Hoàn thiện chiến lược quảng cáo tại công ty giày BQ - Pdf 10

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
Xã Hội Chủ Nghĩa. Phát triển nền kinh tế thị trường và việc hội nhập vào nền kinh tế
thế giới là một tất yếu. Trải qua suốt chặng đường đổi mới nền kinh tế nước ta đã và
đang hình thành một thị trương kinh tế có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh
nghiệp. Thị trường quảng cáo của Việt Nam được dự đoán trong năm 2009 có mức
tăng trưởng 37%, một mức tăng trưởng gấp 6 lần mức tăng trưởng trung bình của thị
trường quảng cáo thế giới (6%), sự cạnh tranh trên thị trương này sẽ trở nên gay gắt
hơn bao giờ hết, sự xâm nhập của các công ty quảng cáo nước ngoài sẽ càng làm thị
trường này nóng bỏng hơn. Điều này cũng cho thây những thay đổi trong nhận thức
của các doanh nghiệp Việt Nam đối với quảng cáo. Công cụ quảng cáo ngày càng được
khai thác mạnh mẽ, triệt để và trở thành công cụ quan trọng, hiệu quả để các doanh
nghiệp quảng bá cho thương hiệu của mình trên thị trường, tạo dựng một chỗ đứng
vững chắc cho thương hiệu của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng. Mặt khác nhận
thức của người tiêu dùng Việt Nam đối với các thông tin quảng cáo cũng đã có những
thay đổi rất lớn. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho các thông tin quảng cáo để có thể đạt được
các mục tiêu của doanh nghiệp càng khắt khe hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp khi xây
dựng và thực hiện các chương trình quảng cáo phải đầu tư có tính chiến lược và hợp lý
hơn.
Công ty giày BQ là công ty 100% vốn sở hửu tư nhân có bề dày hơn 5 năm hoạt
động trong lỉnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu các sản phẩm da giày tiêu thụ trong
nước và xuất khẩu, đã phần nào có được chỗ đứng vững trên thị trường Việt Nam và
dành được tình cảm yêu mến của khách hàng. Quảng cáo đã đóng góp không nhỏ cho
quá trình phát triển đi lên, cho việc quảng bá sản phẩm- thương hiệu, lôi kéo và duy trì
lòng trung thành của khách hàng trong nhiều năm qua của công ty, chúng ta phải thừa
nhận rằng quảng cáo luôn mang lại giá trị lan truyền vô cùng to lớn cho doanh nghiệp.
Tuy vậy các chương trình quảng cáo của công ty BQ vẫn chưa thực sự tạo được những
ấn tượng sâu sắc cho khách hàng, chưa có tính sáng tạo và còn nhiều điểm còn bất cập
trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình quảng cáo.

SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 2 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
5. Ý nghĩa thực tiển của đề tài
Trong đề tài này em chủ yếu phân tích và đánh giá các hoạt động quảng cáo của
công ty giày BQ trong những năm vừa qua, đồng thời qua đó rút ra những ưu và nhược
điểm, điều gì cần được phát huy và loại bỏ để nhằm có các chiến lược quảng cáo hiệu
quả hơn, góp phần nâng cao hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp, tăng khả năng
bán hàng cho công ty.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được cấu trúc thành 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản của hoạt động Quảng Cáo
Chương II: Tổng quan về công ty và thực trạng hoạt động Quảng Cáo
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động Quảng Cáo tại Công ty
giày BQ.
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 3 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO
1.1 Khái niệm về Marketing và quảng cáo
1.1.1 Khái niệm về Marketing
Có nhiều khái niệm xoay quanh đề tài này và có thể nói khái niệm nào cũng nói
lên đúng bản chất vốn có của nó, và chúng ta đi vào từng khái niệm của các tác giả đã
định nghĩa về marketing :
• Tạo ra khách hàng
Chuyển từ quan điểm theo đuổi việc bán hàng sang quan điểm tạo ra khách
hàng. Trước kia, nhà sản xuất hay cung ứng dịch vụ chỉ chạy theo khách hàng, nay họ
biết đi trước, đón đầu để nắm bắt thị hiếu khách hàng, chủ động đáp ứng nhu cầu này.
Thậm chí họ chủ động khơi gợi nhu cầu của khách hàng.
• Chú trọng các mối quan hệ

dụng để đo đếm mức độ thành công của các chiến dịch marketing. Một vài công cụ vẫn
được nhắc đến là:
• Rating
Do các hãng chuyên nghiên cứu thị trường thực hiện. Ở Việt Nam có TNS và
AcNielsen thực hiện các dịch vụ này. Mục tiêu đo đếm và xếp hạng để đánh giá hiệu
quả của các chiến dịch tài trợ, quảng cáo.
• Monitoring
Theo dõi thông tin theo một chuyên đề nào đó được đặt hàng. Các monitoring
này cũng có thể được thực hiện và bán đại trà.
• Phỏng vấn và Điều tra
Thực hiện theo đơ đặt hàng nhằm vào một mục tiêu, chủ đề rõ rệt. Các phỏng
vấn và điều tra này thường đòi hỏi chi phí cao và một lượng lớn nhân lực thực hiện
cũng như phân tích, lập báo cáo.
1.1.2 Khái niệm về quảng cáo
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền, giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ,
công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với
người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 5 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
thông đại chúng để dưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông
tin
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của
người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo
cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.
Trên thế giới, quảng cáo hiện nay đã phát triển tới những trình độ cao, tuy nhiên
ở Việt Nam - do còn nhiều hạn chế - nên đa số các sản phẩm quảng cáo vẫn còn ở trình
độ thấp. Các sản phẩm quảng cáo để có thể đến với khách hàng tiềm năng cần phải
được truyền tải qua cac hương tiện truyền thông, như: báo in, tạp chí, đài phát thanh,
truyền hình, báo điện tử.
Trong số các phương tiện truyền thông kể trên, có thể nói báo điện tử là loại

• Quảng cáo trên tờ rơi, áp phích, pano hay băng-rôn
• Quảng cáo trên bao bì sản phẩm
• Quảng cáo qua gửi thư trực tiếp
• Quảng cáo truyền miệng
• Quảng cáo từ đèn LED
1.1.5 Đánh giá về môi trường quảng cáo tại Việt Nam
1.1.5.1Nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam với quảng cáo
Tuy Quảng cáo chỉ mới xuất hiện trở lại ở Việt Nam từ năm 1990 trở lại đây
trong đời sống kinh tế tiêu dùng của người Việt Nam nhưng theo nghiên cứu mới nhất
của giới chuyên nghành, người tiêu dùng Việt Nam đã hội nhập rất nhanh với xu thế
thời đại. Theo kết quả nghiên cứu của 1000 người tiêu dùng Việt Nam thuộc mọi giới
tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ ở Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Dương và
Vĩnh Long tiến hành vào cuối năm 2007 đến đầu tháng 2/2008 bởi công ty Quảng cáo
Leo Burnett Việt Nam phối hợp với công ty nghiên cứu thị trường NFO Viet Nam cho
thấy một số nhóm người tiêu dùng lĩnh hội và cảm nhận các bản tin, hình thức quảng
cáo ở ngang mức giới tiêu dùng ở vài thị trường láng giềng đã quá quen thuộc với
Quảng cáo từ nhiều thập niên trước như Malaysia và Thái Lan. Trong cuộc nghiên cứu
này người ta phát hiện ra 3 đặc điểm về người tiêu dùng Việt Nam liên quan đến
Quảng cáo:
Sự tiếp nhận nhanh thông tin Quảng cáo: Người tiêu dùng Việt Nam khi được
xem khoảng 50 khúc phim Quảng cáo ngắn trên truyền hình thuộc mọi nguồn gốc sản
xuất nội địa và ngoại quốc, giới thiệu sản phẩm bằng những hình ảnh, lời Quảng cáo từ
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 7 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
mức bình thường đến mức rất chìu tượng thì kết quả cho thấy 6/10 người tiêu dùng
Việt Nam đều nắm trọn bản tin.
Hai là, Người tiêu dùng Việt Nam thường yêu nhân vật trong các đoạn phim
Quảng cáo sau đó mới dùng lý lẽ để giải thích tại sao họ thích khúc Quảng cáo ấy và
sản phẩm ấy.
Ba là, Người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu mua sản phẩm vì biết đến thương

doanh nghiệp trên truyền hình. Từ đó có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt
đầu nhận thức được sức mạnh và tầm quan trọng của Quảng cáo và trên thực tế cũng
đã có rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam đã có những mẫu Quảng cáo hay như của
Biti’s hay Bita's… Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp của Việt Nam
đại đa số họ vẫn chỉ coi Quảng cáo là một cái gì đó thứ yếu trong doanh nghiệp và việc
Quảng cáo có cũng được và không có cũng không sao, đa phần các doanh nghiệp Việt
Nam thực hiện các quảng cáo chỉ nhằm mục đích gây dựng sự chú y, bắt mắt, thú vị
chứ chưa thực sự đi vào bản chất của vấn đề là tạo một chỗ đứng trong tâm trí người
khách hàng tiềm năng. Với các doanh nghiệp Việt Nam thì đa số họ cho rằng việc tạo
chỗ đứng trong tâm trí khách hàng không quan trọng bằng việc tạo chỗ đứng trên thị
trường vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam khi thiết kế các chương trình Quảng cáo
thường có các lỗi sau:
Chọn phương tiện tuỳ tiện: ví dụ như nhiều doanh nghiệp kinh doanh hàng công
nghiệp nhằm tới khách hàng là các doanh nghiệp mà vẫn chạy các Quảng cáo trên
truyền hình, điều này thật quá lãng phí khi phải bỏ ra vài chục triệu đồng cho 30 giây
Quảng cáo mà khách hàng mục tiêu lại không nhiêu người xem truyền hình
Tần suất Quảng cáo: các doanh nghiệp Việt Nam thường thích hoặc làm ăn
được thì tung ra nhiều Quảng cáo còn nếu không hoạc hết thì bỏ ngay mà không quan
tâm đến tác động của Quảng cáo, họ ít có các chiến lược rõ ràng.
Thông điệp Quảng cáo: Thông điệp quảng cáo thì mơ hồ, dài dòng hoặc quá
thô sơ. Ví dụ như trên tấm biển lớn chỉ có tên nhãn hiệu và một câu khẩu hiệu biểu
tượng gây khó hiểu hoặc hình mầu nền quá màu mè làm loãng hình ảnh thương hiệu
trong khi lại có địa chỉ và số điện thoại liên hệ không ai đọc được và nhớ nổi khi đi qua
đường.
Nội dung quảng cáo: Nội dung thì quá ôm đồm, thiếu đồng bộ, tản mạn, ý
tưởng không mạnh, không mạch lạc, không có điểm nhấn. Ví dụ hình ảnh, nhân vật
quảng cáo không thống nhất khi quảng cáo trên báo và truyền hình, kịch bản lãng mạn
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 9 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
không nhấn vào được ý đồ cần quảng cáo khiến người tiêu dùng không tiếp thu và ghi

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
“Các công ty quảng cáo Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Họ nhanh chóng
tích luỹ kinh nghiệm của các đồng nghiệp nước ngoài và áp dụng nhanh chóng những
khái niệm về quảng cáo vào thị trường Việt Nam”, Phó chủ tịch Phòng Thương mại
châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Christian De Ruty nhận định. Theo ông, thuận lợi
lớn nhất của ngành quảng cáo đó là các công ty tư nhân ở Việt Nam ngày một hiểu rõ
tầm quan trọng cũng như sức mạnh của quảng cáo đối với sự sống còn của sản phẩm.
Tuy nhiên, có một thực tế là trong số hơn 1 tỷ USD doanh thu từ quảng cáo mỗi năm
tại Việt Nam, các công ty trong nước chỉ đóng góp 10-20%. Trên 80% còn lại thuộc về
số ít những tập đoàn quảng cáo lớn trên thế giới. “Tại thị trường nội địa, nếu chỉ tính
mảng gia công, thực hiện những công đoạn cuối cùng của quá trình quảng cáo thì các
doanh nghiệp trong nước chiếm tới 90%. Nhưng nếu tính những hợp đồng quảng cáo
lớn nhất, trọn gói thì các doanh nghiệp nước ngoài chiếm tới 90%”, Giám đốc Công ty
cổ phần giải pháp thị trường Hoàng Gia, Ông Hoàng Hải Âu thừa nhận. Nguyên nhân
chính, theo Ông Âu, là do các tập đoàn quốc tế chưa tin vào trình độ nghiệp vụ của các
công ty quảng cáo Việt Nam, vì vậy họ chỉ thuê các công ty nước ngoài. Rất ít doanh
nghiệp Việt Nam nhận được hợp đồng quảng cáo cho những tập đoàn như vậy, và nếu
có cũng chỉ là hợp đồng phụ (sub-contract) thầu lại của một đối tác nước ngoài. “Trong
khi đó, khách hàng chủ yếu là những doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam, họ tin vào
chất lượng quảng cáo trong nước nhưng lại không đủ tiền để trang trải mọi chi phí”
Ông này cho biết thêm. Cũng như Ông Âu, nhiều người trong ngành đều thừa nhận
trình độ chuyên môn của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước đang là một hạn chế
không nhỏ. Ở Việt Nam chưa có trường lớp nào đào tạo chính quy về chuyên ngành
này. Bản thân các công ty khi nhận người đều phải đào tạo lại từ đầu nên phát triển
nhân sự rất chậm. Cũng vì hạn chế về chuyên môn, nhiều đơn vị chỉ dám nhận làm
từng phần, và chỉ mang tính chất gia công nhiều hơn. “Rất nhiều công ty tự gọi là
quảng cáo nhưng thực chất họ chỉ đang gia công quảng cáo. Giai đoạn quan trọng
trước đó là nghiên cứu và xây dựng, sáng tác ra lôgô của các thương hiệu thì không
mấy người tham gia. Đưa sản phẩm vào hoạt động truyền thông đơn giản hơn nhiều”,
giám đốc một công ty quảng cáo khác nhận xét. Nhận thức của các doanh nghiệp sản

trong ngành luôn bị làm khó dễ bới những quy định riêng của mối địa phương. Nếu
như TP HCM có quy định cấm quảng cáo ngoài trời thì ở Đà Nẵng lại phân biệt mức
phí trên không với mức phí dưới nước. “Còn ở Hà Nội, các thủ tục làm giấy phép
quảng cáo đôi khi khó quá. Vì vậy, mới có chuyện các nhà quảng cáo phải tồn tại bằng
cách dựng biển không phép. Chúng tôi chỉ mong các địa phương làm đúng luật mà
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 12 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
thôi”, ông tâm sự với VnExpress. Cùng chung nỗi bức xúc này, Tổng giám đốc Công
ty Quảng cáo và Hội chợ Thương mại Việt Nam (Vinexad) Nguyễn Thanh Thản cho
VnExpress biết thêm, mới đây chính phủ lại có văn bản mới quy định quảng cáo
thương mại và hội chợ triển lãm phải do Bộ Thương mại quản lý, trong khi Bộ Văn
hoá Thông tin cũng đang quản lý lĩnh vực này. “Qua quá nhiều cửa, mất nhiều thời
gian, chúng tôi làm sao đáp ứng được yêu cầu của khách hàng”, ông nói. Cũng theo
Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, khung pháp lý của Việt Nam chưa theo sát hoạt động
xây dựng thương hiệu và quảng cáo. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách cần tìm
hiểu sâu hơn về bản chất, tính chuyên nghiệp cũng như đóng góp của quảng cáo đối
với kinh tế để đưa ra những quyết định sát thực hơn.
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 13 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO
2.1 Các đặc điểm chung của Công ty
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty TNHH SX-TM BQ được thành lập ngày 30 tháng 4 năm 2005 với tên
gọi ban đầu là Công ty TNHH Bảo Quang. Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các
sản phẩm giáy dép , túi xách, ví, thắt lưng bằng da, quần áo...
Tên giao dịch: CÔNG TY TNHH SX-TM BQ
Địa chỉ trụ sở chính: 246 Ông Ích Khiêm - thành phố Đà Nẵng
Slogan: “Phong cách thời trang gia”

Bên cạnh việc quan tâm đến các hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm và mở rộng
kênh phân phối ,đại lý khắp thị trường Miền Trung - Tây Nguyên, Công ty cũng
thường xuyên chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của công ty
Công ty TNHH SX-TM BQ với chức năng chủ yếu là sản xuất kinh doanh các
loại giáy dép, túi xách, quần áo, ví nịt bằng da...được quyền mở rộng kinh doanh, liên
doanh liên kết với đối tác trong và ngoài nước.
Tổ chức thu mua giáy dép, túi xách, ví nịt bằng da từ nguồn hàng hoá có uy tín
và chất lượng, tiếp cận thị trường để nắm bắt nhu cầu của khách hàng.
Tiếp cận thị trường để theo dõi tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty đang
kinh doanh và phân phối
Tổ chức chặt chẽ cơ sở vật chất, tiền vốn, nhân lực nhằm thúc đẩy hoạt động
kinh doanh ngày càng phát triển, chấp hành tốt các chính sách về quản lý kinh tế, các
chế độ quản lý tài chính. Công ty luôn cung cấp các sản phẩm giáy dép, ví nịt, túi xách
hợp thời trang và chất lượng. công ty cũng luôn chú trọng các hoạt động chăm sóc
khách hàng, khuyến mãi nhằm mục đích tăng doanh thu bán hàng, xây dựng thương
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 15 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
hiệu BQ ngày một vững mạnh không chỉ với thị trường miền trung - tây nguyên, và cả
nước mà công ty cũng đang tính đến phương án xuất khẩu đi các nước trên thế giới.
2.1.3 Đặc điểm tổ chức kinh doanh.
2.1.3.1 Tổ chức mạng lưới kinh doanh tại công ty.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC KINH DOANH TẠI CÔNG TY
Công ty TNHH BQ
Ghi
chú:
: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng
Công ty:

SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 17 Lớp B13QTH
Giám Đốc
P.Giám Đốc
P.Kế toán
P.Kinh Doanh - MKT P.Hành chính
Cửa hàng 1
Cửa hàng 2
Cửa hàng 3
Cửa hàng 4
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
- Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ lên kế hoạch phân phối tiêu thụ các sản
phẩm , giám sát việc bán hàng của nhân viên bán hàng, quản lý hệ thống kho hàng, lên
kế hoạch phân phối sản phẩm.
- Phòng marketing: có nhiệm vụ lên kế hoạch, ngân sách cho các hoạt động
marketing của công ty, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu và phát triển sản
phẩm mới.
- Phòng kế toán: nghiên cứu tổng hợp thông tin trên thị trường các mặt hàng mà
công ty đang kinh doanh, đồng thời xem xét quản lý một cách có hiệu quả đồng vốn
kinh doanh của công ty, phản ánh chính xác kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Tham mưu cho giám đốc , cung cấp các thông tin quan trọng cho giám đốc kiểm tra
việc sử dụng chứng từ ghi sổ, theo dõi thường xuyên các khoản nợ, quản lý vốn, cơ sở
vật chất ở công ty, định kỳ lập báo cáo gửi lên ban giám đốc.
2.2 Phân tích môi trường kinh doanh của công ty
2.2.1 Môi trường vĩ mô
2.2.1.1 Môi trường kinh tế
Nền kinh tế nước ta sau hơn nhiều năm đổi mới từ khi chuyển sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế, ngày càng
ổn định và vững chắc.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm cao (8,5% năm 2007) và bền
vững trong đó ngành công nghiệp đạt mức bình quân 18% năm.

Đặc trưng nổi bật về sự tác động của môi trường chính trị pháp luật đối với các
hoạt động kinh doanh thể hiện ở mục đích, thể chế chính trị hướng tới. Thể chế chính
trị giữ vai trò định hướng, chi phối các hoạt động kinh doanh của công ty. Do vậy, các
công ty cần phân tích cẩn thận các triết lý, các chính sách liên quan mới của quản lý
nhà nước như luật chống độc quyền, luật thế, các ngành lựa chọn để điều chỉnh hay ưu
tiên, luật lao động là những lĩnh ực trong đó các chính sách quản lý nhà nước có thể tác
động đến hoạt động và khả nang sinh lợi của công ty.
Nhìn chung trong những năm gần đây, Việt Nam là một trong những quốc gia
có tình hình an ninh chính trị ổn định và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày
càng được nâng cao. Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư của
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 19 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
nước ngoài vào công ty, và tạo cơ hội để đẩy nhanh tiến trình xuất khẩu sang các thị
trường quốc tế.
2.2.1.5. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên nước ta có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện các kế hoạch
kinh doanh hàng năm.
Vị trí nước ta rất thuân lợi cho việc phát triển kinh tế, có đường giao thông
đường biển, đường hàng không Quốc tế đi qua và là cửa ngõ ra biển của các nước
Đông Nam Á, vị trí này tạo điều kiện phát triển việc xuất khẩu hàng hóa.
Công ty TNHH SX-TM BQ nằm ở khu vực miền Trung là một khu vực phát
triển chậm, mức sống nhân dân còn thấp. Do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát
triển của Công ty. Tuy nhiên do nằm ở khu vực miền Trung nên thuận lợi cho việc mở
rộng thị trường ở hai miền Nam và Bắc, vì đây là trục giao thông quan trọng.
2.2.1.6 Phân tích ngành
Kinh tế Việt Nam: 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu da giày đạt hơn 2 tỷ USD
Riêng trong tháng 7/2009, xuất khẩu da giày của cả nước đạt 400 triệu USD.Theo Hiệp
hội da giày Việt Nam, trong 7 tháng qua, tổng kim ngạch xuất khẩu da giày đạt gần 2,5
tỷ USD, giảm gần 10% so với cùng kỳ năm 2008. Như vậy, trong những tháng còn lại
của năm, ngành da giày phải hoàn thành hơn 2 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, trung

mua sắm.
Theo đó các doanh nghiệp hưởng ứng tham gia các hôi chợ thương mại, tung ra
nhiều chương trình vào các sự kiện trong năm để tăng khả năng bán hàng cho doanh
nghiệp.
Như vậy có thể nói ngành công nghiệp da dày có vai trò tương đối quan trọng
trong việc đóng góp vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tạo được việc
làm ổn định cho nhiều lao động, đóng góp vào ngân sách nhà nước năm sau cao hơn
năm trước.
* Nhận xét:
Nhìn chung tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm giày dép trên
cả nước có chiều hướng phát triển cả về số lượng và chất lượng, điều này xuất phát từ
việc nhu cầu hướng đến các sản phẩm có chất lượng và mẫu mã đa dạng ngày càng
cao, theo đó các sản phẩm tiêu thụ thị trường trong nước cũng tăng mạnh đáng kể,
chiếm tỷ lện khá cao trên tổng doanh thu từ việc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu hàng
năm.
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 21 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
2.2.2 Môi trường vi mô
• Nghiên cứu mô hình 5 áp lực của Forter
2.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Có thể nói những năm gần đây thị trường da giày việt nam có những bước đột
phá mới, sản phẩm của chúng ta đã có mặt trên khắp các thị trường trong và ngoài
nước, bên cạnh đó việc gia nhập tổ chức thương mại thế gới WTO cũng đã tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho hàng hoá nước ngoài vào việt nam, làm nên một cuộc sạnh
tranh hàng ngoài và hàng nội không cân sức vốn lâu nay người việt nam ta thường hay
“xín ngoại”, và vì thế công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn để cạnh tranh được với các
sản phẩm giày da nhập ngoại từ hồng kông, trung quốc và đài loan, đa số các sản phẩm
xuất xứ từ những khu vực này thường nhái nhản mác của các thương hiệu lớn như
D&G, LV (Luisviton), GUCCI, Valentino,...bên cạnh đó hầu hết các sản phẩm này
thường là hàng nhập qua biên giới nên không chịu thuế, nên gián thấp hơn hàng sản

cũng làm cho nguồn ngyên liệu để sản xuất bị tăng giá, chưa kể là các sản phẩm cao
cấp thường phải nhập khẩu nguyên liệu, như vậy trong điều kiện kinh tế hiện nay, nhà
cung cấp cũng yêu cầu tăng giá nguyên liệu, phí vận chuyển cũng bị tăng lên nhiều so
với những năm trước do giá nhiên liệu tăng cao trong thời gian vừa qua. Vì vậy cùng
với nhiều chi phí phát sinh khác thì chi phí nguyên vật liệu cũng ảnh hưởng lớn đến
việc đưa ra giá bán và giảm lợi nhuận của công ty.
2.2.2.4 Sản phẩm thay thế
Hiện nay nhu cầu về thời trang có xu hướng phát triển mạnh, đặc biệt là trong
giới trẻ, nên một số sản phẩm thời trang mới ra đời, tuy nhiên với các sản phẩm đang
cung cấp và nhắm và các nhóm khách hàng mục tiêu nên nhìn chung nguy cơ sản phẩm
thay thế cạnh tranh thì không nhiều, ngoại trừ một số lớp trẻ thay vì mua giày dép thì
mua bốt, nhưng số này rất ít, nên công ty không gặp khó khăn khi cạnh tranh cho các
sản phẩm mới thay thế.
2.2.2.5 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Không chỉ phải cạnh tranh với các đối thủ hiện tại, công ty cũng phải tính đến
việc cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh mới trong tương lai, với môi trường thuận
lợi như hịên nay thì việc xuất hiện thêm một vài nhà sản xuất và kinh doanh là điều dể
xảy ra.
• Nhận xét:
SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 23 Lớp B13QTH
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính
Thị trường miền trung vốn lâu nay ít ảnh hưởng nhiều bởi các hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp lớn ở 2 miền Nam Bắc, tuy nhiên những năm gần đây vì
khoảng cách về địa lý đã không còn là vấn đề quá lớn đối với các doanh nghiệp, đại lý
và nhà phân phối, trung tâm thương mại, siêu thị là các nơi bán hàng tốt cho các nhà
sản xuất.
Với thị trường tại Đà Nẵng và trải dài các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên, công
ty giày BQ đã sớm chinh phục các khách hàng tại điạ phương và có mạng lưới kinh
doanh rộng khắc thông qua các đại lý trãi dài từ Quảng Bình và tận Đaklak.
Ngay từ khi thành lập Công ty và cho ra thương hiệu BQ, ban lãnh đạo công ty

Số lượng
(người)
Tỉ lệ
(%)
Số lượng
(người)
Tỉ lệ
(%)
Số lượng
(người)
Tỉ lệ
(%)
Công nhân 40 50 50 50 60 50
Nhân viên bán hàng 26 32,5 34 34 40 33,34
Nhân viên văn phòng 10 12,5 10 10 12 10
Quản lý 4 5 6 6 8 6,67
∑ Số lao động 80 100 100 100 120 100
Theo trình độ
Đại học 6 7,5 7 7 8 6,67
Cao đẳng 8 10 9 9 12 10
THCN 26 32,5 34 34 40 33,34
THPT 40 50 50 50 60 50
Theo giới tính
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Số lượng
(người)
Tỉ lệ
(%)
Số lượng
(người)


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status