hồ chí minh là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội , là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ ,tự lực tự cường ,đổi mới ,sáng tạo - Pdf 10

Đề bài : Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm 105 ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh có viết:
Ngời là hiện thân sáng chói của t tởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội ,là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ ,tự lực tự cờng ,đổi mới sáng tạo .
Phân tích và chứng minh nhận định trên.Liên hệ thực tế Việt Nam hiên nay.
Bi Lm:
M u:
T tng H Chớ Minh l mt h thng quan im ton din v sõu sc v nhng
vn c bn ca cỏch mng Vit Nam, l kt qu ca s vn dng v phỏt trin
ca nc ta, k tha v phỏt huy cỏc giỏ tr truyn thng tt p ca dõn tc, tip
thu tinh hoa vn húa nhõn loi. ú l t tng v gii phúng dõn tc, gii phúng
giai cp, gii phúng con ngi; v c lp dõn tc gn lin vi ch ngha xó hi,
kt hp sc mnh dõn tc vi sc mnh thi i T tng H Chớ Minh soi
ng cho cuc u tranh ca nhõn dõn ta ginh thng li, l ti sn tinh thn to
ln ca ng v õn tc ta. Trong din vn ti l k nim 105 nm ngy sinh Ch
tch H Chớ Minh cú vit: Ngi l hin thõn sỏng chúi ca t tng c lp dõn
tc gn lin vi ch ngha xó hi, l mu mc ca tinh thn c lp t ch, t lc t
cng, i mi v sỏng to.
II. Hồ Chí Minh là hiện thân sáng chói của t tởng độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội , là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ ,tự lực tự cờng ,đổi
mới ,sáng tạo.
1.Hồ Chí Minh là hiện thân sáng chói của t ởng độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội:
i vi Vit Nam, mc tiờu c lp dõn tc gn lin ch ngha xó hi ó chng t
tớnh ỳng n qua vai trũ nh hng con ng phỏt trin xuyờn sut hn 76 nm
cỏch mng t khi ng Cng sn Vit Nam ra i. c lp dõn tc v ch ngha xó
hi ó tp hp, huy ng c sc mnh vt cht, tinh thn ca ton dõn ginh c
lp, tin hnh cỏc cuc khỏng chin, ỏnh thng nhng quc xõm lc cú sc
mnh quõn s, kinh t vt tri gp nhiu ln, tng bc xõy dng c s vt cht
k thut ca xó hi mi v ang tin hnh i mi thng li.Nm 1930, ng Cng
sn Vit Nam ra i. S kin ny l mc son ỏnh du s kt hp cỏc nhõn t dõn
tc v giai cp, quc gia v quc t, c lp dõn tc v ch ngha xó hi trong bn

chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của công
cuộc giải phóng nữa thôi”. Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cách mạng
Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa xã hội. Vời kỳ
công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu
nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hóa thành một tất yếu đưa đến
một sự kiện trọng đại: năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là
mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế,
2
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Đảng tuyên bố: “Chủ
trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội Cộng
sản”. Một cách tự nhiên, ngay sau lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa Xã hội
không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam
chuyển mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi, từ đó dọc theo thế kỷ
XX, sang thế kỷ XXI, và tiếp tục đi cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Cộng sản mới giải phóng được các dân
tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ
nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng
tộc và nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn
kết, ấm no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hoà bình, hạnh
phúc của con người. Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn chặt với
chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan;
xét về lịch sử, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và
xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ
thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân
dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự
phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau. Có thể khẳng định như vậy
bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản,
trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh
khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn từ bản chất kinh tế và chính trị
của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về

lũ tay sai. Tư tưởng ấy đã đưa dân tộc ta đến độc lập, tự do, nước nhà Bắc – Nam
thống nhất và ngày nay, đó là nguồn sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng một xã
hội Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
minh.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chính trị đặc sắc
của Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, Người đã vượt qua giới hạn của những nhà yêu nước
đương thời và phát hiện ra con đường cứu dân, cứu nước. Chúng ta tự hào với lịch
sử hàng ngàn năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ để giữ vững độc lập dân tộc của
dân tộc ta. Khi nước nhà bị bọn xâm lược giầy xéo thì dân tộc không có khát vọng
nào cao hơn là giành độc lập dân tộc. Nhưng chúng ta vẫn biết là không phải bất cứ
lúc nào những người con yêu nước của dân tộc cũng tìm thấy cho mình con đường
cứu dân, cứu nước đúng đắn. Thực tiễn khi thực dân Pháp xâm lược nước ta cho
đến những năm đầu của thế kỷ XX cho thấy, nhân dân ta, các thế hệ nối tiếp nhau
đứng lên, mong đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại non sông đất nước. Song do
chưa có đường lối đúng đắn như con đường “Tây du” và “Đông du” của các cụ
Phan khởi xướng, do ngọn cờ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, nên các phong trào,
các cuộc khởi nghĩa yêu nước lần lượt thất bại, quần chúng cách mạng bị dìm trong
4
biển máu. Sự thể đau lòng đến nỗi nhà yêu nước Phan Bội Châu buông lời: “Trăm
lần thất bại chưa có một lần thành công”. Sinh ra trong cảnh nước mất, nhà tan,
người thanh niên Nguyễn Tất Thành sau nhiều trăn trở đã ra đi tìm đường cứu nước
vào năm 1911. Sau hơn 10 năm lăn lộn, qua nhiều nước để tìm tòi và thử nghiệm,
Người đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với tư tưởng Cách mạng Tháng
Mười Nga vĩ đại. Người cho rằng phải học tập cách mạng Nga, khi được tiếp xúc:
“Bản luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Người đã sung sướng
nói to lên: “Hởi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta!”
(1)
. Vậy là, từ lòng yêu nước, thương dân
thúc giục Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân thì đến với Cách mạng tháng

quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng, là điều
kiện đảm bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là nhân tố đảm bảo
vững chắc của nền độc lập dân tộc. Hồ Chủ Tịch đã từng nói : “Nhưng nếu nước
được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì”
(3)
. Và “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn
no, mặc đủ”
(4)
. Như thế nghĩa là cách mạng Việt Nam phải hướng tới mục tiêu giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức,
bóc lột và bất công, tiến tới một xã hội “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người
là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
(5)
. Chính vì vậy, trong
“Chính cương vắn tắt”, Người chủ trương tiến hành tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng hay là cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân và ngay trong cách mạng ấy, Người cũng xác định cần phải giải
quyết hai nội dung cơ bản đó là : độc lập dân tộc và dân chủ nhân dân. Trong đó
độc lập dân tộc là nhu cầu bức thiết cần phải tập trung sức lực giải quyết. Bởi mâu
thuẫn giữa đế quốc xâm lược với nhân dân ta mà đông đảo là công nhân và nông
dân là mâu thuẫn bao trùm lên tất cả, còn phong kiến chỉ là tay sai và chịu sự chi
phối của thực dân đế quốc. Mâu thuẫn này nổi lên sâu sắc, gay gắt, đòi hỏi phải giải
quyết. Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiệm vụ giải phóng dân tộc
chống thực dân Pháp và tay sai đã là sự nghiệp nổi lên hàng đầu của nhân dân Việt
Nam, cách mạng Việt Nam. Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giải phóng dân tộc không
có nghĩa là coi nhẹ vấn đề giai cấp, coi nhẹ chủ nghĩa xã hội. Trái lại, Người luôn
quan niệm độc lập dân tộc là mục tiêu trước tiên phải giành được để tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Tuy trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhất là ở giai đoạn

tộc vì nó giải quyết mâu thuẫn chủ yếu giữa toàn thể nhân dân ta với đế quốc xâm
lược. Giải quyết mâu thuẫn này cũng là thực hiện được hai mâu thuẫn cơ bản của
xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Và như thế, rõ ràng, tư tưởng Hồ Chí Minh về con
đường cách mạng Việt Nam là tư tưởng cách mạng không ngừng, là sự thống nhất
giữa độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội là con
đường phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng Cộng
sản lãnh đạo, sau khi đã căn bản thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân. Đó là sự lựa chọn của Hồ Chí Minh, của nhân dân Việt
Nam và của chính lịch sử cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển của cách mạng Việt
Nam, là xu thế phát triển của xã hội Việt Nam phù hợp với xu thế chung của lịch
sử, của thời đại ngày nay.
Xuất phát từ đặc điểm của thực tiễn xã hội Việt Nam, một nước nông nghiệp
lạc hậu, thuộc địa, nửa phong kiến bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, nên trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Người không phải là
đưa ra những ý tưởng cao xa, mà là đề cập đến những lợi ích rất cụ thể thiết thực,
gần gũi với những nhu cầu đời thường của nhân dân lao động. Những quan niệm về
chủ nghĩa xã hội được diễn đạt rất dễ hiểu, dễ đi vào lòng người và cổ vũ họ đấu
tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Để quần chúng dễ hiểu về chủ nghĩa xã hội, Người giải thích rõ : “Chủ nghĩa xã hội
7
là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học,
ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán
không tốt dần dần được xóa bỏ. Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng
tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”
(6)
.
Như vậy, có thể khẳng định rằng tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của Người
thể hiện đậm nét sự công bằng xã hội. Nó không chỉ phản ánh mục tiêu, lý tưởng,
bản chất sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn thể hiện tính

cũng chưa muộn, v.v…
Trước những diễn biến của tình hình trên đây, rõ ràng đều nhắm tới mục tiêu,
ý đồ đen tối là phủ định tư tưởng xuyên suốt trong di sản Hồ Chí Minh đối với cách
mạng nước ta, mong muốn lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do vậy, đòi
hỏi chúng ta phải vững tin vào con đường Bác Hồ đã lựa chọn, giữ vững mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đọan cách mạng hiện nay, tiếp tục
quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, tiến
lên xã hội xã hội chủ nghĩa, vì dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam,
dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Nhận thức và hành động theo sự
lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng
Tám 1945, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn toàn không cân sức với
“hai đế quốc lớn”, mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc
địa và các nước phụ thuộc trên thế giới.
Qua nửa thế kỷ giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ Quốc, đặc biệt 15 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam
xứng đáng tiêu biểu bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa, đã tỏ rõ tín độc lập tự chủ trong mọi đường lối, chính sách đối nội và đối
ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc lên vị
thế mới trong khu vực và trên thế giới.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu
cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin
sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn
kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt
Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng
đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế.
Dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá, thì
hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn
là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp với xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân ta

Tr li cỏc nh bỏo nc ngoi thỏng 1-1946, Ch tch H Chớ Minh ó núi: Tụi
ch cú mt s ham mun, ham mun tt bc, l lm sao cho nc ta c hon ton
c lp, dõn ta c hon ton t do, ng bo ai cng cú cm n ỏo mc, ai cng
c hc hnh
(7)1
.Lý tng, khỏt vng c lp t do ú ca Ngi ó c th
hin rừ nột, nht quỏn xuyờn sut trong c quóng ng tỡm ng cu nc gii
1(7)
H Chớ Minh ton tp, NXB Chớnh tr quc gia, HN 1995, t4, tr.152.
(8) H Chớ Minh ton tp, NXB Chớnh tr quc gia, HN 1995, tp 5, tr.486-487
(9) H Chớ Minh ton tp, NXB Chớnh tr quc gia, HN 1995, tp 4, tr.45
10
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”,
câu nói của Người đã được nhân dân ta và hàng triệu người ở khắp các châu lục
nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Chân lý “độc lập, tự do” có giá trị vĩnh hằng cho mọi
dân tộc, mọi quốc gia trong mọi thời kỳ lịch sử.
Theo Hồ Chủ tịch thì độc lập dân tộc trước hết phải là độc lập thực sự, độc lập hoàn
toàn. Độc lập dân tộc là dân tộc đó có đầy đủ chủ quyền quốc gia trên tất cả các
lĩnh vực và toàn vẹn lãnh thổ, chứ không phải sự độc lập giả hiệu, chủ quyền do
ngoại bang ban phát, lãnh thổ bị chia cắt… Trong lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm
2/9/1948, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh “chúng ta sẵn sàng hợp tác thân thiện với
nhân dân Pháp, chúng ta yêu chuộng hòa bình. Nhưng chúng ta quyết không chịu
làm nô lệ. Chúng ta quyết kháng chiến đến cùng, tranh cho kỳ được thống nhất và
độc lập, thống nhất và độc lập thực sự, chứ không phải cái thứ thống nhất và độc
lập bánh vẽ mà thực dân vừa thí cho bọn bù nhìn. Thống nhất mà bị chia rẽ thành
“nước Nam Kỳ”, “nước Tây Kỳ, “Liên bang Thái”, v.v. Độc lập mà không có quân
đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết không thèm
thức thống nhất và độc lập giả hiệu ấy”
(8)
. Thứ hai là sự độc lập đó phải được thực

vọng của Người về độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Trong bài viết Con
đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, Người đã kể lại “Luận cương của Lênin làm
cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát
khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên lên như đang nói trước quần
chúng đông đảo “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng
ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”
(11)
. Trong kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ, Hồ Chủ tịch kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm kháng
chiến với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ”, “dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn”, dân tộc Việt Nam
cũng quyết tâm thực hiện bằng được độc lập, thống nhất trọn vẹn Tổ quốc và quyết
tâm kháng chiến đến cùng như Người đã bày tỏ: “Để giữ gìn đất nước, tổ tiên ta đã
từng kháng chiến 5 năm, 10 năm. Dù phải kháng chiến 5 năm, 10 năm, hay là lâu
hơn nữa để giữ gìn thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, để tranh lấy tự do và hạnh
phúc cho giống nòi, chúng ta cũng quyết kháng chiến cho đến thắng lợi cuối
cùng”
(12)
. Trong các văn kiện thành lập Đảng, Người đã nhấn mạnh mục tiêu trước
hết của cách mạng Việt Nam là làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập đã
thể hiện rõ nét tư tưởng độc lập dân tộc của Người. Hồ Chủ tịch cũng là người đi
đầu, chủ động tích cực tranh thủ mọi giải pháp hòa bình, hạn chế xung dột, tránh
chiến tranh để đạt hòa bình trong độc lập tự do. Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng
chủ dộng ký Hiệp định sơ bộ 6/3, ký tạm ước 14/9 với chính phủ Pháp mong muốn
giải quyết cuộc tranh chấp bằng con đường hòa bình. Khi Pháp đẩy mạnh khiêu
khích, xung đột, Người đã kêu gọi nhân dân Việt Nam kiên trì thi hành đúng Tạm
ước đã ký. Khi chiến tranh nổ ra, trên cơ sở kiên quyết kháng chiến đến cùng để
bảo vệ chủ quyền quốc gia, Người vẫn luôn bày tỏ mong muốn sẵn sàng đàm phán
với chính phủ Pháp để kết thúc chiến tranh. Đến thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Hồ
2

Hồ Chí Minh không đi theo con đường mòn của các bậc tiền bối. Người đã chọn
con đường sang các nước phương Tây, nơi có khoa học – kỹ thuật phát triển và
những tư tưởng dân chủ tự do, xem họ làm như thế nào để trở về nước giúp đồng
bào giài phóng dân tộc.
Từ thực tiễn gầm 10 năm bôn ba vạn dặm tìm đường cứu nước, Hồ Chủ tịch đã tìm
thấy trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (7/1920)
3
(13) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, HN 1995,tập 5, tr.441
13
lời giải đáp đầy thuyết phục cho những câu hỏi của mình, đó là giải phóng dân tộc
bằng con đường cách mạng vô sản, gắn việc giải phóng dân tộc với giải phóng giai
cấp vô sản. Như vậy, Hồ Chủ tịch đã tìm được con đường giải phóng dân tộc và
phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản. Người nói “Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
(14)4
.
Theo Lênin, cần phải có sự kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào
giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Tuy nhiên, Lênin cũng như những người lãnh đạo
Quốc tế Cộng sản lúc đó cho rằng cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng
chính quốc, là “hậu bị quân” của cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa
chỉ có thể nổ ra và thắng lợi khi cách mạng vô sản chính quốc thành công. Là người
cộng sản hoạt động tích cực trong phong trào giải phóng dân tộc thế giới, Hồ Chí
Minh sáng tạo ra luận điểm khả năng cách mạng thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước
cách mạng chính quốc. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa và cách mạng
chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc, nhưng trong đấu tranh đó, nhân dân các dân tộc thuộc địa có thể tự đứng lên
giải phóng. Các dân tộc thuộc địa không nên trông chờ, ỷ lại vào cách mạng chính
quốc mà phải chủ động đứng lên tự giải phóng khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế
quốc, qua đó góp phần tích cực vào cách mạng thế giới nói chung, cách mạng chính
quốc nói riêng. Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa, Người viết “Hỡi

tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, tự giải phóng cho ta. Chỉ có chúng ta
mới giải quyết được số phận của chúng ta. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ
Chí Minh đòi hỏi “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh,
trường kỳ kháng chiến,thì ngày nay chúng ta cần phải nêu cao tinh thần tự lực cánh
sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà”
(16)6
.
Đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường đã giúp Hồ Chủ tịch lái con thuyền Việt
Nam đi giữa hai ngọn sóng Xô – Trung trong thập kỷ 60, thời kỳ mà giữa hai nước
Liên Xô, Trung Quốc có những bất đồng lớn. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam
luôn cần đến sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế, nhưng Người chỉ rõ sự nghiệp cách
mạng Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam quyết định. Vì chúng ta có thế, có lực
thì bên ngoài mới ủng hộ, giúp đỡ và sự ủng hộ giúp đỡ đó mới mang lại hiệu quả.
Người cho rằng muốn người ta giúp cho thì trước hết phải tự cứu mình đã; chúng ta
lo tìm bạn bè nhưng trước hết phải tổ chức lực lượng của chính mình.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập không có nghĩa là biệt lập đứng riêng một mình mà để
có thể hợp tác bình đẳng với tất cả các nước thì cần phải độc lập tự chủ. Vì vậy,
độc lập tự chủ, tự lực tự cường là biểu hiện của tinh thần yêu nước chân chính, gắn
bó mật thiết với tinh thần quốc tế trong sáng. Những người có tư tưởng dân tộc hẹp
hòi và ỷ lại, không tự lực tự cường đều bị Hồ Chí Minh phê phán.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập tự chủ, tự lực tự cường có mối quan hệ chặt
chẽ với mở rộng hợp tác quốc tế. Người đã từng nói “Nhờ Liên Xô thắng lợi mà
6
(16) Hồ Chí Minh tồn tập, NXB Chính trị quốc gia, HN 1996, tập 11, tr.22
(17) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, HN 1995, tập 1, tr.465
15
những nước thuộc địa như Trung Quốc và những nước thuộc địa như Triểu Tiên,
Việt Nam đã đánh được hoặc đang đánh đuổi bọn đế quốc xâm lăng trả lại tự do,
độc lập”
(17)

7
(18) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, HN 1995, tập 1, tr.9-10
(19) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, HN 1995, tập 5, tr.578
(20) Đảng CS Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr.70
(21) Đảng CS Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr.71
16
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, tự lực tự cường, Đại hội X
đã xác định “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”
(20)
,
“phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ tối đa ngoại lực, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới”
(21)
, “Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển… Việt Nam là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào
tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”
(22)8
. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước cần quán triệt tư tưởng độc lập tự chủ, tự lực tự cường của Hồ
Chủ tịch. Chúng ta phải chủ động, tích cực hội nhập kinh tế, mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại đi đôi với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phát huy tối đa nội lực,
tranh thủ hợp tác quốc tế bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.
*Liên hệ thực tế nước ta trong công cuộc đổi mới hiện nay:
Hội nghị TW 6(khóa 7) đã xác định rõ nguồn lực và phát huy nguồn lực để xây
dựng và phát triển đất nước. Trong đó nguồn lực con người cả về thể chất và tinh
thần là quan trọng nhất. Cần khơi dậy truyền thống yêu nước của con người Việt
Nam biến thành động lực để chiến thắng kẻ thù, hôm nay xây dựng và phát triển
kinh tế.

cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị ấy - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, tư tưởng, là quốc bảo phù
hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, bước vào thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành
thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đưa đất
nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status