phân tích sự biến động của giá vàng việt nam trong thời gian qua - Pdf 10

LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG
6
1. GIỚI THIỆU VỀ KIM LOẠI VÀNG 6
1.1 Giới thiệu về kim loại vàng 6
1.2 Ứng dụng của vàng 7
2. VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ 10
2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ 10
2.1.1 Các tính chất để vàng trở thành phương tiện lưu thông tiền tệ 10
2.1.2 các tính chất của vàng để làm một loại tiền tệ 11
2.2 Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ 11
2.2.1 Chế độ đồng bản vị (hai bản vị vàng – bạc) 11
2.2.1.1 Chế độ bản vị song song 12
2.2.1.2 Chế độ bản vị kép 13
2.2.1 Chế độ bản vị vàng 15
2.2.2.1. chế độ bản vị tiền vàng 15
2.2.2.2 chế độ bản vị vàng thỏi 16
2.2.2.3 Chế độ bản vị hối đoái vàng 17
2.2.3 Chế độ lưu thông tiền giấy 19
3. GIÁ VÀNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG GIÁ VÀNG 24
3.1 Mức cung về Vàng 24
3.1.1. xu hướng chung của mức cung 24
3.1.2. Mức khai thác hầm mỏ của các nước có sản lượng lớn 24
3.1.3. Những giao dịch của các nước có dự trữ chủ lực và các cơ quan
quốc tế 26
3.2 Mức cầu về vàng 27
3.2.1 Mức cầu của khu vực kim hoàn 28
3.2.2 Mức cầu của các ngành công nghiệp sử dụng vàng 29
3.2.3 Mức cầu dự trữ của các ngân hàng quốc gia 30
3.2.4 Mức cầu về đầu tư và đầu cơ 30
3.2.5 Tình hình đầu tư và đầu cơ vàng ở các nước 31

1.1.1.1. Triển vọng kinh tế Mỹ 80
1.1.1.2 Xu hướng đồng USD 81
1.1.1.3 Quan hệ cung cầu về vàng 82
1.1.1.4 Giá dầu thế giới 82
1.1.2 Tình hình trong nước 84
1.1.2.1 Kế hoạch xây dựng một sàn giao dịch vàng quốc gia 84
1.1.2.2 Thuế xuất nhập khẩu vàng – kho ngoại quan vàng 86
1.1.2.3 Lạm phát 87
1.2 Dự báo giá vàng VN trong trung và dài hạn 88
2. Một số biện pháp phát triển thị trường vàng Việt Nam 90
2.1 Kiềm chế lạm phát 90
2.2 Phát huy hiệu quả của kho ngoại quan vàng 91
2.3 Phát triển kế hoạch xây dựng sàn giao dịch vàng quốc gia 92
2.4 Phát triển thị trường chứng khoán và bất động sản 93
2.5 Quản lý việc kinh doanh bất hợp pháp vàng qua mạng 94
KẾT LUẬN 96
2
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, giá vàng diễn biến liên tục theo chiều
hướng gia tăng. Đặc biệt từ tháng tư năm 2006, giá vàng trong nước diễn
biến theo chiều hướng đột biến, liên tục gia tăng từ mức 0,98 triệu đồng/chỉ
vào thời điểm đầu năm 2006 lên đỉnh điểm 1,5 triệu đồng/chỉ vào tháng 5
năm 2006. Sau đó duy trì ổn định ở mức 1,3 triệu đồng/chỉ. Nhưng từ tháng
9 năm 2007 đến nay, giá vàng thế giới và Việt Nam đột ngột tăng mạnh phá
kỷ lục năm 1980, có lúc đạt mức đỉnh điểm trên 1,9 triệu đồng/chỉ vào giữa
tháng 3 năm 2008. Việc giá vàng tăng cao đã gây nên hội chứng tâm lý làm
nhiều người dân đổ xô đi mua vàng, một số đã rút tiền tiết kiệm để mua
vàng. Tuy nhiên, trước sự trồi sụt thất thường của giá vàng thế giới đã khiến
không ít người dân bị thua thiệt nghiêm trọng do đầu tư theo “phong trào” –

nghiệp được chia làm ba chương
Chương I: Tổng quan về vàng và thị trường vàng.
Chương II: Phân tích sự biến động của giá vàng Việt Nam trong thời gian
qua.
4
Chương III: Dự báo giá vàng trong thời gian tới và một số biện pháp phát
triển thị trường vàng Việt Nam.
Nội dung của đề tài khóa luận tốt nghiệp hướng tới là rất rộng và phức tạp.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực nhưng do những hạn chế về thời gian, tài
liệu và khả năng của bản thân, nên khóa luận không tránh khỏi có những
thiết sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường đại học Ngoại
Thương đã trang bị cho em các kiến thức quý báu trong thời gian học tập ở
trường. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Th.S Đào Thị Thu Giang, người
đã hết lòng hưỡng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm khóa
luận. Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty vàng bạc đá quý Sài
Gòn SJC, cô Phạm Thị Tuyết – phòng kinh doanh công ty vàng bạc đá quý
Sài Gòn SJC – đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, tạo điều kiện để em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2008
Tác giả
Ngô Trí Nam
5
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG VÀ THỊ
TRƯỜNG VÀNG
1. GIỚI THIỆU VỀ KIM LOẠI VÀNG
1.1 Giới thiệu về kim loại vàng
Vàng là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Au (từ La tinh aurum nghĩa là
tỏa sáng) có số hiệu nguyên tử trong bàng tuần hoàn hóa học là 79. Là kim

aurous) và +3 (vàng(III) hay hợp chất auric). Ion vàng trong dung dịch sẵn
sàng được khử và kết tủa thành vàng kim loại nếu thêm hầu như bất cứ kim
loại nào khác làm tác nhân khử. Kim loại thêm vào được ôxi hoá và hoà tan
cho phép vàng có thể được lấy khỏi dung dịch và được khôi phục ở dạng kết
tủa rắn.
1.2 Ứng dụng của vàng.
Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên
chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các
kim loại khác. Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong
7
ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều
nước.
Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính và hóa
tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loại
công nghiệp thiết yếu.
Các ứng dụng khác:
• Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu.
• Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bị
thông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều
sản phẩm khác.
• Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hoá của vàng khiến nó được sử
dụng rộng rãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt và
trở kháng thấp.
• Vàng được dùng trong nha khoa phục hồi, đặc biệt trong phục hồi
răng như thân răng và cầu răng giả.
• Vàng keo (hạt nano vàng) là dung dịch đậm màu hiện đang được
nghiên cứu trong nhiều phòng thí nghiệm y học, sinh học, v.v. Nó
cũng là dạng được dùng làm nước sơn vàng lên ceramic trước khi
nung.
• Chlorauric acid được dùng trong chụp ảnh để xử lí ảnh bạc.

Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, vàng có các tính chất cơ
bản sau đây:
- Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ,
người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ
không được coi là tiền nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương
phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát,
người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi.
- Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết,
người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Người ta có
thể dùng lửa để nhận biết được vàng có thật hay không.
- Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao
cho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh
toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính
chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng
đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về
số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ
khác cũng cần thiết không kém.
- Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ
giá trị cũng như mới có ích trong trao đổi. Một vật mau hỏng không thể
dùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có
chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc.
10
- Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang
theo, tiền tệ phải dễ vận chuyển. Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và
những đồng xu có kích thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không
được in khổ rộng ví dụ như khổ A4.
- Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm
vì nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa
trong việc cất trữ giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa. Vì
thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ

Lúc này người ta bắt đầu sử dụng thêm vàng như kim loại thứ hai để đúc
tiền tệ. Vì vậy bạc và vàng đồng thời được coi là bản vị. Cả vàng và bạc đều
được tự do đúc thành tiền và cùng có giá trị trong thanh toán và trao đổi.
Trong chế độ đồng bản vị này có hai cách quy đổi giữa giá trị đồng tiền vàng
và giá trị đồng tiền bạc nên cũng có hai chế độ đồng bản vị.
2.2.1.1 Chế độ bản vị song song
Ở dạng tinh khiết, bản vị vàng hàng hóa kim loại hoạt động trên cơ sở giá trị
đầy đủ của các đồng xu (full-bodied coins), tức giá trị tiền tệ của chúng cũng
chính là giá trị kim loại của đồng xu. Điều này hàm ý, khi giá vàng thay đổi
so với giá bạc, sẽ làm cho tỷ lệ trao đổi giữa các đồng xu vàng và bạc thay
đổi theo. Mặc dù tiền xu được đúc mang theo nhãn hiệu riêng của từng quốc
gia làm bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng
trong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng hỗn hợp kim loại
là vàng và bạc hay với các kim loại khác có giá trị thấp hơn. Các quốc gia
12
ngày càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng
xu; hành động này được gọi là “bào mòn giá trị thực tế của tiền xu –
debasement”. “Bào mòn giá trị thực tế tiền xu” làm cho các đồng xu mất giá
trị dần trong lưu thông, cho nên hành động này được xem như là tiền thân
của hành động phá giá trong thời hiện đại.
Quá trình đồng tiền được định giá cao loại đồng tiền bị định giá thấp ra khỏi
lưu thông được thể hiện bằng thành ngữ quen thuộc với tên gọi là Quy luật
Gresham: “đồng tiền xáu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good
money). Quy luật này được Thomas Gresham áp dụng để giải thích tại sao
phương tiện lưu thông tiền tệ của nước Anh lại giảm xuống, và trong thực tế
chỉ còn các đồng tiền bị bào mòn giá trị là tồn tại trong lưu thông. Điều này
đã thuyết phục được Nữ Hoàng Anh đi đến quyết định thay thế toàn bộ các
đồng tiền đã bị bào mòn giá trị bằng cách đúc các đồng tiền mới có giá trị
đầy đủ.
Nhược điểm của chế độ tiền tệ này cũng bắt nguồn từ chính sự thay đổi

lệ bạc : vàng là 16, trong khi trên thế giới vẫn là 15,5. Mộ lần nữa trong thực
tế nước Mỹ lại chỉ còn chế độ đơn bản vị kim loại là Vàng.
Năm 1879, Mỹ quyết định chuyển đổi trở lại USD ra vàng mà không chuyển
đổi ra bạc, đây là một bước quan trọng trong việc hình thành chế độ đơn bản
vị vàng (bản vị vàng) ở Mỹ. Tuy nhiên chế độ này vẫn không được chính
thức phê chuẩn cho tới khi có Đạo luật Bản vị vàng vào năm 1990.
14
2.2.1 Chế độ bản vị vàng
Mặc dù nước Anh hoạt động dưới chế độ bản vị vàng trong hầu hết thể ký
19, nhưng nhìn chung chế độ này vẫn chưa được áp dụng một cách phổ biến
cho tới những năm 1870. Hầu hết các nước châu âu, mà dẫn đầu là Đức, đã
chuyển sang chế độ bản vị vàng trong thấp niên 1870, và tiếp sau à Mỹ vào
năm 1879. Năm 1880, bản vị vàng từ một ít quốc gia đã phát triển thành Hệ
thống tiền tệ quốc tế với hầu hết các nước áp dụng. Khi bùng nổ chiến tranh
Thế giới Thứ nhất 1914, bản vị vàng bị bỏ rơi; và trong hơn 30 năm từ 1880
đến 1914 hệ thống bản vị vàng quốc tế đã thống trị hầu khắp các nước, nó đã
liên kết chặt chẽ các quốc gia lớn với nhau cũng như giữa các nước thống trị
và các nước thuộc đại trong suốt thời gian này.
Trong chế độ bản vị vàng, vàng là kim loại duy nhất được sử dụng để đúc
tiền. Chế độ này phát triển theo ba giai đoạn khác nhau.
2.2.2.1. chế độ bản vị tiền vàng
Đây là chế độ tiền tệ thông thoáng và ổn định nhất trong lịch sử, vì theo như
quy định của chế độ này vàng được tự do đúc thành tiền, các loại tiền phụ,
giấy bạc ngân hàng cũng như tiền tín dụng được tự do đổi thành vàng nếu
muốn, và bên cạnh đó pháp luật cũng cho phép tự do xuất nhập khẩu vàng.
Theo cách quy định này, vàng luôn được phản ánh trung thực giá trị của
mình, do đó sẽ khó có khả năng xảy ra hiện tượng lạm phát.
Những đặc điểm cơ bản trong hoạt động của chế độ bản vị vàng có thể mô tả
thông qua 3 quy tắc cơ bản:
Thứ nhất, Các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng,

động xuất nhập khẩu vàng cũng bị kiểm soát chặt chẽ và có lúc bị cấm.
2.2.2.3 Chế độ bản vị hối đoái vàng
Chế độ bản vị hối đoái vàng cùng được áp dụng trong một quãng thời gian
tương tự như chế độ bản vị vàng thỏi. Cũng có những quy định tương tự như
chế độ bản vị vàng thỏi, điểm khác biệt là các loại tiền ngân hàng trong chế
độ này sẽ không được chuyển ra vàng mà chuyển ra ngoại tệ của nước thực
hiện chế độ bản vị vàng thỏi. Việc chuyển đổi này cũng không được thực
hiện tự do mà phải thực hiện với một số lượng đủ lớn.
Năm 1914, đại chiến Thế giới thứ nhất nổ ra buộc các nước chấm dứt
chuyển đổi các đồng tiền của mình ra vàng. Hệ thống tỷ giá cố định đã hoạt
động trong suốt 35 năm phải nhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi. Nước
Mỹ vẫn duy trì chuyển đổi đôla ra vàng, nhưng bởi vì các đồng tiền khác đã
không còn được tự do chuyển đổi ra đôla, do đó đôla thực chất cũng được
thả nổi với các đồng tiền còn lại.
Trong thời gian xảy ra đại chiến Thế giới lần thứ nhất, do các chính phủ thay
đổi chính sách tiền tệ nhằm tài trợ cho chiến tranh đã làm cho lạm phát bùng
nổ. Do Mỹ tham gia cuộc chiến muộn hơn (1917) và trung tâm tàn phá của
cuộc chiến là châu Âu, nên lạm phát ở chấu Âu cao hơn ở Mỹ. Kết quả là
sức cạnh tranh thương mại quốc tế của Mỹ tăng lên nhanh chóng. Hơn nữa,
do đôla được chuyển đổi ra vàng, trong khi các đồng tiền khác thì không, đã
làm tăng sự hấp dẫn đầu tư vào các tài sản ghi bằng đôla. Đôla ngày càng trở
thành đồng tiền có vị thế trong các giao dịch quốc tế. Tất cả những nhân tố
này đều làm tăng cầu về đôla; và kết quả là làm tăng luồng vàng ròng chảy
vào Mỹ làm cho dự trữ bằng vàng của Mỹ tăng lên nhanh chóng.
17
Sau cuộc chiến, các nước châu Âu tiếp tục thả nổi đồng tiền và hầu hết các
đồng tiền đã bị phát giá đáng kể so với đôla. Thả nổi đồng tiền chỉ được xem
như biện pháp tình thế tạm thời. Vấn đề chính trong thời gian này là: nên ấn
định bản vị vàng của đồng tiền quốc gia ở mức nào. Nhiều cuộc tranh luận
nổ ra xung quanh vấn đề có nên chọn mức bản vị vàng trước khi chiến tranh

Hệ thống tiền tệ Bretton Woods (BWS)
Động cơ tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới là để tránh sự tan rã của các
mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế như đã từng xuất hiện vào những
năm 1930. Vào những năm 1920, nước Đức dã từng chứng kiến những cuộc
lạm phát phi mã và vào năm 1929 nước Mỹ phải đứng nhìn sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán, đây là tín hiệu báo trước một cuộc đại suy thoái sẽ diễn
ra trên quy mô toàn thế giới. Trong những năm 1930 được đánh dấu bằng sự
mất cân đối nghiêm trọng trong thương mại quốc tế, khiến cho hầu hết các
nước buộc phải áp dụng các chính sách như: bảo hộ mậu dịch, thiểu phát,
phá giá tiền tệ, và thay đổi bản vị vàng. Năm 1944, trong một bản báo cáo có
sức thuyết phục trước Liên đoàn các dân tộc (League of Nations), Ragnar
Nurke lý luận rằng những gì đã trải qua cho thấy chế độ tỷ giá thả nổi không
khuyến khích mà trái lại nó luôn kìm hãm phát triển thương mại quốc tế, làm
cho phân bố các nguồn lực trở nên không hiệu quả, và nhìn chung đây là chế
độ không có tính ổn định do các hoạt đông của đầu cơ tư nhân.
Những đặc điểm của Bretton Woods
- Hệ thống chế độ tỷ giá là cố định nhưng có thể điều chỉnh.
19
- Hình thành hai tổ chức quốc tế mới là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International
Monetary Fund – IMF) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế
(International Bank for Recostruction and Development – IBRD) và thường
được gọi tắt là Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB).
Nhiệm vụ của IMF là theo dõi và giám sát BWS, còn nhiệm vụ ban đầu của
WB là trợ giúp công cuộc tái thiiết những nền kinh tế châu Âu bị chiến tranh
tàn phá. Trong thực tế, WB được bao gồm hai tổ chức là IBRD và Hiệp hội
Phát triển Quốc tế (International Development Association – IDA); Hiệp hội
có vai trò là huy động vốn từ nước giàu để cho vay lại các nước nghèo kém
phát triển (Less Developed Countries – LDCs) với những điều kiện ưu đãi
về lãi suất. Một tổ chức thứ ba là Công ty Tài chính Quốc tế (International
Finance Corporation – IFC); IFC được gắn với WB và cung cấp các dịch vụ

Điều này xẩy ra vì sau chiến tranh năng lực xuất khẩu của châu Âu bị tàn
phá, mặt khác nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất vài
tài thiết đất nước lại tăng lên. Năm 1949, Mỹ tuyên bố trợ cấp một khoản
trọn gói cho các nền kinh tế châu Âu (trợ cấp Marshall). Sự ra đời của “Tổ
chức hợp tác kinh tế châu Âu – OEEC” (sau trở thành “Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế - OECD”) đã giúp giải quyết được vấn đề thiếu hụt USD,
góp phần thúc đẩy và phát triển quá trình tự do hóa thương mại làm cho
thương mại châu Âu phát triển mạnh mẽ.
21
Tuy nhiên, trong quá trình tích lũy USD, nhiều NHTW nước ngoài đã tiến
hành chuyển đổi USD ra vàng dẫn đến một dòng vàng chảy ra khỏi nước
Mỹ.
Vào năm 1954, thị trường vàng ở London được mở cửa trở lại cho các nhà
buôn tư nhân. Trong năm 1961, do có đầu cơ xung quanh vấn đề USD phá
giá so với vàng, làm cho vàng chịu sức ép lên giá liên tục. Mục đích của
thỏa hiệp này là tăng cung ứng vàng trên thị trường tư nhân khi nhu cầu
vàng tăng nhằm duy trì giá vàng chính thức ổn định ở mức $35/ounce. Vào
năm 1965, tổng thống Pháp De Gaulle đã đọc bài diễn văn ca ngợi những ưu
điểm của vàng trên cơ sở so sánh với USD; sau bài diễn văn này cả nước
Pháp bắt đầu chuyển đổi USD thành vàng tại các NHTW Mỹ. Vào năm
1967, người ta phát hiện ra rằng tài snr nợ của Mỹ bằng USD đã vượt quá số
vàng dự trữ hiện có; do đó, nếu các NHTW nước ngoài tiếp tục đổi USD dự
trữ của mình ra vàng thì đồng nghĩa với sự sụp đổ của BWS. Để tránh cho
BWS khỏi sụp đổ, các NHTW đã thỏa thuận với nhau răng sẽ không tiếp tục
chuyển đổi USD dự trữ ra vàng nữa. Ngoài ra, các NHTW cũng quyết định
từ bỏ can thiệp lên giá vàng trên thị trường tư nhân. Như vậy, từ đây đã hình
thành hai loại giá vàng: giá vàng chính thức vẫn duy trì $35/ounce và giá
vàng tự do được thả nổi theo cung cầu trên thị trường.
Trong những năm đầu 1960, cán cân thanh tóan của Mỹ tương đối ổn định,
nhưng vào giữa những năm 1960 cùng với sự dính líu vào cuộc chiến tranh

kết quả tổng hợp của tình hình tài chính – tiền tệ, mức độ tin tưởng lạc quan
hay bi quan của công chúng về nền kinh tế, về các biến cố chính trị, quân sự
tại thời điểm đó. Nhưng trước hết, về cơ bản, giá vàng được cân bằng giữa
hai lực lượng chủ yếu: số cung và số cầu về vàng.
3.1 Mức cung về Vàng
Mức cung về vàng của thế giới bao gồm các nguồn chính: sản lượng của các
nước ngoài khối XHCN, số lượng bán của các nước XHCN, số lượng giao
dịch về vàng của các nước có dự trữ mạnh, sự tuần hoàn của các ngành công
nghiệp có sử dụng vàng.
3.1.1. xu hướng chung của mức cung
- Từ 1970 – 1987, mức cung đã tăng từ 1.034 tấn/năm lên 1.606 tấn/năm,
tăng 55%. Nhìn chung, mức phát triển của các hầm mỏ không đều: gia tăng
mạnh vào đầu thời kỳ và sau đó dừng lại ở mức ổn định 1.200 tấn/năm. Các
nguồn cung khác cũng biến động ít nhiều qua các năm với nhiều nguyên
nhân khác nhau.
- Chi phí khai thác vàng của các hầm mỏ quan trọng là nhân tố chủ yếu của
giá vàng thế giới. Nam Phi khai thác được khoảng 40-50% sản lượng vàng
hầm mỏ với giá thành khoảng 200USD/oz. Còn 95% sản lượng vàng hầm
mỏ của toàn thế giới năm 1996 có giá thành bình quân khoảng 300USD/oz.
3.1.2. Mức khai thác hầm mỏ của các nước có sản lượng lớn
- Nam Phi khai thác vàng nhiều nhất thế giới từ năm 1905, đạt xấp xỉ 40-
50% sản lượng vàng khai thác hàng năm của thé giới. Hiện nay, 40 mỏ ở
Nam Phi đang được sáu nhóm tài chính Anh – Mỹ (dưới hình thức tập đoàn)
24
tham gia khai thác chéo bằng cách hoạt động hỗ trợ nhau. Nam Phi có mỏ
Witwatersrand là mỏ vàng lớn nhất thế giới, với trữ lượng hàng trăm nghìn
tấn, được phát hiện từ năm 1884 và được khai thác liên tục từ đó đến nay.
Sản lượng khai thác trung bình mỗi năm lên đến 350 tấn.
- Canada, nước khai thác vàng đứng thứ hai sau Nam Phi. Năm 1987 đã
cung ứng cho thị trường 120 tấn. Suốt thập niên 70, mức thuế không ổn định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status