Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, trên phạm vi toàn cầu, du lịch phát triển mạnh, tạo
điều kiện cho cơ sở lưu trú du lịch phát triển cả số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của khách du lịch. Du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của
nhiều quốc gia nói chung và đất nước Việt Nam của chúng ta nói riêng. Do vậy, trong
quảng bá thu hút khách, trong kinh doanh lưu trú và du lịch, cạnh tranh ngày càng trở
nên khốc liệt giữa các đơn vị, tổ chức trong và ngoài nước hoạt động kinh doanh cùng
lĩnh vực nói trên.
Trong môi trường kinh doanh các doanh nghiệp dường như không biết mệt mỏi
trong những nỗ lực khai thác và tìm kiếm khách hàng, cố gắng tìm hiểu về họ, nắm bắt
thông tin từ đối thủ cạnh tranh và biết tận tường về doanh nghiệp mình để có thể hoạch
định một chiến lược marketing đầy tính sáng tạo và hiệu quả nhằm thỏa mãn tốt nhất
mong muốn của khách hàng, thậm chí hơn cả những gì mà khách hàng mong đợi.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện công tác truyền thông trong
hoạt động kinh doanh du lịch khách sạn - dịch vụ lưu trú và nhà hàng, cùng với nguyên
do thực tế là từ ngày thành lập đến nay, công ty TNHH MTV Thái Ninh đã thực hiện
công tác này nhưng chưa thực sự được đầu tư và quan tâm đúng mức, nên hiệu quả tác
động chưa cao.Vì vậy, việc xây dựng chương trình truyền thông cổ động cho Công ty,
Khách sạn Thái Ninh nhằm thu hút khách đến với Khách sạn là việc làm cần thiết, với
hy vọng góp phần phát triển và đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh của Khách sạn Thái
Ninh.
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
I. Lý do chọn đề tài
Qua thời gian thực tập tại công ty, tôi nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa thiết
thực của vấn đề truyền thông cổ động và đi đến việc nghiên cứu và chọn đề tài: “Giải
pháp cổ động truyền thông nhằm thu hút khách hàng hướng đến nâng cao
hiệu quả kinh doanh tại khách sạn Thái Ninh” để làm chuyên đề tốt nghiệp cho
mình. Với hy vọng sẽ củng cố được kiến thức đã lĩnh hội, từ hoàn cảnh thực tế có thể
vận dụng được để triển khai đề tài trên thật sự có ý nghĩa thực tiễn góp phần nâng tầm
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động truyền thông cổ động với các công cụ
quảng cáo, xúc tiến bán, quan hệ công chúng, marketing trực tiếp và bán hàng trực tiếp.
4. Phạm vi đề tài nghiên cứu
Với kiến thức thực tế của bản thân và giới hạn của thời gian thực tập còn hạn chế
nên chuyên đề chỉ dừng lại nghiên cứu một số giải pháp trong việc xây dựng chính sách
truyền thông cổ động cho sản phẩm dịch vụ của công ty.
5. Tên đề tài
“Giải pháp truyền thông cổ động nhằm thu hút khách hàng hướng đến nâng
cao hiệu quả kinh doanh tại khách sạn Thái Ninh”
6. Kết cấu của đề tài
Phần 1: Cơ sở lí luận về truyền thông cổ động.
Phần 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và công tác truyền thông cổ động tại
khách sạn Thái Ninh.
Phần 3: Một số giải pháp truyền thông cổ động nhằm thu hút khách hàng hướng
đến nâng cao hiệu quả kinh doanh tại khách sạn Thái Ninh.
Quảng Trị, tháng 11 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Lê Ngọc Quang
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG CỔ ĐỘNG
I. QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG
1. Khái niệm
Truyền thông cổ động là một thành phần trong bốn phối thức tiếp thị: sản phẩm,
giá cả, phân phối và truyền thông cổ động. Truyền thông cổ động là những hoạt động
làm thay đổi lượng cầu trên những động tác trực tiếp hoặc gián tiếp lên tâm lý và thị
hiếu của khách hàng.
Marketing
trực tiếp
Khuyến mãi
Quan hệ công
chúng
Bán hàng trực
tiếp
Quảng cáo
Marketing
trực tiếp
Khuyến mãi
Quan hệ công
chúng
Bán hàng trực
tiếp
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
Quảng cáo (Advertising): là bất kì một hình thức khuếch trương các ý tưởng sản
phẩm hoặc dịch vụ do một người (tổ chức nào đó muốn quảng cáo chi tiền ra để thực
hiện.
Marketing trực tiếp (direct marketing): là hình thức sử dụng thư tín, điện thoại
và những công cụ liên lạc gián tiếp khác để thông tin khác để thông tin cho khách hàng
hiện có và khách hàng tiềm năng hay yêu cầu họ có phản ứng đáp lại.
Kích thích tiêu thụ (sale promotion): Những hình thức thưởng trong thời gian
ngắn để khuyến khích dùng thử hay mua một sản phẩm hay dịch vụ.
Quan hệ công chúng và tuyên truyền (public relation and publicity): bao gồm
các chương trình khác nhau được thiết kế nhằm đề cao hay và bảo vệ hình ảnh một
doanh nghiệp hay những sản phẩm và dịch vụ nhất định nào đó.
Bán hàng trực tiếp (personal selling): là hình thức giao tiếp trực tiếp với khách
hàng tương lai nhằm mục đích bán hàng.
Hình 2: Mô hình 5 công cụ truyền thông
hay người có ảnh hưởng. Công chúng có thể là những cá nhân, nhóm, một giới công
chúng cụ thể hay công chúng nói chung. Công chúng mục tiêu sẽ ảnh hưởng quan trọng
đến quyết định của người truyền thông về chuyện nói gì, nói như thế nào, nới ở đâu và
nói cho ai.
2. Xác định mục tiêu truyền thông
Một khi xác định được công chúng mục tiêu và những đặc điểm của nó thì người
truyền thông marketing phải quyết định về những phản ứng đáp lại mong muốn của
công chúng. Tất nhiên phản ứng đáp lại là làm cho người mua mua hàng hài lòng.
Những hành vi mua hàng là kết quả cuối cùng của một quá trình rất dài để thông qua
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 6
Người gửi Mã hóa Giải mã Người nhận
Phương tiện
truyền thông
Thông điệp
Nhiễu tạp
Phản hồi Đáp ứng
Hình 3: Các yếu tố trong quá trình truyền thông
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
quyết định của người tiêu dùng. Người truyền thông marketing cần biết cách làm thế
nào để đưa công chúng mục tiêu lên trạng thái sẵn sàng mua hàng cao hơn.
Người làm marketing có thể tìm kiếm ở công chúng mục tiêu phản ứng đáp lại
về nhận thức, cảm thụ hay hành vi. Nghĩa là người làm marketing có thể muốn khắc sau
vào tâm trí người tiêu dùng một điều gì đó thay đổi thái độ của họ hay thúc đẩy người
tiêu dùng đến chỗ hành động. Có những mô hình khác nhau về phản ứng đáp lại của
người tiêu dùng.
Mô hình
Giai đoạn
Mô hình
“AIDA”
“Mức độ của
Hình 4: Các mô hình mức độ đáp ứng của người tiêu dùng
Ở đây ta giải thiết rằng người mua để tâm rất nhiều vào loại sản phẩm và nhận
thức rõ sự khác biệt của từng sản phẩm đó. Vì vậy ta sẽ sử dụng mô hình “ mức độ hiệu
quả” (nhận thức, cảm thụ hành vi) và mô tả 6 trạng thái sẵn sàng của người mua – biết,
hiểu, thích, chuộng, tin chắc mua.
Biết (Awareness): Người truyền thông trước hết phải nắm được việc công chúng
mục tiêu biết đến sản phẩm hay tổ chức của mình như thế nào. Nếu đa số họ chứ biết gì
về doanh nghiệp và sản phẩm của nó, thì công việc của người truyền thông là tạo cho họ
biết, ít nhất cũng là tên của doanh nghiệp. Điều này có thể làm được bằng một thông
điệp đơn giản có sự lặp đi lặp lại tên này. Tuy vậy việc tạo cho công chúng biết được
thông tin đơn giản cũng đòi hỏi có thời gian
Hiểu (knowledge): Công chúng mục tiêu có thể biết về sản phẩm doanh nghiệp
nhưng có thể chưa thật sự hiểu về chúng. Làm cho công chúng hiểu được doanh nghiệp
và sản phẩm của nó là mục tiêu tiếp theo của người truyền thông
Thích (liking) Nếu công chúng đã hiểu về sản phẩm, liệu họ có nghĩ gì về sản
phẩm ấy. Nếu công chúng tỏ ra không có thiện cảm gì với sản phẩm, thì doanh nghiệp
cần triển khai một chiến dịch truyền thông nhằm gây dựng mối thiện cảm. Và nếu điều
này không đem lại kết quả do sản phẩm còn nhiều khiếm khuyết, thì doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
trước hết phải tìm cách cải tiến sản phẩm. Việc quan hệ với công chúng đòi hỏi phải
“hành động tót đi trước lời nói tốt ”.
Chuộng (preference) Công chúng mục tiêu có thể thích sản phẩm nhưng lại
không ưu chuộng nó hơn sản phẩm khác. Trường hợp này cần khuếch trương những đặc
tính nổi bật của sản phẩm như giá cả, chất lượng và các tính năng khác để thuyết phục
công chúng và làm tăng mức độ ưu chuộng sản phẩm của họ.
Tin chắc (Conviction). Công chúng mục tiêu có thể ưu chuộng một sản phẩm
như không tin chắc rằng mình sẽ mua nó. Công việc của người truyền thông là thiết lập
mục tiêu truyền thông vững chắc rằng quyết định mua sản phẩm đó là đúng đắn.
Mua (purchase) Một số trong công chúng mục tiêu có thể đã tin, nhưng không
hộ của mục tiêu có tính chất xã hội.
3.2. Cấu trúc thông điệp
Hiệu quả của một thông điệp phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc cũng như nội dung
của nó. Người truyền thông phải quyết định có nên đưa ra kết luận rõ ràng, hay để công
chúng tự rút ra kết luận.
3.3. Hình thức thông điệp
Hình thức biểu đạt một thông điệp phải thật sự sinh động để cuốn hút sự chú ý,
quan tâm và dễ thuyết phục người mua. Đối với một ấn phẩm quảng cáo, người tuyên
truyền phải quyết định về tiêu đề, lời lẽ, minh hoạ, màu sức và thể hiện theo cách đề cao
tính lạ thường và tương phản, hình ảnh và tiêu đề lôi cuốn, hình thức khác thường, kích
cỡ và vị trí gây được sự chú ý, hình ảnh sống động,…Nếu truyền qua Radio phải chọn
từ ngữ, cách phát âm và chất lượng giọng đọc (tốc độ đọc, nhịp điệu, cao độ và mức độ
rõ ràng và sức truyền cảm và giọng đọc). Nếu thông điệp được thực hiện trên truyền
hình hay giao tiếp trực tiếp, thì phải cộng thêm vào những yếu tố khác nữa là ngôn ngữ
của hình thể và phong cách (những gợi ý không lời),
Nếu thông điệp được truyền qua sản phẩm hay bao bì thì cần lưu ý đến cách sắp
đặt hương thơm, màu sắc và kích thước và kiểu dáng sản phẩm và bao bì.
3.4. Nguồn thông điệp
Sự tác động của thông điệp đối với người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng bởi việc
họ cảm nhận về người gửi như thế nào. Các thông điệp được gửi từ những nguồn đáng
tin cậy thì có tính thuyết phục cao.
Có ba yếu tố thường được thừa nhận là làm tăng mức độ đáng tin cậy của nguồn:
Tính chuyên môn biểu thị mức độ mà người truyền thông có được thẩm quyền để ủng
hộ một luận điểm. Tính đáng tin liên quan đến việc nguồn được cảm nhận có mức độ
khách quan và trung thực ra sao. Tính khả ái thể hiện mức hấp dẫn của nguồn truyền tải
thông điệp đối với công chúng. Vì vậy nguồn hữu hiệu nhất là nguồn đạt mức độ cao
trong cả ba yếu tố nói trên.
4. Chọn lựa phương tiện truyền thông
Người truyền thông bây giờ phải chọn lựa các kênh truyền thông có hiệu quả để
truyền tải thông điệp đó. Kênh truyền thông có hai loại: kênh trực tiếp và kênh gián tiếp.
ghi hình, đĩa ghi hình, internet) và những phương tiện trứng bày (Pa nô, bảng hiệu, áp
phich). Hầu hết các thông điệp gián tiếp đều trải qua các phương tiện truyền thông có trả
tiền.
Bầu không khí là môi trường tạo ra hay củng cố thiện cảm của người mua đối
với việc mua sắm sản phẩm.
Sự kiện là những biện pháp tổ chức nhằm truyền đạt đi những thông điệp cụ thể
cho công chúng mục tiêu. Phòng quan hệ công chúng tổ chức những buổi họp báo, lễ
khai trương và bảo trợ hoạt động thể thao tạo ra những hiệu quả truyền thông đặc biệt
đối với công chúng mục tiêu.
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
5. Xây dựng ngân sách cổ động
Có bốn phương pháp phổ biến được xác định để xác định ngân sách cổ động
5.1. Phương pháp căn cứ vào khả năng ngân sách dành cho cổ động
Nhiều doanh nghiệp xác định ngân sách cổ động ở mức mà họ có thể dành cho
hoạt động này.
Phương pháp xác định ngân sách này hoàn toàn bỏ qua vai trò của cổ động như
một khoản đầu tư và ảnh hưởng tức thời của cổ động đến khối lượng tiêu thụ. Nó dẫn
đến một ngân sách cổ động hằng năm không xác định, gây khó khăn cho việc lập kế
hoạch truyền thông dài hạn.
5.2. Phương pháp tỉ lệ phần trăm theo doanh thu
Phương pháp này có ưu điểm: Thứ nhất, nó có nghĩa là chi phí cổ động sẽ thay
đổi tuỳ theo khả năng của doanh nghiệp. Điều này thoả mãn được những nhà quản trị tài
chính có quan điểm “ Chi phí phải gắn chặt với biến động mức tiêu thụ của doanh
nghiệp trong chu kì kinh doanh ”. Thứ hai, nó khuyến khích ban lãnh đạo nghĩ đến mối
liên hệ giữa chi phí cổ động, giá bán và lợi nhuận trên đơn vị sản phẩm. Thứ ba, nó
khuyến khích ổn định cạnh tranh ở mức độ mà các doanh nghiệp chi cho cổ động một tỉ
lệ phần trăm doanh thu của mình xấp xỉ ngang nhau.
Mặc dù vậy phương pháp này cũng có một số nhược điểm. Nó dẫn đến chỗ xác
định ngân sách căn cứ vào ngân quỹ hiện có chứ không phải theo những cơ hội của thị
thiết của mình về mối quan hệ với giữa tổng chi phí, mức độ tiếp xúc, tỉ lệ dùng thử và
mức sử dụng thường xuyên
6. Quyết định về hệ thống cổ động
Mỗi công cụ cổ động lại có những điểm đặc thù riêng và chi phí của nó. Người
làm marketing phải nắm được những đặc điểm này khi lựa chọn chúng
6.1. Đặc điểm của các công cụ cổ động
6.1.1 .Quảng cáo
Do có nhiều hình thức và cách sử dụng quảng cáo, nên khó có thể khái quát hoá
đầy đủ những điểm đặc thù của nó với tính cách là yếu tố cấu thành của hệ thống cổ
động. Nhưng dù sao thì cũng có thể nêu lên một số đặc điểm của hệ thống cổ động như
sau:
Tính đại chúng. Quảng cáo là một hình thức truyền thông mang tính đại chúng
rất cao.. Vì nhiều người nhận được một thông điệp như nhau, nên người mua biết rằng
mọi người cũng sẽ hiểu được động cơ mua sản phẩm đó của họ.
Tinh sâu rộng. Quảng cáo là một phương tiện truyền thông rất sâu rộng, cho
phép người bán lặp lại một thông điệp nhiều lần. Nó cũng cho phép người mua nhận và
so sánh thông điệp của các đối thủ cạnh tranh.
Tính biểu cảm. Quảng cáo tạo ra những cơ hội để giới thiệu doanh nghiệp với
những sản phẩm của nó bằng cách sử dụng khôn khéo hình ảnh, âm thanh và màu sắc.
Tuy nhiên đôi khi tác dụng biểu cảm rất mạnh của công cụ này có thể làm mờ nhạt hay
đánh lạc hướng sự sự chú ý của thông điệp.
Tính chung. Quảng cáo không thể có tính chất ép buộc như trường hợp đại diện
bán hàng của doanh nghiệp. Công chúng không cảm thấy mình có bổn phận phải chú ý
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
hay hưởng ứng. Quảng cáo chỉ có thể thực hiện độc thoại chú không phải đối thoại với
công chúng.
Quảng cáo có thể sử dụng để tạo ra một hình ảnh lâu bền cho một sản phẩm, hay
đế kích thích tiêu thụ nhanh (Quảng cáo đối với siêu thị đối với đợt bán hàng cuối tuần).
Quảng cáo là một phương thức có hiệu quả để vươn tới nhiều người mua phân tán về
thiệu cụ thể doanh nghiệp hay sản phẩm.
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
6.1.5. Bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp là một công cụ có hiệu quả nhất về chi phí trong những giai đoạn
cuối của quá trình mua sắm, đặc biệt là trong việc tạo dựng sự ưa thích của người mua,
niềm tin và dẫn tới hành động mua hàng. Các đặc điểm của bán hàng trực tiếp:
- Trực diện: bán hàng trực tiếp đòi hỏi phải sinh động, trực tiếp và qua lại giữa hai hay
nhiều người. Mỗi bên tham dự có thể nghiên cứu trực tiếp những nhu cầu và đặc điểm
của nhau và có những điều chỉnh tức thời.
- Xây dựng quan hệ: bán hàng trực tiếp cho phép thiết lập nhiều mối quan hệ, từ quan hệ
mua bán thông thường đến quan hệ bạn bè thân thiết. Những người đại diện bán hàng
giỏi thường phải thực lòng quan tâm đến khách hàng, nếu họ muốn quan hệ lâu dài.
- Phản ứng đáp lại: bán hàng trực tiếp làm cho người mua thấy có bổn phận lắng nghe
lời chào hàng. Người mua cần phải chú lắng nghe và đáp lại cho dù chỉ là một lời cảm
ơn lịch sự.
6.2. Những yếu tố quyết định sự thay đổi của hệ thống truyền thông cổ
động
Khi xây dựng hệ thống cổ động của mình các doanh nghiệp thường chú ý đến
một số yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống này.
6.2.1. Kiểu thị trường sản phẩm
Tầm quan trọng của các công cụ cổ động rất khác nhau trên thị trường hàng tiêu
dùng và thị trường tư liệu sản xuất. Các doanh nghiệp hàng tiêu dùng đánh giá theo thứ
tự quảng cáo, khuyên mãi, bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng. Các doanh nghiệp
hàng tư liệu sản xuất đánh giá theo thứ tự bán hàng trực tiếp, khuyến mãi, quảng cáo và
quan hệ công chúng.
Trên thị trường tư liệu sản xuất quảng cáo không quan trọng bằng viếng thăm
chào hàng, tuy nhiên nó vẫn giữ một vai trò đáng kể. Quảng cáo có thể thức hiện bằng
những chức năng sau.
Tạo sự biết đến. Các khách hàng tiềm năng chưa biết đến doanh nghiệp hay sản
người sử dụng cuối cùng.
Chiến lược kéo đòi hỏi hoạt động marketing (chủ yếu là quảng cáo và khuyến mãi
đối với người tiêu dùng) hướng vào người sử dụng cuối cùng để kích thích họ yêu cầu
những người trung gian cung ứng sản phẩm và nhờ vậy kích thích những người trung
gian đặt hàng của nhà sản xuất.
6.2.3. Giai đoạn sẵn sàng của người mua
Các công cụ cổ động có hiệu quả chi phí khác nhau trong các giai đoạn sẵn sàng
khác nhau của người mua.
Quảng cáo và tuyên truyền giữ vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn biết đến,
Sự hiểu biết đầy đủ của khách hàng chịu tác động chủ yếu của quảng cáo và bán hàng
trực tiếp. Việc tái đặt hàng cũng chịu tác động chính của bán hàng trực tiếp và khuyên
mãi, và một phần nào đó của quảng cáo nhắc nhở. Rõ ràng là quảng cáo và tuyên truyền
có hiệu quả của chi phí lớn nhất trong những giai đoạn đầu của quá trình thông qua
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 15
Người sản xuất Người trung gian Người tiêu dùng
Người sản xuất Người trung gian Người tiêu dùng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
quyết định của người mua, còn bán hàng trực tiếp và khuyến mãi thì có hiệu quả nhất
trong các giai đoạn cuối.
Hình 6: Hiệu quả của chi phí các công cụ cổ động trong các giai đoạn sắn
sàng của người mua
Khuyến mãi
Bán hàng trực tiếp
Quảng cáo và tuyên truyền
Biết Hiểu Đặt hàng Tái đặt hàng
6.2.4. Giai đoạn trong chu kì của sản phẩm
Các công cụ khuyến mãi cũng có hiệu quả của chi phí khác nhau trong những
giai đoạn khác nhau của chu kì sống của sản phẩm . Hình là đồ thị suy đoán hiệu quả
tương đối của chúng.
Hình 7: Hiệu quả của chi phí các công cụ khuyến mãi trong các
công chúng, chẳng hạn thống kế số lượng người đã mua và tiêu thụ sản phẩm, xem họ
có yêu thích sản phẩm của công ty và nói chuyện với người khác về sản phẩm đó hay
không?!.
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
PHẦN II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÔNG TÁC TRUYỀN
THÔNG CỔ ĐỘNG TẠI KHÁCH SẠN THÁI NINH
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THÁI NINH
1. Sơ lược quá trình hình thành công ty
Khách sạn Thái Ninh được xây dựng và chính thức đi vào hoạt động 9/7/2005
với quy mô 05 tầng gồm 55 phòng ngủ, trong đó có 03 phòng sang trọng (VIP), 05
phòng Deluxe và 47 phòng tiêu chuẩn.
Ngoài ra còn có các dịch vụ bổ sung; nhà hàng, khu nhà hành chính, Hội trường,
quầy bar – café, nhà massage – sauna, karaoke.
Tọa lạc tại trung tâm thị trấn Khe Sanh, Hướng Hóa, Quảng Trị. Nơi có hệ thống giao
thông đường bộ hoàn chỉnh, quốc lộ 9 đi qua, trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây
(EWEC), đường Hồ Chí Minh huyền thoại, thuộc cụm du lịch Đakrông- Rào Quán- Khe Sanh.
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cộng với tiềm năng từ cửa khẩu
và Khu vực khuyến khích phát triển kinh tế thương mại du lịch dịch vụ.
Trụ sở:
CÔNG TY TNHH MTV TH I NINHÁ
Thai Ninh Hotel
Address: 170 L Du n, ã áø Thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng
Trị
Tel : 053.3781.994 Fax: 053. 3781.992
Email :
[email protected]
Số TK: 3907201002291 tại ngân hàng NN&PTNT Việt Nam, chi nhánh Hướng Hóa
Mã số thuế (MST): 3200316856.
- Giám đốc: Là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của khách sạn, là người điều
hành tất cả các bộ phận của khách sạn và tổ chức quản lý điều hành trong khuôn khổ.
Giám đốc là người đại diện cho khách sạn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- Phòng nhân sự: Chịu trách nhiệm về tham mưu, đề xuất ý kiến giúp giám đốc
quản lý công tác tổ chức hành chính thi đua khen thưởng, bảo vệ nội bộ quản lí nhân
viên công ty. Tuyển dụng đào tạo bồi dưỡng lao động, xây dựng nội quy, quy định kiểm
tra đôn đốc hướng dẫn các bộ phận khác trong công ty. Tổng hợp các báo cáo cho lãnh
đạo.
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 19
Kỹ thuật
Câu lạc bộ
P. Kế toán
Bảo
vệ
Lễ tân Buồng
Nhà
hàng
Bar-Café
Giám đốc
P. Kinh Doanh
P.HC Nhân sự
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
- Phòng Kinh doanh:
+ Có chức năng tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, khách hàng, trợ
giúp Giám đốc khách sạn trong việc xây dựng chiến lược và chính sách kinh doanh.
+ Lập ra các kế hoạch, xây dựng các danh mục sản phẩm dịch vụ phù hợp với
từng loại thị trường trong từng thời kỳ kinh doanh khách sạn. Có chức năng hoạt động
hạch định nhân sự, tuyển dụng, bố trí và sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng, đánh giá nhân
viên, giúp giám đốc lập ra những công việc cụ thể thể khách sạn.
- Phòng kế toán: Phụ trách vấn đề ngân quỹ, theo dõi thu - chi, thực hiện các
công cụ dụng cụ hữu hiệu hơn, thực hành tiết kiệm điện, nước…để hạn chế chi phí thấp
nhất có thể mà không ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ. Tổ chức quản lí và giữ gìn
hành lí của khách khi bị để quên, kịp thời thông báo với lễ tân để tìm biện pháp trả kịp
thời cho khách. Kiểm tra và duy trì số liệu cần thiết về tình khách, về hệ thống buồng,
về các dịch vụ phát sinh để giúp đối chiếu với lễ tân và cải tạo bảo dưỡng buồng. Thiết
lập mối quan hệ và phối hợp với các bộ phận khác trong toàn hệ thống khách sạn để xúc
tiến dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ.
- Bộ phận nhà hàng: Đảm nhận tất cả các công việc từ phục vụ khách ăn uống
hàng ngày cho đến các bữa tiệc lớn nhỏ. Thực hiện chức năng tiêu thụ và bán hàng, đưa
ra thực đơn giới thiệu các món ăn và thuyết phục khách hàng sử dụng. Nghiên cứu nhu
cầu ăn uống của khách, tổ chức chế biến phục vụ các loại thực đơn phù hợp với từng
loại khách. Quảng cáo khuếch trương các dịch vụ ăn uống trong khách sạn. Bảo đảm
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo uy tín chất lượng của khách sạn và
thỏa mãn mọi nhu cầu của khách về ăn uống. Chịu trách nhiệm quản lý nhà hàng, chịu
trách nhiệm trước ban Giám đốc khách sạn nếu có sự phàn nàn của khách về chất lượng
các món ăn, về vệ sinh cũng như tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên.
- Bar & Café: Phục vụ các nước uống và phục vụ khách đi lẻ và khách không lưu
trú tại khách sạn.
- Bộ phận kỹ thuật: Kiểm tra sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị kỹ thuật điện
nước, cơ sở vật chất trong khách sạn nhằm đảm bảo các hoạt động trong khách sạn diễn
ra một cách thường xuyên và đồng bộ. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc lắp đặt các
trang thiết bị kỹ thuật hay đề xuất sửa chữa, bảo dưỡng với Giám đốc.
- Bộ phận câu lạc bộ: có chức năng cung cấp một số dịch vụ bổ sung phục vụ
nhu cầu vui chơi giải trí, thư giản ăn uống nhẹ của khách. Bộ phận này có các hoạt động
như bóng bàn, bi da, phòng tập thể hình, phòng tắm hơi sauna, massage, ti vi với các
kênh truyền hình quốc tế, Karaoke. Hiện nay khách sạn đang muốn mở rộng quy mô
hoạt động câu lạc bộ như bể bơi, sân tenis, phòng tập thể dục thẩm mỹ,…Đây cũng là
những dịch vụ hết sức quan trọng nó không chỉ làm tăng thêm doanh thu của khách sạn
mà còn tạo ra cho khách sạn có được sản phẩm với sự trọn gói cao, thu hút ngày càng
nhiều khách đến với khách sạn.
ốp gỗ và trải thảm, khu vực tiền sảnh, nhà hàng, bếp, massage & sauna và phòng tập.
Khối siêu thị miễn thuế và phòng hội thảo trên 300 chỗ ngồi. Khách sạn được thiết kế
cầu thang bộ, cầu thang máy riêng dành cho khách và nhân viên, có phương tiện cứu
hỏa, hệ thống PCCC tự động hiện đại và cầu thang cứu hộ thoát hiểm phòng sự cố bảo
đảm sự an toàn về người và tài sản của khách và toàn bộ công ty.
Bộ phận lễ tân: được trang bị phương tiện làm việc, ineternet, điện thoại ở sãnh
lễ tân phòng chờ lounge phục vụ đón khách.
Bộ phận lưu trú:
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
Khách sạn gồm có:
STT Loại phòng/Room
Đơn giá/Price
(VNĐ)
Ghi chú
1 Phòng ngủ VIP ( 01 giường Double)) 900,000.00/ đêm 03 phòng
2 Phòng ngủ Deluxe ( 01 giường Double) 600,000.00/ đêm 05 phòng
3 Phòng ngủ Twin (02 giường single) 250,000.00/ đêm 47 phòng
Tổng cộng
Các trang thiết bị trong phòng:
Trang thiết bị Phòng ngủ
VIP
Phòng ngủ
Deluxe
Phòng ngủ Twin
Ti Vi cab x x x
Điện thoại bàn x x x
Máy điều hòa x x x
Tủ lạnh – Quạt đá x x x
Tủ quần áo x x x
Buồng 5 1 20 3 60 1 20
Nhà hàng 9 1 11.1 7 77.8 1 11.1
Bar – café 6 1 16.7 4 66.6 1 16.7
Câu lạc bộ 10 3 30 7 70
Kỹ thuật 1 1 100
Bảo vệ 3 3 100
Tổng cộng 47 8 17 8 17 28 59.6 3 6.4
Qua bảng trên ta thấy trình độ đại học tại khách sạn:
Số lượng cán bộ, nhân viên có trình đại học gồm có 08 người chiếm 17% số
lượng lao động trong khách sạn. Tập trung chủ yếu là bộ phận không trực tiếp sản xuất
dịch vụ. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì do tính chất công việc của các bộ phận này đòi
hỏi có trình độ cao.
Lao động có trình độ bậc cao đẳng: 08 người trong đó có 02 nhân viên làm tại bộ
phận kế toán, số còn lại công ty bố trí trong các bộ phận ( Lễ tân, buồng, nhà hàng, bar –
café…) với chức danh trưởng bộ phận.
Lao động có trình độ trung cấp gồm 28 người và lao động trình độ phổ thông
gồm có 03 người: như vậy lực lượng lao động trong làm việc tại khách sạn Thái Ninh có
trình độ trên chiếm 66% tổng số lao động đặc biệt ở các bộ phận lao động trực tiếp như:
Nhà hàng, câu lạc bộ, bar – café ...
Kết luận: Lực lượng lao động của khách sạn hiện nay chiếm phần lớn là lao động nữ
do đặc thù kinh doanh ngành khách sạn và du lịch vì vậy đội ngũ nhân viên nữ chiếm phần lớn
trong tổng số lao động. Trong thời gian qua khách sạn Thái Ninh cũng thường xuyên tổ chức
các khoá huấn luyện nhằm nâng cao nghiệp vụ kỹ năng làm việc trong ngành cho đội ngũ nhân
viên này.
Mặt khác công ty cũng thường xuyên tổ chức những chương trình tái đào tạo, cũng như
tạo điều kiện và hỗ trợ cho các cán bộ quản lý trong công ty học tập, nâng cao trình độ tiếp cận
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Bích Thu
với những phương pháp quản lý hiện đại nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của quá trình cạnh
tranh và hội nhập và phát triển.
Từ những phân tích trên cho thấy môi trường kinh tế rất quan trọng trong việc
thu hút nguồn khách không là việc làm riêng cho khách sạn Thái Ninh, toàn tỉnh Quảng
Trị mà còn cả nước nói chung.
- Môi trường chính trị pháp luật:
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Quang Trang 25