,
đầy đủ và đồng bộ trên cả 3 mặt: Nhà nước, xã hội (đặc biết doanh nghiệp ) và lĩnh
vực sự nghiệp (giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ…), thì mới bảo đảm sự
phát triển bền vững.
Trong xã hội, việc làm có thể coi như tồn tại chủ yếu ở 3 dạng tổ chức chính:
+ các doanh nghiệp (tên gọi chung cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, lưu
thông… thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả kinh tế hộ gia đình, cá thể, ở mọi lĩnh
vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ …);
+ Các cơ sở sự nghiệp, văn hoá (giáo dục - đào tạo nghiên cứu khoa học, triển
khai công nghệ, y tế, thể dục thể thao, văn học văn nghệ …);
+ Các cơ quan Nhà nước (công chức của hệ thống lập pháp, hành pháp, tư
pháp….) và các bộ máy an ninh, quốc phòng.
+ Từ đó Nhà nước có thể xác lập mối quan hệ giữa việc làm – sử dụng - đào
tạo theo ba loại hình tổ chức lao động, mô phỏng “tam giác phát triển của Liên hợp
quốc”.
+ Nhà nước cung cấp cho doanh nghiệp chính sách, thể chế (quản lý Nhà nước
trên lĩnh vực giáo dục – khoa học, đáp ứng tài chính cho giáo dục – khoa học vừa vì
sự nghiệp giáo dục khoa học chung, vừa vì nhân lực đào tạo cho Nhà nước ) và nhận
lại, trí thức, trình độ dân trí được nâng cao và nhân lực cho đội ngũ công chức, nhân
lực cho các lĩnh vực khác do Nhà nước trả lương.
+ Doanh nghiệp cần tài trợ cho khoa học – giáo dục thông qua các dự án, hợp
đồng và nhận lại: các kết quả nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ và nhân lực
được đào tạo. Nhà nước khuyến khích mối quan hệ trực tiếp này.
Các luồng trao đổi trên đây tạo thành một cơ chế mạnh cho phát triển nguồn
nhân lực kinh tế xã hội, thực hiện thành côn:
Tăng trưởng kinh tế nhanh;
Đảm bảo sự bền vững về mặt xã hội và sinh thái


tài chính…, đề ra các chính sách, cơ chế , cần thiết cho sự quản lý Nhà nước trong

lĩnh vực việc làm – sử dụng - đào tạo, nhằm tạo điều kiện cho việc tạo ra việc làm
cho nguồn nhân lực, cho việc sử dụng lao động được đào tạo, và cho việc đào tạo
nhân lực, phù hợp với các chính sách tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thí dụ
Nhà nước phải có những định hướng về cơ cấu ngành nghề đào tạo, phù hợp với sự
dịch chuyển cơ cấu lao động, theo hướng tăng tỷ tọng công nghiệp và dịch vụ, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với nhu cầu nhân lực về ngành
nghề, về trình độ, Nhà nước phải có định hướng về đầu tư tương ứng, trong đó xác
định rõ trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội, đặc biệt của doanh nghiệp, đối với
giáo dục - đào tạo, và trách nhiệm của nhà trường sử dụng có hiệu quả những nguồn
đầu tư.
Nhà nước đặc khuyến khích việc trao đổi trực tiếp giữa doanh nghiệp và giáo
dục - đào tạo, khuyến khích những tổ chức sản xuất, kinh doanh và cá nhân tạo thêm
việc làm, giúp đỡ tự tạo việc làm, làm dịch vụ giới thiệu việc làm, giúp đỡ tự tạo việc
làm , đào tạo nghề nghiệp, khuyến khích các nhà trường chủ động gắn với các doanh
nghiệp với các cơ sở sử dụng lao động để có kế hoạch đào tạo tương đối có căn cứ.
Phải đầu tư ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo, ưu tiến:
+ Bảo đảm bậc phổ cập
+ Bảo đảm việc học của những đối tượng chính sách, như: dân tộc ít người,
gia đình có công với cách mạng, các vùng khó khăn, người giỏi mà nghèo ,
+ Bảo đảm việc đào tạo nguồn lực cho một số ngành mũi nhọn về khoa học
công nghệ, hình thành một số cơ sở trường trọng điểm, trung tâm chất lượng cao, kể
cả cho việc đào tạo nhân lực;
+ Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ ngũ giáo viên các cấp…, đội ngũ
công chức Nhà nước tinh nhuệ, …
+ Bảo đảm hệ thống trường công, giữ vai trò nòng cốt trong mọi mặt như: quy
mô, chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Phối hợp với các ngành hữu quan, ngành giáo dục, đào tạo cần xác định
trước hết cơ cấu ngành nghề đào tạo cần xác định trước hết cơ cấu ngành nghèe đào

Chính bằng những cách đó mà trong những giai đoạn cách mạng vừa qua
Đảng và Nhà nước ta đã nâng cao khá nhanh chóng trình độ của cán bộ chính trị, lực
lượng vũ trang, cán bộ khoa học, công nghệ, nhân dân lao động.
Trong giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự học không
những cần tiếp tục được hiểu theo nghĩa rộng như thế, mà còn phải được phát triển
một cách sáng tạo, tiếp thu những tư tưởng mới về sự học của thời đại và vận dụng
thích hợp vào thực tiễn đổi mới của đất nước.
Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có người thầy
hướng dẫn hoặc không có thầy có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật công thông

tin hoặc chưa, đều là sự tự học hỏi chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng, thái độ nói
chung là chiếm lĩnh những giá trị, bằng hoạt động học tập tích cực của chính bản
thân mình, không phải với thái độ máy móc, thụ động của người “tiêu thụ kiến thức
mà là với thái độ phân tích, tìm tòi chân lý rất chủ động của người “sản xuất kiến
thức” theo cách nói hình thành thể hiện quan điểm hiện đại về người học, là sự tự
đánh giá, tự điều chỉnh lộ trình học tập, một cách phù hợp nhất với khả năng và hoàn
cảnh của mình.
Một quan niệm mới về sự học, được trình bày như sau: Học là một quá trình
trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu giảm và xử
lý thông tin, từ môi trường sống xung quanh mình.
Với quan niệm như trên về sự học, vai trò của người thầy sẽ có những điều
chỉnh và phát triển theo hướng là những nhân tố hỗ trợ, hướng dẫn cho sự phát huy
cao độ tính năng động chủ quan của người học, quan hệ giữa dạy và học mang tính
hợp tác, hơn là mang tính quyền uy của người thầy và vai trò.
Ngày 19-1-1996, đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu tại Đại học Sư
phạm Hà Nội:
“Muốn thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải gấp rút nâng
cao trình độ của mọi người trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, một mặt còn sử
dụng tốt các nguồn vốn ngân sách và vốn trong việc đầu tư cho giáo dục - đào tạo;
mặt khác, phải phát động một cao trào toàn dân tự giác học tập đi đôi với tổ chức, chỉ

của con người về sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước 10
III. Cơ sở vật chất trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. 11
1. Phát triển yếu tố con người (nguồn nhân lực) 11
2. Giáo dục đào tạo con người (nguồn nhân lực) 13
3. Sự cần thiết của cách mạng khoa học công nghệ 15
Chương III: Giải pháp và kiến nghị 18
Chương IV: Kết luận 22
Tài liệu tham khảo 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status