Marketing trong kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ - Pdf 10

LỜIMỞĐẦU
Trong nền kinh tếthế giới, thị trường kinh doanh bảo hiểmcó lẽ chưa bao giờ cạnh
tranh lại diễn ra gay gắt như hiện nay. Trước ngưỡng cửa hội nhập, cùng với hoạt động kinh
doanh của nhiều công ty bảo hiểm có mặt trên thị trường Việt Nam, sự xuất hiện của các văn
phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài nhưGreat Eastern, HSBC…
lại đang báo hiệu một giai đoạn "đua sức đua tài" mới của các doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ tại Việt Nam. Trước sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển phải có những hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược thị trường
và chiến lược cạnh tranh một cách đúng đắn và sáng tạo sao cho phù hợp với khả năng của
doanh nghiệp, với thực tế của thị trường.
Điều đóđã minh chứng rằng marketing là công cụ quan trọng nhất của doanh nghiệp,
là chìa khoá vàng giúp các doanh nghiệp giải quyết mọi vấn đề.
Với các hệ thống chính sách hiệu quả marketing không chỉ giúp cho các nhà sản xuất;
kinh doanh lựa chọn đúng phương án đầu tư, tận dụng triệt để thời cơ kinh doanh mà còn
giúp họ xây dựng chiến lược cạnh tranh. Sử dụng các vũ khí cạnh tranh có hiệu quả nhất
nhằm nâng cao uy tín, chinh phục khách hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh thị trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu và phân tích marketing ở
doanh nghiệp trong thời gian thực tập ởVăn phòng đại diện công ty Cardif Assurance Vie
em đã quyết định chọnđề tài: "Marketing trong kinh doanh Bảo hiểm nhân thọcủa Văn
phòng đại diện công ty Cardif Assurance Vie tại Việt nam thực trạng và giải pháp" để
làm chuyên đề tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận chuyên ngành, tìm hiểu thực tế, phân tích vàđánh giá thực trạng
nghiên cứu kinh doanh của Văn phòng đại diện công tyđã chỉ ra ưu điểm cũng như thực
trạng để từđó cóđịnh hướng hoàn thiện nó.
Giới hạn nghiên cứu:
Do hạn chế về thời gian cũng như năng lực trình độ có hạn, nên đề tài em chỉ nghiên
cứu phạm vi dưới góc độ tiếp cận của môn học marketing chuyên ngành.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, em cố gắng vận dụng nguyên
lý cơ bản của tư duy đổi mới, phương pháp tiếp cận hệ thống lôgic và lịch sử vừa nhằm phân
tích biện chứng mục tiêu nghiên cứu, vừa đặt nó vào trong môi trường kinh doanh của công

tai nạn lao động v.v..
- Các rủi ro do môi trường xã hội: Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra
rủi ro cho con người. Chẳng hạn, nếu xã hội tổ chức quản lý chặt chẽ - mọi người làm việc
và sống theo pháp luật thì sẽ không xảy ra hiện tượng thất nghiệp, trộm cắp; nếu làm tốt
cong tác chăm sóc sức khoẻ sẽ hạn chếđược các rủi ro không đáng có như hoả hoạn, bạo lực,
v v...
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó
khăn trong cuộc sống như mất việc hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng
trệ sản xuất và kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, v.v.. làm ảnh hưởng đến đời
sống kinh tế - xã hội nói chung.
Đểđối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát
cũng như khắc phục hậu quả do rủi ro gây nên. Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản
lý rủi ro, có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả do rủi ro gây ra - đó là nhóm
các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.
+ Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các hiện tượng tránh né rủi ro, ngăn
ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất. Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn
hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro.
3
- Tránh néđược rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống. Mỗi
người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh
rủi ro có thể xảy ra, tức loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất. Chẳng hạn, để tránh các tai nạn giao
thông người ta hạn chế việc đi lại; để tránh các tai nạn lao động người ta chọn những nghề
không nguy hiểm… Tránh né rủi ro chỉ với những rủi ro có thể né tránh được. Nhưng trong
cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thể né tránh được.
- Ngăn ngừa tổn thất: Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành động làm
giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra. Ví dụ, để giảm thiểu các tai nạn lao
động, người ta tổ chức các khóa học nâng cao trình độ của người lao động hay nâng cao chất
lượng các hoạt động đảm bảo an toàn lao động; đề phòng chống hoả hoạn người ta thực hiện
tốt việc phòng cháy chữa cháy.
- Giảm thiểu tổn thất: người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện pháp làm

Vì vậy, khái niệm "bảo hiểm" trở nên gần gũi, gắn bó với con người, với các đơn vị
sản xuất kinh doanh. Cóđược quan hệđó vì bảo hiểm đã mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết
thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm.
2. Vai trò, chức năng, tác dụng của bảo hiểm.
Xét về khía cạnh kinh tế xã hội:
Là hành lang bảo vệ an toàn cho mỗi cá nhân và tổ chức trước những rủi ro và sự cố
bất ngờ dẫn đến tổn thất làm ngừng trệ những hoạt độngđang diễn ra bình thường. Quỹ bảo
hiểm được tạo lậpmột cách có tổ chức khoa học nhằm đáp ứng kịp thờivà bùđắp các tổn thất
phát sinh, từđó tái lập và bảo đảm cho tính thường xuyênliên tục của các quá trình xã hội.
Là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức; giúp họ yên tâm trong cuộc sống,
trong sinh hoạt sản xuất kinh doanh.
Hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp phần giảm bớt tình trạng
thất nghiệp cho xã hội (theo thống kê, bảo hiểm các nước thu hút 1% lực lượng lao động xã
hội).
Như vậy trên phạm vi rộngtoàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai trò như một
công cụ an toànvà dự phòng đảm bảo khả nănghoạt động lâu dài của mọi chủ thể dân cư và
nền kinh tế.Với vai tròđó bảo hiểm thâm nhập sâu vào mọi lãnh vựccủa đời sống và phát
huy sự vốn có của mình: thể hiện tính cộng đồng, tương trợ, nhân văn sâu sắc.Thúc đẩy ý
thức đề phòng – hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội.
Xét về khía cạnh tài chính:
Bảo hiểm hoạt dộng theo qui tắc thu phí trước bồi thường sau nên vào một thời điểm
nhất định, các tổ chức bảo hiẻm sẽ nắm giữ một quỹ tiền tệ rất lớn nhưng tạm thời nhàn rỗi
và như vậy, các tổ chức hoạt động bảo hiểm hiển nhiên trở thành những nhàđầu tư lớn, quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, bảo hiểm không chỉđóng vai trò như một công cụ an toàn mà còn có vai trò
của một trung gian tài chính nắm giữ một phần quan trọng trong nền kinh tế; góp phần thúc
đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, nhất là thông qua hoạt động tái bảo hiểm. Với
5
vai tròđó bảo hiểm phát huy tác dụng hết sức quan trọng, đặc biệt, trong nền kinh tế thị
trường, đó là tập trung, tích tụ vốn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thường xuyên và

Đại lý bảo hiểm nhân thọ: một loại hình bảo hiểm qua đó Công ty bảo hiểm cam kết
sẽ trả một số tiền theo thoả thuận ghi trong hợp đồng, khi có sự kiện bảo hiểm như quy định
trong hợp đồng xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khoẻ con người như sống đến thời
hạn nhất định, ốm đau, thương tật, nằm viện, chi phí chăm sóc, chết do mọi nguyên nhân.
Hoạt động của đại lý chủ yếu là hoạt động cá nhân riêng lẻ. Phí bảo hiểm theo tháng, quý,
năm, 1 vài năm… hoặc cả hợp đồng bảo hiểm. Phí bảo hiểm nhân thọ không thay đổi trong
suốt quá trình của hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực. Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là dài
hạn, trung hạn…; không có ngắn hạn: 1 vài ngày, vài tháng, 1 năm… Nên khách hàng phải
có tài chính ổn định thường xuyên. Đồng thời khi tham gia loại hình bảo hiểm này người ta
có thể hiểu được như là một hình thức tiết kiệm tiền, có lãi, vàđược bảo hiểm theo một
sốđiều khoản cam kết, kết thúc hợp đồng sẽ nhận được tiền của mình đóng góp vào. Đại lý
bảo hiểm nhân thọ sẽ thu phíđịnh kỳ: tháng, quý, năm… ổn định theo thoả thuận đã cam kết.
Nhưng đại lý bảo hiểm phi nhân thọ có tính chất hoạt động khác hơn: vì bán sản
phẩm bảo hiểm là vô hình người mua không dễ gì cảm nhận được sản phẩm mình định mua
như: chất lượng, độ bền… yêu cầu đại lý có tính chuyên nghiệp cao, gây lòng tin. Hợp đồng
bảo hiểm cam kết chỉ khi nào xảy ra sự kiện bảo hiểm thì khách hàng mới được hưởng
quyền lợi bảo hiểm. Còn không xảy ra thì không được hưởng.Phí bảo hiểm phi nhân
thọđược tính theo thời hạn bảo hiểm thường là 1 năm, 1 vài ngày, từng chuyến hàng. Đối
tượng tham gia bảo hiểm có thể là tổ chức, cá nhân. Phí có thể thay đổi không cốđịnh, có thể
thay đổi của các năm tiếp theo như có sự thay đổi các điều kiện bảo hiểm, phụ thuộc vào
mức độ rủi ro. Nếu người tham gia bảo hiểm giới hạn phạm vi bảo hiểm vào 1 vài rủi ro
không tham gia bảo hiểm thì bảo hiểm sẽ xem xét giảm bớt phí và ngược lại, nếu mở rộng
phạm vi bảo hiểm thêm một số rủi ro phụ khác thì phí bảo hiểm sẽ tăng lên.
Các nghiệp vụ bảo hiểm khác như: tài sản, trách nhiệm dân sự giữa người bảo hiểm -
người được bảo hiểm vàđối với người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm thìđều có mối
quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường những thiệt hại.
CHAPTER II
NHỮNGTIỀNĐỀLÝLUẬNVỀTHỊTRƯỜNGVÀCÁCGIẢIPHÁPMARKETINGNHẰ
MPHÁTTRIỂNTHỊTRƯỜNG, NÂNGCAOHIỆUQUẢKINHDOANH
I. THỊTRƯỜNGVÀTẦMQUANTRỌNGCỦAVIỆCMỞRỘNGTHỊTRƯỜNG

Trong nền kinh tế sản xuất hiện đại, sự xuất hiện ngày càng nhiều những tiến bộ khoa
học kỹ thuật, quá trình cạnh tranh diễn ra trên phạm vi toàn cầu, do vậy các doanh nghiệp
đang đứng trước những thử thách to lớn trong việc nắm bắt thích nghi với môi trường kinh
doanh. Bất kỳ doanh nghiệp nào cho dùđang đứng trên đỉnh cao của sự thành đạt cũng có
thể bị lùi lại phía sau nếu không nắm bắt được thị trường một cách kịp thời. Ngược lại, cho
dù doanh nghiệp đang đứng trên bờ vực của sự phá sản cũng có thể vươn lên chiếm lĩnh và
8
làm chủ thị trường nếu họ nhạy bén, phát hiện ra xu thế của thị trường hay những kẽ hở thị
trường mà mình có thể len vào được.
Với nền kinh tế thị trường nhanh nhạy trên mọi lĩnh vực kinh doanh sẽ làm thay đổi
rất nhanh vị thế của cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp nào
không sớm nhận thức được điều này, không nỗ lực tăng trưởng sẽ nhanh chóng bị tụt lại
phía sau trong lĩnh vực kinh doanh của mình.
Muốn thành công trong kinh doanh thì một doanh nghiệp không chỉ dành được một
thị phần thị trường mà hơn thế nữa nó phải vươn lên đứng trong nhóm các doanh nghiệp dẫn
đầu thị trường trong lĩnh vực mà mình tham gia. Để làm được điều này thì bắt buộc doanh
nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường của mình và cóđược chỗđứng vững chắc trên
thị trường.
Việc mở rộng thị trường nhằm giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
phẩm, khai thác mọi tiềm năng của thị trường một cách triệt để, hiệu quả của hoạt động sản
xuất kinh doanh được nâng cao, tăng lợi nhuận và khẳng định được vai trò, vị trí của doanh
nghiệp trên thị trường. Do vậy việc mở rộng thị trường là một hoạt động có tầm quan trọng
đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, nó góp phần không nhỏ vào việc thành công hay thất
bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Mở rộng thị trường làđiều kiện để doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận.
Có nhiều cách để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp như nâng giá trong diều kiện
bán ra không đổi... nhưng những cách đó rất khó thực hiện khi nhiều sản phẩm cạnh tranh
nhau trên thị trường. Do đó muốn gia tăng lợi nhuận thì cách tốt nhất là doanh nghiệp phải
tiêu thụđược thêm nhiều hàng hoá, nghĩa là phải mở rộng được thị trường, thu hút được

Đây chính là hoạt động nghiên cứu thăm dò, xâm nhập thị trường của công ty nhằm
mục tiêu nhận biết vàđánh giá khái quát khả năng xâm nhập, tiềm năng thị trường đểđịnh
hướng quyết định lựa chọn thị trường tiềm năng và chiến lược kinh doanh của công ty.
1.2. Nghiên cứu khách hàng và người tiêu thụ.
+ Đây là nội dung nghiên cứu chi tiết, cụ thể của thị trường trên hiện trường nhóm
khách hàng tiềm năng của công ty. Nó là nội dung nghiên cứu trọng yếu đối với các công ty,
là bí quyết thành công của một công ty trên thị trường, bởi việc xác định, hiểu biết các dạng
khách hàng với tập tính, thói quen tiêu dùng, mua hàng...sẽ tạo tiền đề trực tiếp cho công ty
xác lập mối quan hệ thích ứng phù hợp và hữu hiệu với thị trường của mình.
1.3. Nghiên cứu phân đoạn thị trường mục tiêu.
Như ta đã biết, với những cặp sản phẩm thị trường xác định, trong đa số trường hợp
10
cho thấy, trong nhóm khách hàng tiềm năng có sự chênh lệch, phân hoá và khác biệt về tập
tính và thái độứng xử. Vì vậy để khai thác tối đa thị trường tiềm năng, đòi hỏi các công ty
phải xác lập được các thông số của sự khác biệt này đểphát triển thị phần của công ty.
1.4. Nghiên cứu marketing mặt hàng kinh doanh của công ty thương mại
Thị trường tiêu thụđòi hỏi các công ty phải luôn luôn đánh giá lại các đặc điểm, tính
chất của mặt hàng hiện tại và phải luôn luôn tổ chức cung ứng, chào hàng những mặt hàng
mới với những đặc tính mới để thoả mãn nhu cầu của người tiêu thụ trên thị trường.
1.5. Nghiên cứu marketing quảng cáo-xúc tiến bán của công ty.
Quảng cáo và xúc tiến là công cụ rất có hiệu lực trong hoạt động marketing, nhưng
nó là một lĩnh vực trừu tượng và khá tốn kém. Nghiên cứu marketing quảng cáo và xúc tiến
giúp cho các công ty biết được trương trình giao tiếp của họảnh hưởng tới suy nghĩ, tình
cảm và hành động của khách hàng như thế nào, để từđó công ty có những điều chỉnh cho
phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
1.6. Nghiên cứu marketing phân phối và phân tích sức bán của công ty.
Đây là một trong những lĩnh vực quan trọng của nghiên cứu marketing, nó nhằm để
xây dựng chương trình định hướng hữu hiệu hơn cho công ty.
1.7. Nghiên cứu marketing giá kinh doanh.
Việc định giá vàứng xử giá có vị tríđặc biệt quan trọng và tồn tại nhiều quan điểm

12
Nhận dạng các cơ sở cho phân phối thị trường
Phát triển các trắc nghiệm của kết luận phân đoạn
Triển khai đo lường sự hấp dẫn của phân đoạn
Lựa chọn các phân đoạn trọng điểm
Hoạch định vị thế sản phẩm theo đoạn trọng điểm
Phát triển marketingmix cho mỗi đoạn trọng điểm
Phân đoạn Thị
trường
(S:
Segmentating)
Định mục tiêu thị
trường
(T: Targeting)
Định vị thế
sản phẩm
(P: Positioning)
2.1.Phân đoạn thị trường.

Khái niệm: Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia người tiêu dùng thành
nhóm trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi.

Yêu cầu của phân đoạn thị trường: Có nhiều cách để phân khúc thị trường, nhưng
không phải tất cả các cách phân khúc thị trường đều có hiệu quả, đểđảm bảo hữu ích tối đa
các khúc thị trường phải có các đặc điểm sau:
+ Đo lường được: quy mô, sức mua và các đặc điểm của khúc thị trường.
+ Đủ lớn: những khúc thị trường này phải đủ lớn và sinh lời xứng đáng cho việc
phục vụ, thực hiện riêng một chương trình marketing.
+ Có thể tiếp cận được: các khúc thị trường này phải đảm bảo tiết kiệm được và phục
vụ có hiệu quả.

Nghề nghiệp
Dân tộc
6 ; 6-11 ; 12 - 19 ; 20 - 34...
Nam, nữ
500000 ; 750000 - 1000000...
Kỹ thuật viên, Đại học...
Kinh , hoa, tày, Êđê...
13
5
I
II
1
2
3
Phác đồ tâm lý
Tầng lớp xã hội
Cách sống
Nhân cách
Dân nghèo , thượng lưu...
Xa xỉ, buông thả, ngương mẫu...
Ép buộc , tập thể, độc đoán...
I
V
1
2
3
Thái độứng xử
Cơ hội ứng xử
Lợi ích đem lại
Ý niệm về sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status