Phần I.
TỔNG QUAN VỀ HÀ NỘI.
I. Các lợi thế về vị trí địa lý.
1.1. Vị trí địa lý.
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng , trong phạm vi từ
20º34’ đến 21º18’ vĩ độ Bắc và từ 105º17’ đến 106 º 02’ kinh độ Đông. Hà Nội
tiếp giáp với 6 tỉnh là Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam, Hòa Bình ở
phía Nam ; Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên ở phía Đông và Hòa Bình, Phú Thọ ở
phía Tây. Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 3344,7km2, dân số ( đến hết năm
2008 ) khoảng 6.323,1 nghìn người; chiến 1% về diện tích tự nhiên và 7,2% về số
dân của cả nước, đứng hàng thứ 42 về diện tích và thứ 2 về dân số trong 63 tỉnh,
thành phố ở nước ta.
Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng bậc nhất của nước ta. Từ thủ đô đi đến
các thành phố, thị xã của vùng Bắc Bộ cũng như của cả nước bằng đường bộ,
đường sắt, đường thủy và đường hàng không đều rất dễ dàng và thuận tiện.
Hà Nội là nơi hội tụ hai hành lang kinh tế Côn Minh Lào Cai Hà Nội Hải Phòng
và Nam Ninh Lạng Sơn Hà Nội Hải Phòng. Đây chính là yếu tố gắn bó chặt chẽ
thủ đô với các trung tâm khác trong cả nước và tạo điều kiện thận lợi để Hà Nội
tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu về khoa học kĩ thuật của thế giới, tham
gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực; hội nhập vào quá trình
phát triển năng động của khu vực Đông Nam á, Đông á-Thái Bình Dương.
Sự phát triển của Hà Nội có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triển của cả vùng, cũng
như của cả nước. Sự phát triển của thủ đo là niềm tự hào không chỉ riêng người
dân Hà Nội mà còn là niềm tự hào của đất nước, của dân tộc.
1.2. Lợi thế dựa trên vị trí địa lý.
Hà Nội là thành phố có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển,thể
hiện trên các mặt chính sau đây:
- Có địa hình đa dạng, đại bộ phận là đồng bằng, đất đai màu mỡ,khí hậu thuận lợi,
dồi dào lượng nhiệt, ẩm và ánh sáng để phát trển nông nghiệp.
- Có nhiều nguồn tài nguyên phong phú như nông sản, thủy sản, nước ngầm, một
số khoáng sản kim loại quý, đá vôi và vật liệu xây dựng. Những thắng cảnh tự
mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm 18-20 độ C.
III. Tài nguyên đất.
Hà Nội có bốn loại đất chính , đó là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất
bạc màu và đất đồi nui.
Đất phù sa trong đê là loại đất phù sa màu mỡ do các hệ thống sông bồi dắp nên từ
hàng nghìn năm nay. Đây là loại đất trồng trọt tốt nhất của Hà Nội với đặc tính ít
chua đến trung tính , độ pH từ 6-7, hàm lượng mùn và chất dinh dưỡng khá phong
phú, thành phần cơ giới thích hợp với nhiều loại cây trồng. Nhóm đất phù sa phân
bố đều khắp ở các huyện : Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm, Phúc Thọ, Đan Phượng,
Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên
Đất bạc màu , phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều ở hai huyện
Đông Anh và Sóc Sơn, là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng , không kết cấu , thành
phần cơ giới , rời rạc khi khô hạn, kết dính khi gặp nước, cho năng suất cây trồng
thấp .
Đất đồi núi tập trung ở các huyện Sóc Sơn , Ba Vì , Thạch Thất, Quốc Oai,
Chương Mĩ , Mĩ Đức , thành phố Sơn Tây. Nhóm này chia ra hai khu: khu đất núi
và khu đất gò đồi.
Khu vực đất núi tập trung chủ yếu ở các huyện Ba Vì và Mĩ Đức, phổ biến là đất
feralit phát triển trên phù sa cổ và feralit phát triển trên đá trầm tích. Cả hai loại
đất feralit này tương đối màu mỡ, tơi xốp thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp
và chăn nuôi. ở những vùng đất bị xói mòn nghiêm trọng do rừng chặt phã, tầng
đất mỏng, nhiều nơi tro sỏi sạn, tầng mùn hầu như không còn, đất chua, độ pH
thường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng . Cần nhanh chóng trồng rừng phủ xanh đất
trống, đồi trọc, kết hợp trồng cây ăn quả, rau màu để duy trì môi trương sinh thái
bền vững.
2
Cho đến hết năm 2007, diện tích tự nhiên của Thành phố Hà Nội là 334,47 nghìn
ha, trong đó đất nông nghiệp ( bao gồm đất sản xuất nông, lâm, thủy sản) chiếm
58,7% , riêng đất sản xuất nông nghiệp chiếm 49,1 %; đất phi nông nghiệp chiếm
35,3%( bao gồm đất ở , đất chuyên dùng và đất phi nông nghiệp khác); đất chưa
mộ là Văn Miếu-Quốc Tử Giám, thành Cổ Loa, chùa Một Cột, Lăng Chủ tịch Hồ
Chí Minh, làng Việt cổ Đường Lâm, chùa Hương, chùa Tây Phương, chùa Thầy,
chùa Đậu , chùa Mía
Các lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc luôn tạo ra sức hấp dẫn khách như hội Đóng
Đa, hội Cổ Loa, hội đền Hà Lôi tưởng niệm Hai Bà Trưng, hội Gióng đền Sóc, hội
đền Và-thờ đức thánh Tản Viên, hội chùa Hương- lễ hội kéo dài nhất cả nước , hội
chùa Thầy
Là quê hương đất trăm nghề, Hà Nội đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền
thống: làng gốm sứ Bát Tràng, làng đúc đồng Ngũ Xã, làng Kiêu Kỵ vàng quỳ,
3
làng Vân Hà mộc chạm, nay lại thêm các làng lụa Vạn Phúc, thêu ren Quất Động,
khảm trai Chuyên Mỹ, làng tiện gỗ NHị Khê, làng quạt giấy Vác, làng mây tre đan
PHú Vinh, Ninh Sở…
Hà Nội ngày nay có thêm nhiều món ăn đặc sản, chả cá Hà Nội , bánh cuốn Thanh
Trì bánh dày Quán Gánh giò, chả, nem chua Ước Lễ; nem chạo Phùng, chè lam
Hương Ngải, Canh Nậu. Làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Nghi Tàm; làng quất Tứ
Liên, làng đào Nhật Tân , Phú Thượng; các làng hoa mới Tây Tựu, Xuân Đỉnh,
Mai Dịch, Nam Hồng, Tiên Dương, Vân Trì nay lại thêm Mê Linh , Tiền Phong,
Đông La, Thường Tíngóp mặt.
Phần II
Tổng quan về thị trường Bất động sản ở Việt Nam
I.Tổng quan chung
Nguy cơ lạm phát tái xuất hiện, dòng vốn có xu hướng chuyển sang thị trường
bất động sản:
- Giá nhà và giá vật liệu xây dựng tháng 12/.2009 tăng 5.8% so với cùng kì năm
ngoái
- Giá lương thực thực phẩm T12/2009 tăng 12,6 % so với năm ngoái
- Lãi suất cơ bản tăng 1% từ 01/12/2009 hạn chế tăng trưởng tín dụng và nguy
cơ lạm phát
- Lãi suất cơ bản cuối năm 2009 là 8%
thuận lợi, an toàn và hiệu quả hơn. Mới đây Bộ Xây Dựng đã ban hành Thông tư
số 13/2008/TT-BXD ngày 21 tháng 5 năm 2008, theo đó: “Doanh nghiệp kinh
doanh bất động sản phải thực hiện việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua
bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản (trừ các dự án nhà ở xã hội theo
Luật Nhà ở)”, điều này sẽ thúc đẩy hơn sự phát triển của thị trường bất động sản.
Thị trường bất động sản mang tính khu vực và địa phương sâu sắc: đặc tính
của bất động sản là không thể thiêu hủy và khó chia cắt, không thể di dời; sự thừa
thải ở nơi này không thể bù đắp sự thiếu hụt ở nơi khác làm cho thị trường bất
động sản mang tính chất địa phương. Mặt khác, sự khác nhau về trình độ phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội và mật độ dân số làm cho nhu cầu về bất động sản cũng sẽ
khác nhau về số lượng, hình dạng, chất lượng và từ đó dẫn đến sự khác nhau về
mức độ phát triển của thị trường bất động sản của từng địa phương.
Thị trường bất động sản là thị trường không hoàn hảo: thị trường bất động
sản là một thị trường đòi hỏi sự can thiệp nhiều và trực tiếp của Nhà Nước nên
mức độ hoàn hảo của thị trường bất động sản thấp hơn các thị trường hàng hóa
tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất và các thị trường khác. Bên cạnh đó, do
không tái tạo được hay tính khan hiếm của đất nên thị trường mang tính độc
quyền. Các thông tin về quy hoạch, về quản lý, kinh tế xã hội liên quan đến đất đai
chưa được phổ biến triệt để điều này làm cho thị trường bất động sản có cạnh
tranh nhưng là cạnh tranh ngầm, cạnh tranh không hoàn hảo.
Thị trường bất động sản là thị trường có mối liên hệ mật thiết với các thị
trường khác nhất là thị trường tài chính tiền tệ, tín dụng và với sự phát triển kinh
tế của một quốc gia: Hầu hết các khoản đầu tư đều đi vào hai luồng là đầu tư vào
các tài sản hoặc là đầu tư trên thị trường tài chính tiền tệ. Trong mọi thời điểm
người ta luôn có nhu cầu chuyển dịch một lượng tiền bạc sang tài sản hoặc ngược
lại. Mặt khác, bản thân các giao dịch về bất động sản thường có nhu cầu rất lớn về
vốn. Điều đó cho thấy, thị trường bất động sản của một quốc gia chỉ có thể phát
triển lành mạnh và ổn định khi có một thị trường vốn phát triển lành mạnh và ổn
định.
5
trước.
Tuy nhiên, hiện tỷ lệ mặt bằng của tất cả các phân hạng vẫn nằm ở mức
17,5% giảm 0,6% so với quý trước. Riêng tỷ lệ mặt bằng hạng A còn trống hiện
vẫn ở mức cao: 26,3%.Trong khi đó dự báo nguồn cung sẽ vẫn tiếp tục tăng từ nay
đến cuối năm 2010.
ở thị trường kinh doanh bán lẻ dấu hiệu có vẻ khả quan hơn. Hiện giá chào thuê
bình quân tại các trung tâm thương mại tổng hợp trong khu trung tâm thương
mại(TTTM) của thành phố vẫn bình ổn ở mức giá 105,3USD/m2/tháng tại các
tầng lầu có vị trí thuận lợi.
Dự kiến trong quý IV/2009 sẽ có nhiều TTTM lớn được khánh thành như: Kumho
Asiana Plaza(Q.1), The Flemington (Q.11) và The Everich(Parkson) ở Q.11 sẽ
cung cấp thêm cho thị trường 56.338m2 mặt bằng.
Thị trường căn hộ dịch vụ vẫn tiếp tục phải đối mặt với áp lực giảm giá
thuê. Giá thuê trung bình của căn hộ dịch vụ trong tất cả các hạng giảm 4,3%
xuống còn 24,74 USD/m2/tháng. Tỷ lệ trống của các tòa nhà hạng A thậm chí còn
tăng cao lên 26% do khách thuê dời dến các căn hộ dịch vụ rẻ hơn.
Có dấu hiệu hồi phục và được đánh giá tiềm năng nhất hiện nay chính là thị
trường căn hộ bán. Trong quý III, các chủ đầu tư đã bắt đầu khởi động lại các dự
án bị đình hoặc hoãn lại trước đây và cùng lúc đó là 12 dự án mới đã được khởi
công xây dựng. Có 10 dự án (bao gồm 1.800 căn hộ) đã chính thức được chào bán
trong đó một số chủ đầu tư chỉ chào bán 1 số lượng nhỏ trong tổng số nguồn cung
của dự án. Đặc biệt, giá chào bán bình quân trên thị trường thứ cấp tiếp tục tang từ
1%-3,4% so với quý trước, và hầu hết các giao dịch dao động trong mức giá 650
USD-810 USD/m2.
Nếu tính từ năm 2008 đến quý III/2009 đã có 46 dự án với gần 15.000 căn
hộ được chào bán. Dự kiến, số lượng căn hộ được chào bán tại TP.HCM đến quý
II/2010 sẽ là 44 dự án với trên 22 ngàn căn hộ.
Riêng Hà Nội, sau khi rà soát các đồ án, dự án đầu tư xây dựng trên địa
bàn, ủy ban nhân dân thành phố đã đề nghị cho phép tiếp tục triển khai 241 dự án
vào đợt 1. Trong số này có tới trên 60% là dự án nhà ở, khu đô thị mới.
trên thị trường vẫn không thể tăng. Nguyên nhân của tình trạng này, theo các
chuyên gia là do nhiều nhà đầu tư với mục đích đầu cơ đã từ bỏ thị trường. Trong
khi đó, giá bất động sản còn ở mức quá cao so với khả năng thanh toán của đa
phần người có nhu cầu mua nhà để ở. Do vậy mặc dù cầu thật của thị trường rất
lớn, thậm chí lớn hơn cung nhiều lần nhưng tỷ lệ giao dịch thành công không
nhiều.
+ Nguồn Cung :
Các tuyến cao tốc trái của Láng-hòa Lạc đã được thong xe vào cuối tháng 10.
Toàn tuyế sẽ thông xe vào cuối năm 2010 hoặc đầu năm 2011
Các dự án đường cao tốc trọng điểm Hà Nôi Lào Cai, Hà Nội Hải Phòng được
đẩy mạnh tiến độ
Các dự án này sẽ ảnh hưởng lớn trong 5-10 năm tới
Thị trường nhà ở
Năm 2009 2010
Cao cáp và hạng sang 4511 (15 dự án) 3174( 8 dự án)
Trung cấp 6014( 19 dự án) 5407 ( 9 dự án)
Bình dân 2567( 4 dự án)
8
Tổng 13356(38 dự án) 8581 (17 dự án)
40% nguồn cung mới được tung ra thị trường vào tháng 10 và tháng 11, thị
trường tăng vọt nhưng sau đó trở về nhu cầu bình ổn
Năm 2010 sẽ có thêm nhiều dự án được khởi bán
Thị trường nhà ở vẫn sẽ là thị trường sôi động nhất : đo thị hóa thay đổi cơ cấu hộ
gia đình và nhà ở cũng là 1 kênh đầu tư quan trọng
Mối lo lạm phát tiền chảy vào thị trường nhà đất
Nhà ở quanh hồ Tây tiếp tục tăng giá đặc biệt khu đất phía tây
Nguồn cung sẽ tăng mạnh trong mọi phân khúc
- Các dự án chất lượng cao sẽ tiếp tục bán tốt
- Các dự án chất lượng chưa đảm bảo có vị trí kém và gặp rất nhiều khó khăn
Nếu nhu cầu tiếp tục tăng phân khúc hạng trung bình sẽ có thêm nhiều dự án khởi
hoạt động tốt hơn nhưng trước hết cần phải đi vào ổn định
9
- Nếu giá thuê tiếp tục giảm trong phân khúc hạng A và hạng B+ cần thận trọng
khi di chuyển và cần đảm bảo giá thuê tiết kiệm được lớn hơn chi phí vận chuyển.
Cần nhớ rằng hấu hết các khách thuê không thuê ại thời điểm thị trường đạt
đỉnh.Gần như khách thuê hạng A trả giá thuê trong khoảng từ $25 đến $40
Thị trường bán lẻ
Các trung tâm thương mại vẫn duy trì hoạt động tốt. Tại các cửa hàng trung tâmn
nguồn cung vẫn hạn chế nhưng việc cải tọa các cửa hàng mặt phố làm thành cửa
hàng bán lẻ hiện đại sẽ làm giảm tốc đọ tăng giá thuê
Thị trường khách sạn
Công suát sử dụng phòng hồi phục trong quý 3 và quý 4 cà triển vọng tốt năm
2010
Giá thuê ổn định, nhiều thương hiệu mới ra nhập thị trường.
Thị trường khu công nghiệp
Thị trường khu công nghiệp sẽ phục hồi khi các chủ đầu tư Khu công nghiệp sẽ
quay trở lại thị trường tìm kiếm cơ hội đầu tư. Các chủ đầu tư và quản lý khu công
nghiệp sẽ giảm giá cho thuê và các loại phí.
Phần III
Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội quận Hoàn Kiếm đến
2020
I- Dự báo các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội
quận Hoàn Kiếm
1.1- Xu thế hiện đại hoá đời sống kinh tế - xã hội tại các đô thị.
Khác với các quận giáp ranh giữa nội và ngoại thành, Hoàn Kiếm ít chịu tác
động của quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá theo chiều rộng. Thay vào đó
Hoàn Kiếm chịu tác động mạnh mẽ của quá trình hiện đại hoá đô thị. Quá trình đó
thể hiện ở những đặc trưng cơ bản:
+ Tin học hoá các hoạt động kinh tế - xã hội.
là khoa học và công nghệ thông tin đã đạt tới trình độ cao, sẽ cho phép Hoàn Kiếm
phát triển những ngành kinh tế có hàm lượng chất xám cao. Quá trình đó đòi hỏi
phải chuyển đổi chức năng sử dụng của một số khu đất trên địa bàn Hoàn Kiếm.
Trong những điều kiện lịch sử của Hoàn Kiếm, việc chuyển chức năng sử dụng đất
là không đơn giản. Đó cũng chính là một trong những thách thức trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của Quận.
Sự phát triển cao của khoa học và công nghệ cũng đòi hỏi phải cải tạo hệ
thống các yếu tố của hạ tầng kỹ thuật, trong đó có hệ thống truyền dẫn thông tin.
Sự cải tạo đó trong điều kiện phố phường được định hình từ hàng chục năm qua,
là việc làm không đơn giản. Đó là cái khó của quận nội thành cổ xưa trong quá
trình tiếp tục phát triển.
1.3- Về khả năng khai thác các nguồn vốn.
Trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội của Hoàn Kiếm
trong quá trình phát triển đều cần nhiều vốn. Những nhân tố có thể cho phép khai
thác được nhiều vốn hơn cho đầu tư phát triển trên địa bàn quận Hoàn Kiếm như
sau:
- Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế quốc tế. Điều này sẽ cho phép nước ta, Hà
Nội, và trong đó có Hoàn Kiếm, có nhiều cơ hội để tạo lập các mối quan hệ với
nước ngoài, qua đó để thu hút vốn đầu tư.
- Cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước ta ngày càng thông thoáng theo
hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt
11
Nam. Vấn đề này nếu được giải quyết hợp lý, sẽ cho phép nước ta, Hà Nội có thể
nắm bắt kịp những vận hội quốc tế đưa lại.
- Phố cổ, phố trung tâm là vấn đề không riêng của Hoàn Kiếm, mà là của
Thủ đô, của cả nước. Nhân tố này sẽ tạo cho Hoàn Kiếm lợi thế nhất định so với
các Quận khác về bố trí các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước.
- Uy tín của Hoàn Kiếm vẫn là sức hút rất mạnh nguồn vốn đầu tư phát
triển các ngành dịch vụ trên địa bàn Quận.
Tuy vậy, cũng cần phải thừa nhận một thực tế là: rất nhiều địa phương đang
22
AI
Đất khu ở
175,61
38,74
13,51
33
AII
Đất công cộng quận và thành phố
(Bao gồm: Đất hành chính; Văn hoá;
Y tế;
Giáo dục; Dịch vụ công cộng khác )
31,10
6,86
2,40
44
AIII
Đất cây xanh TDTT quận và thành
phố
29,91
6,60
Các chỉ tiêu khống chế tính đến năm 2020
HạNG MụC
TOàN
QUậN
KHU PHố
Cổ
KHU PHố
Cũ
KHU
NGOàI
ĐÊ
Dân số (1000 người)
130
50 55 25
Mật độ cư trú (ng/ha)
(netto)
287 500 230 295
Mật độ xây dựng TB các ô
phố (%)
50 - 60 65 - 70
50 - 60
50 55
Tầng cao trung bình (tầng) 2,5
2,5
2,75
2,5
Hệ số sử dụng đất 1,3 - 1,5
1,6 - 1,8 1,3 - 1,7 1,2-1,4
vậy, việc lựa chọn và phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và xây dựng
cơ cấu kinh tế phù hợp là rất cần thiết trong chiến lược phát triển của Hoàn Kiếm.
2- Phát triển kinh tế - xã hội quận Hoàn Kiếm phải tạo được sắc thái văn
hoá riêng: kết hợp hài hoà những yếu tố hiện đại bên cạnh những yếu tố truyền
thống cổ kính, góp phần xây dựng văn hoá Thủ đô giàu bản sắc dân tộc và truyền
thống Thăng long - Hà Nội ngàn năm văn hiến. Phát triển hoạt động thương mại,
dịch vụ và du lịch trên dịa bàn quận Hoàn Kiếm không thể tách rời với việc xây
dựng và quản lý đô thị, bảo tồn và tôn tạo phố cổ, phù hợp với vị thế của Quận.
3- Phát triển kinh tế - xã hội của Hoàn Kiếm phải được đặt trong quan hệ
hữu cơ với các quận, huyện khác của Thủ đô, và với các vùng khác trong khu vực
và cả nước.
4- Phát triển kinh tế phải đi đôi với giải quyết những vấn đề xã hội, trong
đó cần chú trọng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đời sống cho
người có công với cách mạng và nhà ở cho người có thu nhập thấp.
5- Phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Hoàn Kiếm phải đảm bảo an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an
ninh nhân dân trong tình hình mới.
III- Định hướng phát triển:
Quận Hoàn Kiếm nằm ở vị trí trung tâm của thành phố Hà Nội nên có nhiều ưu
thế trong việc mở rộng thị trường cũng như khả năng hợp tác với bên ngoài. Với
vị trí địa lý thuận lợi, tập trung nhiều đầu mối giao thông, Quận có khả năng thúc
đẩy mạnh giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá và du lịch. Đây chính là điều kiện
cho sự phát triển của thị trường hàng hoá và dịch vụ. Hơn nữa, nằm trên đường
giao thông Bắc Nam cũng như là vùng nối lên các tỉnh lân cân nên quận Hoàn
Kiếm có khả năng mở rộng thị trường đa dạng hơn, kể cả những hàng hoá tiêu
dùng thiết yếu, những loại hàng hoá cao cấp cũng như thị trường dịch vụ, du lịch.
Hiện tại, Hoàn Kiếm đang phấn đấu đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản
xuất bình quân mỗi năm khoảng 10%/năm.
Riêng trong năm 2010, giá trị sản xuất bình quân đầu người tăng gấp hơn 3 lần so
với năm 2000. Lĩnh vực thương mại đạt 33.067 tỷ, chiếm tỷ lệ 63,28%; dịch vụ
về trình độ của nguồn lao động, vừa giải quyết việc làm, đồng thời tránh được ô
nhiễm môi trường.
Đối với ngành tiểu thủ công nghiệp, với truyền thống các sản phẩm thủ công, nhận
thức về tầm quan trọng và được sự quan tâm của các cấp Chính quyền nên tiểu thủ
công nghiệp có nhiều điều kiện để phát triển. Hơn nữa, cùng với sự phát triển của
du lịch, những ngành tiểu thủ công nghiệp sản xuất những sản phẩm phục vụ du
lịch và gắn với du lịch càng có điều kiện cho sự phát triển.
Khó khăn
15
Đứng trước nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, quận Hoàn Kiếm cũng
đứng trước không ít những khó khăn. Điều đầu tiên về mặt dân cư có thể nói, quận
Hoàn Kiếm đang có những biến động về mặt dân cư rất lớn, tạo nên khó khăn
trong việc phát triển kinh tế cũng như công tác quản lí, đặc biệt là quản lí dân cư,
quản lý đô thị, trật tự chính trị và an toàn xã hội. Hơn nữa, mật độ dân số của quận
cao, đặc biệt là khu vực phố cổ cũng tạo không ít khó khăn cho những chính sách
phát triển bền vững. Với địa bàn đất chật người đông, có sức hút cao để phát triển
các ngành dịch vụ, là quận trung tâm về nhiều mặt của đời sống kinh tế- xã hội của
thủ đô ,đất đai của Hoàn Kiếm được coi là tấc đất tấc vàng. Do vậy, việc tập trung
phát triển các ngành dịch vụ sẽ phải vượt qua thách thức rất lớn là giá cả đất đai
trên địa bàn quận quá cao.
Quận có lịch sử lâu đời, nơi tập trung nhiều công trình di tích, lịch sử, văn hoá.
Tuy nhiên, nhiều công trình đang bị xuống cấp, một số di tích đang bị xâm phạm,
lấn chiếm vấn đề giữ gìn, bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá này
đang là vấn đề cấp bách. Không những thế việc giữ gìn những làng nghề, phố
nghề truyền thống cũng như những bản sắc riêng của người dân Hoàn Kiếm đang
là một trong những khó khăn nhất của Quận.
Phần IV
Phân tích các đặc điểm xung quanh mô đất
I Đặc điểm, vị trí của khu đất :
của thị trường trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên , với tốc độ phát triển như
hiện nay để đáp ứng kịp với tiến trình hội nhập ASEAN và WTO. Hà Nội cũng
như nhiều thành phố lớn khác vẫn còn thiếu những mô hình tổ hợp các cao ốc
văn phòng, trung tâm thương mại hiện đại phù hợp với nhu cầu thị trường
trong và ngoài nước.
III Phân tích mô hình swot:
Để xác định được mục tiêu, chiến lược xây dựng dự án cho khu đất, nhóm
chúng tôi xin được phân tích mô hình swot cho khu đất đã cho để thấy rõ các
điểm mạnh yếu, cơ hội thách thức mà môi trường đặt ra:
Điểm mạnh :
- Mảnh đất nằm gần khu vực trung tâm thủ đô nên thu hút được nhiều mối quan
tâm của khách hàng.
- Mặt tiền của mạnh đất khá rộng, không gian đẹp.
- Nằm gần khu vực của quân đội nên có tính pháp lý ổn định, an ninh được đảm
bảo.
Điểm yếu :
- Gần bệnh viện nên dễ gây tâm lý e ngại bởi môi trường, cảnh quan phong
thuỷ.
17
- Khu đất nằm ở cuối đường Trần Hưng Đạo, diện tích đường ở đây không lớn
nên có thể xảy ra ùn tắc giao thông trong giờ cao điểm.
Cơ hội :
- Xét về dài hạn, Việt Nam vẫn đang là khu vực hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Các
tập đoàn nước ngoài tích cực tìm hiểu cơ hội đầu tư, tìm quỹ đất để kinh doanh. Vì
vậy nhu cầu về văn phòng cho thuê ngày càng cao, thêm vào đó là tốc độ đô thị
hoá ngày càng nhanh nên nhu cầu nhà ở cũng rất lớn.
- Vị trí của khu đất nằm ở đầu mối giao thông của các tỉnh phía bắc vào Hà Nội
: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên
- Dân số tập trung ở khu vực này tương đối đông đúc, thu nhập bình quân đầu
người cao. Đây là điểm thuận lợi cho việc phát triển và thu hút khách hàng.
tăng giá sản phẩm là khó tránh khỏi.
18
IV - Mục tiêu dự án
Mục tiêu của dự án là đầu tư xây dựng công trình tổ hợp dịch vụ thương mại.
- Công trình có kiến trúc và quy hoạch đẹp, hiện đại, xứng đáng với công trình
nằm trong khu vực trung tâm của thành phố, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị
của thành phố.
- Khai thác và sử dụng hiệu quả lô đất có diện tích 700m
2
, hướng tới việc xây
dựng tổ hợp thương mại, cao ốc văn phòng đạt tiêu chuẩn cao về môi trường
và chất lượng công trình.
Công trình phải đạt được các tiêu chí: tận dụng được yếu tố địa lý vô cùng thuận
lợi của khu đất trong tổng thể khu đô thị và thành phố. Khai thác có hiệu quả tiềm
năng kinh tế của trung tâm thủ đô phát triển dịch vụ văn minh hiện đại với quy mô
lớn, chất lượng cao, giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế
Phần V
Tổng quan về dự án
- Dự án dự kiến được xây dựng trong khu vực quận Hoàn Kiếm, một trong các
quận Trung tâm và phát triển của Thành phố Hà Nội. Hiện nay, các dự án đầu
tư bất động sản tại Hà Nội đang diễn ra mạnh mẽ, các trung tâm thương mại
lớn đang được nghiên cứu về tính khả thi của dự án, tuy nhiên do nhu cầu mua
sắm và nhu cầu thuê các mặt bằng văn phòng cao cấp là rất lớn.Vì vậy, dự
đoán về sự phát triển tương lai tại khu vực này là rất khả quan.
- Toà nhà được xây dựng 21 tầng ( không kể 3 tầng hầm), cung cấp khoảng
14.700m2 tổng diện tích xây dựng. Trong đó 5 tầng đầu tư cho thương mại, 1
tầng để chiếu phim buổi tối, 15 tầng còn lại cho thuê văn phòng.
- Giá thuê trên 1m
2
một tháng sẽ là: 25 USD cho khu văn phòng .
Sản phẩm
Chuẩn hóa các yêu cầu pháp lý sản phẩm ở mức cao nhất.
Sản phẩm cộng thêm dịch vụ trọn gói.
Tập trung vào các sản phẩm có khả năng thu hút nhóm khách hàng đầu tư.
Sản phẩm phải đáp ứng được thị hiếu khách hàng (hình thành từ nhu cầu thị
trường).
Sản phẩm đưa ra theo từng thời kỳ với số lượng phù hợp (không đưa hết dự án
một lần) nhằm tạo lực đẩy mua hàng.
Giá
Nghiên cứu thị trường, xây dựng giá bán mới cho hàng tồn kho.
Có chiến lược giá tăng dần theo tiến độ dự án và điều chỉnh theo tình hình thị
trường nhằm thu hút khách hàng đầu tư.
Phương pháp: định giá tổng hợp.
+ Định giá từ bên trong: căn cứ các tiêu chí như giá thành sản phẩm, lợi thế cạnh
tranh của sản phẩm, lợi nhuận tối thiểu để xác định giá sàn.
+ Định giá từ bên ngoài: căn cứ các tiêu chí như giá thị trường sản phẩm tương
ứng, tình hình và xu thế thị trường, lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, lợi nhuận kỳ
vọng của chủ sở hữu.
+ Định giá bán: theo tình hình thị trường và mục tiêu cụ thể của Công ty BCCI tại
thời điểm để định giá bán.
Chiến lược phân phối
20
Showroom: mở Showroom tại dự án (sau khi dự án hoàn thành), xây dựng sàn
giao dịch chuẩn với dịch vụ trọn gói.
Tổ chức bộ phận bán hàng tại dự án mới.
Phân phối: xây dựng đội ngũ cộng tác viên bằng chính sách thưởng cho người
giới thiệu.
Chiến lược xúc tiến: chiến lược đối thoại tổng lực (IMC)
Xây dựng lại hệ thống nhận diện thương hiệu.
Giới thiệu sàn giao dịch trên mạng.
*Đội ngũ nhân viên bán hàng
Huấn luyện kỹ năng giao tiếp khách hàng.
Trang phục.
Cơ sở vật chất, môi trường làm việc.
21
Thường xuyên huấn luyện về sản phẩm, pháp lý, kiến thức về thiết kế xây dựng,
phong thủy.
Kỹ năng tìm kiếm, khai thác khách hàng.
– Văn hóa doanh nghiệp.
22