giải pháp con đường quá độ lên chu nghĩa xã hội ở việt nam - Pdf 10

Lời mở đầu
Hiện nay, thời kì quá độ từ chủ nghĩa t bản trên phạm vi toàn thế giới
vẫn nói chung đang tiếp diễn và con đờng phát triển quá độ lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa tại các n ớc chủ nghĩa xã hội nói
riêng cũng có cơ sở lịch sử, thực tiễn sâu xa, vững chắc, mang tính quy luật
khách quan, tất yếu và hoàn toàn khả thi. Việt Nam trong xu thế chung của
thế giới cũng đang tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là quá trình
lâu dài và cũng có nhiều khó khăn. Có nhiều tài liệu đã nghiên cứu về vấn
đề này nhng ở mỗi tài liệu thì mới đề cập đến một khía cạnh của con đờng
quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp cho
ta thêm những thông tin quý báu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong
nớc để bớc đầu hình thành cho mình những t duy kinh tế. Qua ú giúp ta
hiểu đợc tình hình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay những
Bố cục tiểu luận gồm ba phần chính nh sau:
Phần A:Giời thiệu đề tài:
I.KháI niệm về hình thái kinh tế.
II.Tính cấp thiết của đề tài
III.Mục đích , ý nghĩa của viêc nghiên cứu đề tài
Phần B:Nội dung
I.Lý luận chung về quá độ lên chủ nghĩa xã hội
II.Thc trạng quá độ lên chr nghĩa xã hội ở nớc ta.
III.Giải pháp con đờng quá độ lên chu nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Phần C:Kết luận

1
Phần A
Giới thiệu đề tài
I.Quá độ lên chủ nghĩa xã hôị
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải biến Cách mạng không
ngừng, triệt để và toàn diện từ phơng thức sản xuất này sang phơng
thức sản xuất khác.Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội la tất yếu khách

mới với phơng thức sản xuất mới, quan hệ sản xuất và chế độ sở hữu mới
mang tính chất xã hội chủ nghĩa, với Nhà nớc kiểu mới mà chủ thể quyền
lực là giai cấp công nhân và nhân dân lao động .
2. Tính tất yếu và các loại hình quá độ lên CNXH.
2.1.Tính tất yếu của quá độ lên CNXH.
C.Mac cho rằng thời kì này bao gồm những cơn đau đẻ kéo dài có
nghĩa là tiến trình quá độ không dễ dàng, nhanh chóng và có thể phải trải
qua nhiều khúc quanh; những quãng cách mới đi đến kết quả cuối cùng.
3
Điều đó cũng đợc Lênin khẳng định rằng: Trong thời kì quá độ, sự nghiệp
xây dựng CNXH có khi phải làm lại nhiều lần mới xong và trong thực tế
diễn biến của tiến trình quá độ trong gần 90 năm qua với những thất bại
thăng trầm cũng đã chứng minh điều đó.
Theo V.I. Lênin tất yếu xảy ra quá độ lên CNXH là do đặc điểm ra đời
phơng thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định,
sự hình thành chế độ mới có thể ví nh một cơn đau đẻ kéo dài do đó nó cần
phải có thời gian, có những sự chuẩn bị và những tích luỹ vật chất cần thiết
đủ cho nó lọt lòng và phát triển.
Thứ nhất: Cách mạng vô sản có điểm khác biệt căn bản so với Cách
mạng t sản. Đối với Cách mạng t sản quan hệ sản xuất phong kiến và quan
hệ sản xuất T bản chủ nghĩa đều dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất
nên quan hệ sản xuất T bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng xã hội
phong kiến; nhiệm vụ của nó chỉ là giải quyết về mặt chính quyền Nhà nớc
làm kinh tế thị trờng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó.
Thứ hai: Sự phát triển của phơng thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là
một thời kì lâu dài, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện đợc. Để phát
triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ công hữu
xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới, cần phải có
thời gian, hay tất yếu phải có thời kì quá độ lên CNXH.
2.2. Các loại hình quá độ lên CNXH.

nghĩa ở Việt Nam mà chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn là con
đờng phát triển rút ngắn theo phơng thức quá độ gián tiếp. Đó là con đờng
phát triển tất yếu khách quan, hợp quy luật theo tiến trình phát triển lịch sử
tự nhiên của Cách mạng Việt Nam vì:
Thứ nhất là do bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ: thế giới bớc vào thời kì
quá độ từ chủ nghĩa t bản (CNTB) lên CNXH. CNTB lúc đó là xã hội đã lỗi
5
thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải đợc thay bằng hình thái kinh
tế xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội
chủ nghĩa. CNTB không phải là tơng lai của loài ngời, nó không vợt qua
những mâu thuẫn mà mâu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa lực lợng
sản xuất và quan hệ sản xuất; mâu thuẫn này càng ngày càng phát triển
gay gắt và sâu sắc hơn; CNXH mà con ngời đang vơn tới là hình thái kinh
tế xã hội cao hơn CNTB đó là xã hội vì sự nghiệp giải phóng con ngời, sự
phát triển tự do và toàn diện của loài ngời. Chúng ta quá độ thẳng lên
CNXH nghĩa là đi theo dòng chảy của thời đại nghĩa là đi theo quy luật tự
nhiên của lịch sử.
Thứ hai là do sự lựa chọn con đờng độc lập dân tộc của Đảng. Ngay
khi ra đời Đảng ta đã xác định con đờng phát triển của dân tộc là quá độ
lên CNXH bỏ qua chế độ. Từ sau khi Cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân do Đảng cộng sản lãnh đạo đã thành công thì chúng ta đã cởi bỏ đợc
hai vòng xích, đã thoát khỏi cảnh một cổ hai tròng, Đảng và Nhà nớc thêm
vững mạnh, nhân dân đã thêm niềm tin vào Đảng, quyết tâm đi theo Đảng.
Thành quả của cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cần đợc giữ
vững, cuộc sống vật chất cũng nh tinh thần của nhân dân phải đợc cải
thiện, nâng cao nhiều so với những năm chiến đấu hy sinh. Có hàng loạt
vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị cần đợc giải quyết cấp bách sau khi Cách
mạng dân tộc dân chủ thành công. Nhng điều đó không ngăn cản việc tiến
lên CNXH; hơn nữa, việc giải quyết nó chỉ có thể bằng con đờng xây dựng
CNXH. Việc đa miền Bắc tiến lên CNXH có ý nghĩa rất lớn lao trong những

tranh thủ đợc cơ hội, tận dụng, khai thác, sử dụng có hiệu quả những thành
tựu mà nhân loại đã đạt đợc để rút ngắn thời kì quá độ lên CNXH ở nớc ta.
Về khả năng chủ quan: Mọi thành công của chúng ta đạt đợc phải kể
đến yếu tố quan trọng bậc nhất là sự lãnh đạo của Đảng và liên minh công
7
nông vững chắc. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac Lênin luôn luôn
nhấn mạnh vai trò của Đảng vô sản trong việc lãnh đạo cách mạng nói
chung và trong việc thực hiện quá trình phát triển rút ngắn ở các nớc tiền t
bản nói riêng thì ở Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam là một nhân tố có
vai trò quyết định đối với việc đẩy nhanh sự phát triển đất nớc .Và trong
công cuộc đổi mới do Đảng khởi xớng và lãnh đạo đã thu đợc những kết
quả khả quan nh: đã củng cố và khẳng định con đờng đi lên chủ nghĩa xã
hội của chúng ta là đúng đắn. Sự lựa chọn con đờng quá độ lên CNXH bỏ
qua TBCN của nớc ta là phù hợp với sự lựa chọn của nhân dân ta. Các
tầng lớp lao động công nhân, nông dân và trí thức dới sự lãnh đạo của
Đảng đã cùng nhau chiến đấu, hy sinh để giành lại độc lập dân tộc và cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Do đó họ sẵn sàng liên minh chặt chẽ với
nhau và cùng với Đảng để vợt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công
CNXH.
Ngoài ra, khả năng và nguồn lực trong nớc có thể đáp ứng đợc yêu
cầu của thời kì quá độ lên CNXH. Chúng ta có lực lợng lao động dồi dào,
chăm chỉ, khéo léo, dễ đào tạo, sẵn sàng đáp ứng đợc yêu cầu của thời đại
mới. Tài nguyên thiên nhiên của nớc ta cũng hết sức giàu có và phong phú
tạo điều kiện hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
tạo tiền đề xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa
3.3. Nhận thức về quá độ lên CNXH bỏ qua CNTB ở Việt Nam.
Ngay từ khi thành lập Đảng ta đã khẳng định con đờng tiến lên CNXH
ở Việt Nam là bỏ qua CNTB. Nh ng cụm từ bỏ qua đã đ a ra những nhận
thức khác nhau về quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Từ thời kì đầu của quá độ đến trớc đổi mới ( từ 1945 đến 1986) trong

ta bỏ qua nh ng không thể làm nhanh chóng. Điều đó đợc Hồ Chí Minh
khẳng định trong tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập tiến lên CNXH không thể
9
một sớm một chiều , trong c ơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kì quá độ
lên CNXH và tại Đại hội Đảng VI Trờng Chinh đã khẳng định rằng quá độ
lên CNXH là một quá trình lịch sử tơng đối dài, phải trải qua những chặng
đờng đầy khó khăn.
3.4. Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kì quá độ lên CNXH ở
Việt Nam
Việt Nam đi lên CNXH từ một xuất phát điểm rất thấp lúc đó có tới
95% lao động là nông dân, tính nông nghiệp bao trùm toàn bộ nền kinh tế.
Để hoàn thành đợc những mục tiêu của thời kì quá độ là mục tiêu dân giàu,
nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì điều quan trọng là phải
cải biến căn bản tình trạng kinh tế xã hội; phải xây dựng một nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kĩ thuật
tiên tiến. Muốn vậy, trong thời kì quá độ chúng ta phải thực hiện những
nhiệm vụ kinh tế cơ bản sau.
Thứ nhất: Phải phát triển lực lợng sản xuất, công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nớc.Căn cứ vào thực lực kinh tế và bối cảnh kinh tế, hiện nay
lực lợng sản xuất của nớc ta có ba yếu tố lao động, t liệu sản xuất và khoa
học công nghệ. Để phát triển lực lợng sản xuất trong thời kì quá độ ở nớc ta
thì công việc đầu tiên là cần phải tập trung vào chiến lợc phát triển nguồn
nhân lực với trình độ ngày càng cao. Để làm đợc điều đó thì phải tập trung
phát triển chiến lợc giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. Nghị quyết Đại hội
Đảng VIII đã khẳng định: giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu còn
theo nghị quyết Đại hội Đảng IX thì Trong bối cảnh hiện nay để tránh
nguy cơ tụt hậu, để ứng dụng nhanh thành tựu khoa học kĩ thuật của thế
giới phải đào tạo đội ngũ công nhân, phải nâng cao chất lợng giáo dục .
Hiện nay, để giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu cần phải:
Đào tạo mới phải đáp ứng đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện

Đảng IX khẳng định: Khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo trở
thành quốc sách hàng đầu ở nớc ta hiện nay.
Thứ hai: Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa. Để phát triển nền kinh tế nớc ta trong thời kì quá độ
bên cạnh việc phát triển lực lợng sản xuất đòi hỏi cách mạng nớc ta tiến
hành đồng thời quá trình vừa xây dựng vừa hoàn thiện quan hệ sản xuất
mới xã hội chủ nghĩa trên cả ba mặt là quan hệ sở hữu đối với t liệu sản
xuất, quan hệ trong việc tổ chức quản lý quá trình sản xuất và quan hệ
trong việc phân phối kết quả sản xuất
Việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất ở nớc
ta hiện nay đợc tiến hành dới nhiều hình thức nh: Sắp xếp lại các doanh
nghiệp Nhà nớc, cổ phần hoá một bộ phận lớn doanh nghiệp Nhà nớc để
chuyển các doanh nghiệp từ một chủ sở hữu là Nhà nớc sang doanh
nghiệp nhiều chủ sở hữu là các cổ đông và thực hiện giải quyết các vấn đề
liên quan đến sở hữu đất đai, tài sản, của cải liên quan đến chủ thể trong
nền kinh tế.
Việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trên phơng diện sản
xuất quản lí ở nớc ta đợc đặc biệt quan tâm đến việc hình thành các loại
hình kinh tế, các tổ chức kinh doanh; điều đó phải căn cứ vào tình hình thực
tiễn trong nớc.
Về việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ trong việc phân phối kết quả
sản xuất: Trớc đây phân phối theo tài sản và phân phối theo vốn là hình
thức phân phối của t bản chủ nghĩa vì vốn và tài sản đều là của giai cấp t
sản còn phân phối theo lao động mới là phơng pháp phân phối của xã hội
chủ nghĩa nhng hiện nay ở nớc ta đang tồn tại ba hình thức phân phối đó là
phân phối theo lao động, phân phối căn cứ vào tài sản và vốn đóng góp và
phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
12
Thứ ba: Mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại.
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế và tự do

những bớc đi đúng đắn và trong quá trình thử nghiệm.
Bên cạnh những đặc điểm chung đó chúng ta tiến hành quá còn có
những đặc điểm khác biệt với các quốc gia khác nh :chúng ta bắt đầu tiến
hành quá độ khi đất nớc vẫn còn bị chia cắt hai miền với những chiến lợc
và nhiệm vụ khác nhau (Đại hội Đảng III năm 1960). Trong quá trình tiến
hành quá độ từ Đại hội Đảng III đến Đại hội Đảng VI chúng ta luôn nhận đ-
ợc sự viện trợ giúp đỡ hợp tác của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới
mà đặc biệt là Liên Xô thời đó. Nhng đặc điểm to lớn nhất của chúng ta
trong thời kì quá độ là từ một n ớc nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa . Đó tuy
không phải la một quy luật bình thờng nhng rất phù hợp với điều kiện nớc ta
lúc bấy giờ.
II. Thực trạng nền kinh tế quá độ ở nớc ta
1. Những thành tựu đ đạt đã ợc
Trong suốt thời kì quá độ nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới
(từ 1986) nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn cả về kinh tế, xã hội và
chính trị.
1.1. Về kinh tế
Nh ta đã biết dới ách thống trị của thực dân Pháp nền kinh tế nớc ta
phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nghĩa đế quốc, kinh tế hết sức nghèo nàn, lạc
hậu, nạn đói xảy ra triền miên và kéo dài, nghiêm trọng nhất là vào năm
1945 có tới hàng vạn ngời có nguy cơ chết đói. Nhng từ khi cuộc kháng
chiến trờng kì kết thúc thắng lợi, miền Bắc bớc vào thời kì quá độ thì dới sự
lãnh đạo của Đảng tính chất nền kinh tế đã thay đổi. Từ nền kinh tế thuộc
địa nửa phong kiến, chúng ta đã xây dựng đợc nền kinh tế mang tính độc
14
lập mang tính chất dân chủ nhân dân, thoát khỏi sự phụ thuộc hoàn toàn
vào chủ nghĩa đế quốc.
Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975 kinh tế đã có những bớc phát triển
nhất định nhng kết quả thực sự đáng lu ý là từ năm 1986 đến nay (thời kì

chuyển các thành phần kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hớng khu vực I (gồm
nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trởng cao liên
tục nhng tỷ trọng đã giảm xuống trong đó tỷ trọng khu vực II (công nghiệp
và xây dựng cơ bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ) đã tăng lên.
Đến năm 2003 tỷ trọng của khu vực I là 22%, khu vực II là 39%, khu vực III
là 39 năm 2004 thì tỷ trọng các khu vực tơng ứng là 21.8%; 40.1%;
32.2% .Năm 2007 c cu kinh t cú bc chuyn dch tớch cc theo
hng tng t trng cụng nghip, xõy dng dch v v gim t trng khu
vc nụng nghip (khu vc nụng nghip chim 20%; cụng nghip v xõy
dng chim 41,5%, dch v 38,1%.
Thứ ba: Về cơ chế quản lý kinh tế mới đã bớc đầu đợc hình thành.
Nhà nớc đã xoá bỏ về cơ bản kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu,
bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trong quá trình hình thành cơ chế thị trờng, Nhà nớc đã dần dần cải
tổ bộ máy và các công cụ quản lý. Từ chỗ chủ yếu sử dụng phơng pháp
hành chính coi kế hoạch hoá với các chỉ tiêu pháp lệnh là công cụ để quản
lý, điều hành nền kinh tế sang chủ yếu quản lý bằng pháp luật kết hợp
chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô nh chính sách tài chính, tiền tệ,
thu nhập và chính sách kinh tế đối ngoại.
Thứ t: Kinh tế nớc ta đã đạt thành công lớn trong việc kiềm chế và đẩy
lùi lạm phát. Trong những năm từ 1986 đến 1988 lạm phát tới ba con số
(cao nhất là 774,7% năm 1986) nhng đến năm 1989 lạm phát đã đợc chặn
16
lại ở hai con số sau đó giảm xuống một con số (năm 1997 là 3,7%; năm
1999 là 0,1%; năm 2001 là 0,8%; năm 2002 là 4%; năm 2003 là 3% thậm
chí còn có giảm phát vào năm 2000 là - 0.6%. Năm 2004 vừa qua lạm phát
đã tăng lên 9,5%.
Thứ năm:Về kinh tế đối ngoại. Trong thời kì quá độ cũng phát triển

t ng ký mi, tng 264,5% so vi nm 2006 v gn bng s vn FDI ca
18 nm trc ú cng li (3,5 t USD). Nh mỏy lc du Vng Rụ do Anh
v Nga hp tỏc u t, vn FDI ca tnh Phỳ Yờn t 1,7 t USD l ng
u cỏc tnh min Trung, vt qua Nng, Qung Nam v Tha Thiờn -
Hu.
Tng s vn u t nc ngoi (FDI) nm 2007 ca nc ta t 20,3 t
USD l mc cao nht t trc n nay.
1.2. Về x hộiã
Trong suốt thời kì quá độ chúng ta đã đạt đợc những chuyển biến tốt
về mặt xã hội. Nhìn chung đời sống vật chất, tinh thần của phần lớn nhân
dân đợc cải thiện một bớc rõ rệt. Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ
giàu tăng lên ( hiện nay lớn hơn 10%), GDP bình quân đầu ngời trong cả n-
ớc đạt 484,8 USD, khu vực thành thị đạt tới 794,8%, khu vực Đông Nam Bộ
đạt 820,8 USD. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 30% năm 1992 xuống còn 10,8%
năm 2003 và 9,03% năm 2004.
Những năm gần đây có 1,5 đến 1,7 triệu lao động đợc giải quyết việc
làm. Mức tăng hàng năm của số ngời có việc làm bắt đầu ngang bằng và v-
ợt chút ít so với lợng tăng thêm trong năm của lực lợng lao động.
18
Cùng với đời sống vật chất đời sống tinh thần cũng đợc nâng lên đáng
kể. Trình độ dân chí đợc nâng lên đáng kể, đời sống văn hoá của nhân dân
đợc cải thiện. Hoạt động của các phơng tiện thông tin đại chúng trở lên
rộng khắp. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo,các hoạt động văn hoá, nghệ
thuật, công tác kế hoạch hoá gia đình và nhiều hoạt động xã hội khác đều
có mặt phát triển và tiến bộ. Các cấp Đảng bộ ở địa phơng thờng xuyên
chú ý đến các hoạt động văn hoá, nghệ thuật phục vụ đồng bào nh chiếu
phim ảnh, tổ chức sinh hoạt tập thể
Một thành quả to lớn về xã hội phải kể đến là sự phát triển của hệ
thống y tế, giáo dục. Mạng lới y tế bây giờ đã rộng khắp luôn kịp thời chăm
lo sức khoẻ cho nhân dân. ở hầu hết các xã phờng thị trấn đều có các trạm

Nhà nớc và mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, Đảng không tự biến
mình thành Nhà nớc.
Ngày nay, với yêu cầu mới của công cuộc đổi mới đặc biệt là xây
dựng nền kinh tế định hớng xã hội chủ nghĩa thì vai trò lãnh đạo của Đảng
và quản lý của Nhà nớc đợc nâng lên. Đảng đã lãnh đạo các cơ quan Nhà
nớc thể chế hoá đờng lối, chủ trơng chính sách của Đảng thành pháp luật.
Chủ trơng chính sách của Nhà nớc và tổ chức thực hiện thông qua bộ máy
Nhà nớc. Đảng đã lãnh đạo, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ công chức
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng Nhà nớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân, vì dân. Đảng đã và đang
lãnh đạo ngày càng tốt hơn công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt
động của các cơ quan Nhà nớc. Nhà nớc ta là Nhà nớc pháp quyền cùng
với sự lãnh đạo của Đảng thì quản lý Nhà nớc cũng đợc tăng cờng.
Nhà nớc quản lý kinh tế: trong nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc quản lý
kinh tế thị trờng tức là điều khiển kinh tế sao cho nó tự vận động đến các
mục tiêu mong muốn bằng cách sử dụng các công cụ điều tiết và can thiệp
20
mỗi khi cần thiết. Nhà nớc chỉ quản lý vĩ mô nền kinh tế chứ không hề làm
kinh tế nh doanh nghiệp đang làm tức là Nhà nớc lựa chọn phơng án phát
triển kinh tế, xã hội. Can thiệp điều khiển mỗi khi nền kinh tế đi chệch
ngoài phơng án bởi các chấn động kinh tế, chính trị xã hội bên trong, bên
ngoài.
Đối với việc quản lý xã hội thì Nhà nớc ta quản lý xã hội bằng pháp
luật, coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức kết hợp biện pháp hành chính với
giáo dục t tởng, nâng cao dân chí. Đã kết hợp đợc sức mạnh pháp luật với
sức mạnh quần chúng. Đây là nét đặc sắc và cũng là thành công của Đảng
và Nhà nớc trong việc kết hợp pháp lý và văn hoá truyền thống của các thế
hệ ngời Việt Nam đợc đúc kết trong t tởng Hồ Chí Minh.
Thứ hai: Trong suốt thời kì quá độ vừa qua nhìn chung chúng ta tiếp
tục giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chế độ,

đảm bảo quyền tự do tín ngỡng tôn giáo nhng cũng đồng thời chống việc lợi
dụng tín ngỡng để xâm hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.
Thứ ba: trong thời gian qua chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi và
ban hành nhiều văn bản Pháp luật quan trọng, trong đó có những luật về tổ
chức bộ máy Nhà nớc, luật dân sự, luật đất đai, luật lao động, luật doanh
nghiệp Nhà nớc, luật đầu t nớc ngoài, luật đầu t trong nớc Qua việc sửa
đổi, bổ sung, thay đổi các văn bản luật chúng ta đã tiến hành cải cách một
bớc nền hành chính quốc gia, xây dựng và từng bớc hoàn thiện Nhà nớc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ t: chúng ta phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá vỡ thế bao
vây, cô lập, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế. Chúng ta đã
triển khai tích cực và năng động đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa ph-
ơng hoá, đa dạng hoá. Chúng ta đã khắc phục và tăng cờng quan hệ với
22
các nớc công nghiệp phát triển nh Mỹ, Nhật, bình thờng hoá quan hệ Việt
Mỹ, mở rộng quan hệ với các nớc Nam á, Châu Phi, Mỹ Latinh, Trung
Đông, với các tổ chức quốc tế, khu vực, đã tham gia vào các tổ chức
ASEAN, AFTA, APEC và sắp tới đây sẽ gia nhập WTO . Chúng ta đã nối
lại quan hệ với các quỹ tiền tệ nh IMF, ODA nên chúng ta đã đ ợc hỗ trợ
rất nhiều về vốn một yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất. Đồng thời,
chúng ta tiếp tục duy trì phát triển quan hệ đoàn kết hữu nghị với các Đảng
cộng sản và công nhân các phong trào độc lập, các tổ chức và phong trào
cách mạng tiến bộ trên thế giới; thiết lập quan hệ với các Đảng cầm quyền.
Thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại là một nhân tố quan trọng góp phần
giữ vững hoà bình, phá bỏ thế bị bao vây, cấm vận, cải thiện môi trờng
quốc tế, nâng cao vị thế nớc ta trên trờng quốc tế.
2. Những hạn chế
Tuy đã đạt đợc những thành tựu to lớn nhng trong thời kì quá độ và
trong công cuộc đổi mới đất nớc chúng ta đã còn mắc không ít khuyết điểm
và yếu kém.

so nm 2006 l ụ-tụ nguyờn chic xe mỏy nguyờn chic v du m ng
thc vt, khụng cú mt hng no gim so vi nm 2006 v kim ngch.
Ba là: Kinh tế tăng trởng khá nhanh nhng năng suất hiệu quả còn
thấp. Nhìn chung tốc độ tăng trởng nền kinh tế cha xứng với mức tăng đầu
t và thấp hơn so với kế hoạch, tính bền vững và độ đồng đều cha cao, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm. Khu vực dịch vụ tuy đợc đầu t khá xong
tỷ trọng tăng chậm trong cơ cấu GDP thậm chí năm 2004 còn giảm so với
năm 2003 là 6,8%. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất vừa thiếu vừa yếu và
kém hiệu quả. Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm không tơng ứng với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là trong khu vực nông nghiệp nông thôn
( năm 2003 còn chiếm lớn hơn 60% lao động).
24
Tuy việc phát huy đợc nguồn nhân lực cho đầu t phát triển có nhiều
tiến bộ, vốn trong nớc chiếm trên 70% nhng lại có sự giảm sút của nguồn
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) năm 2002 vốn đầu t suy giảm chỉ còn
bằng 60% so với cùng kì năm 2001. Điều này cho thấy môi trờng đầu t của
Việt Nam còn nhiều vớng mắc nhất là thủ tục hành chính, lĩnh vực và phạm
vi đầu t cha hấp dẫn so với các nớc khác trong khu vực.
Bốn là cạnh tranh còn yếu và trình độ kĩ thuật lạc hậu. Sức cạnh tranh
và năng lực quản lý của các doanh nghiệp còn yếu, thiếu sự chuẩn bị để
ứng phó hiệu quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng
(thể hiện rõ ở việc các doanh nghiệp cha thực sự chú ý đến việc đăng kí
nhãn hiệu cho sản phẩm của mình). Xét về tiêu chí cạnh tranh của sản
phẩm nh giá cả, chất lợng, mạng lới tổ chức tiêu thụ thì hàng hoá của Việt
Nam cũng có sức cạnh tranh yếu. Những mặt hàng xuất khẩu cha có đợc
hàm lợng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, hàng xuất khẩu chủ yếu là thô
hoặc sơ chế ví dụ nh dầu khí, than và chất l ợng thấp. Bên cạnh đó cha
xây dựng và sử dụng các biện pháp bảo vệ thị trờng nội địa. Một trong
những nguyên nhân khiến cho cạnh tranh yếu là hàm lợng công nghệ trong
sản phẩm, trình độ lao động của Việt Nam còn thấp. Theo con số thống kê


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status