Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 1
SVTH : Hà Minh Chánh
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
I. CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ:1. Chính phủ điện tử là gì?Chính phủ điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lónh vực hành
pháp nhằm điều chỉnh các hoạt động xã hội, bao gồm việc điều chỉnh quan hệ
giữa các cơ quan thuộc Chính phủ với nhau; quan hệ giữa người dân và doanh
nghiệp với Chính phủ và ngược lại Những quan hệ này điều được thực hiện
bởi hệ thống vi tính nối mạng, và những thiết bò công nghệ thông tin để có
được những thủ tục đăng ký, cấp phép và bất cứ hoạt động nào liên quan đến
lónh vực hành chính công quyền và người dân có thể làm việc với chính phủ
24/24 giờ trong một ngày, 7/7 ngày trong một tuần.
2. Tại sao phải phát triển chính phủ điện tửCó nhiều lý do phải phát triển chính phủ điện tử trong đó trước hết là vấn đề
hiệu quả. Khái niệm hiệu quả có nghóa là tiết kiệm cho chính phủ và giúp cho
các doanh nghiệp và người dân tiếp xúc một cách dễ dàng hơn với chính phủ.
Bên cạnh đó, nếu không có một chính phủ điện tử, chính phủ sẽ phải tiêu tốn
rất nhiều tiền bạc và thời gian cho việc phê duyệt các vấn đề cần thiết và sự
chậm trễ này sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Điều đó cũng có nghóa là nếu chính phủ phê duyệt nhanh hơn, một quốc gia
cũng sẽ có nhiều cơ hội hơn để thu hút đầu tư hơn
6. Những lợi ích của chính phủ điện tử• Bình đẳng trong truy cập thông tin.
• Công khai thủ tục hành chính.
• Đơn giản hóa thủ tục hành chính.
• Khả năng cung cấp thông tin, công bằng, tin cậy, ổn đònh, kòp thời.7. Các đặc tính của chính phủ điện tử•
Tính rộng khắp.
•
Tính bảo mật, an toàn.
•
Đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức.
•
Đem lại lợi ích rõ nét cho mọi người dân, mọi doanh nghiệp, mọi công chức
nhà nước.
8. Các tiêu chuẩn của chính phủ điện tử•
Thông su
t.
•
•
Vn hóa qun lý
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 3
SVTH : Hà Minh Chánh
• Ham mun duy trì quyn lc
• T tham nhng
•
Trình đ cơng chc.
(theo AlGore)
“
Chính phủ điện tử là cái mà hiện nay trong xã hội có nhiều người cho rằng
cuộc sống không thể thiếu nó, trong khi nhiều người khác cho rằng không thể
sống với nó. Dù sao loại thứ nhất là áp đảo
.”
AlGore
12. Hiện trạngMô hình chính phủ điện tử (e-government) đã được áp dụng rộng rãi ở các
nước phát triển như Mỹ ,Vương quốc Anh, Úc, Hàn Quốc Nơi mà cơ sở hạ
tầng viễn thông được đầu tư tốt và phát triển, cung cấp các dòch vụ như Video-
on-demand, ASP, Thương mại điện tử, Ngôi nhà Internet với các đường kết
nối lên đến hàng chục Megabit/s, cước truy cập Internet rẻ, và đa số người dân,
doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ đều kết nối với Internet.
Trong khu vực, các chính phủ của một số Quốc gia đều đã đưa ra chiến lược
phát triển công nghệ thông tin trong đó bao gồm cả việc phát triển thương mại
Ngày nay, Chúng ta sống trong xã hội mà quan hệ ngày càng phát triển, nơi mà
Internet được phát triển mạnh mẽ về hiệu suất và dòch vụ khách hàng. Mọi
người sử dụng điện thoại và Internet cho việc nhận được những dòch vụ 24 giờ
trong một ngày, bảy ngày trong một tuần.
Việc xây dựng một mô hình Chính phủ điện tử tại một quốc gia là nhằm một số
mục đích sau đây :
-
Làm cho người dân dễ dàng để có được những dòch vụ và quan hệ với Chính
phủ
- Cải tiến năng suất và hiệu qủa quản lý của chính phủ; và
- Cải tiến những đáp ứng của chính phủ đến với người dân.
2. Yêu cầu
:- Phải có một người đứng đầu dự án đảm trách liên hệ giữa công nghệ thông
tin và chính phủ điện tử và một số lượng lớn đội ngũ nhân viên có kinh
nghiệm về nghiệp vụ nhà nước và công nghệ thông tin.
- Khởi đầu việâc mở rộng chính phủ điện tử ở đó việc cần làm là hợp nhất các
hoạt động của cơ quan và các đầu tư về công nghệ thông tin.
- Chúng ta cũng có những bước đi cụ thể cho việc thực hiện đề án xây dựng
chính phủ điện tử để loại ra những dư thừa và chồng chéo trong hoạt động
của các cơ quan nhà nước.
- Chính phủ cần xác đònh được vò trí hiện tại và đánh giá được mức độ sẵn
sàng của mình, hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp tư nhân để giải quyết
Tầm nhìn của một nguyên thủ quốc gia cho việc sửa đổi chính phủ nhấn mạnh
rằng “chính phủ cần phải cải cách các hoạt động - thực hiện việc kinh doanh
như thế nào và những dòch vụ đối đãi người dân như thế nào”. Tầm nhìn được
chỉ dẫn bởi ba yếu tố cơ bản:
•
Trung tâm công dân (Citizen-centered)
, trung tâm không có quan liêu;
•
Đònh hướng kết qủa (Result-oriented);
và
•
Nền tảng thò trường (Market-based),
tích cực đẩy mạnh sựđổi mới.
Chính phủ điện tử chống lại việc gặp gỡ của người dân hiện nay và chờ đợi của
doanh nghiệp trong việc quan hệ với chính phủ. Điều đó sẽ làm cho các cơ
quan phải xếp hàng như sự cần thiết cho việc cải tiến những dòch vụ có ý nghóa
và giảm chi phí hoạt động. Khi sáng kiến chính phủ điện tử tùy thuộc vào hiệu
qủa, việc chỉ đạo kinh doanh với chính phủ được dễ dàng, sự riêng tư được bảo
vệ và an ninh được cung cấp. Những công dân và những doanh nghiệp có thể
gặp nhau trên một điểm của dòch vụ trực tuyến hoặc bằng điện thọai.
Tầm nhìn của chúng ta kết hợp sự thành công các họat động thực tiễn trực
tuyến với người của chính phủ và tài sản vật chất để xây dựng một xí nghiệp
“click and mortar”. Mục đích của chúng ta là ở đó những dòch vụ và thông tin
sẽ hiếm khi có nhiều hơn ba lần click chuột khi sử dụng Internet. Để đạt được
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 6
SVTH : Hà Minh Chánh
mại.
Một chiến lược hiệu qủa sẽ là kết qủa phát triển quan trọng trong việc phát
triển chính phủ, bao gồm:
• Làm đơn giản hóa sự phân phối của những dòch vụ tới người dân;
• Loại ra sự phân lớp trong việc quản lý chính phủ;
• Làm sao nó có thể thực hiện đối với nhân dân, những doanh nghiệp, những
tầng lớp khác của chính phủ và nhân viên chính phủ dễ dàng tìm ra thông tin
và có được dòch vụ từ chính phủ;
•
Làm đơn giản hóa việc xử lý thương mại của các cơ quan và giảm những chi
phí thông qua sự hợp nhất và loại ra những hệ thống dư thừa;
•
Có thể đạt được những yếu tố khác của việc quản lý nhật ký công tác của
Chủ tòch nước, Thủ thướng Chính phủ; và
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 7
SVTH : Hà Minh Chánh
•
Sự tạo dòng hoạt động của chính phủ tới sự bảo đảm đáp ứng lại nhanh
chóng những nhu cầu của người dân.
Sau đây là trọng tâm trên bốn nhóm trung tâm công dân, từng cái cung cấp
những cơ hội cho sự thay đổi phân phối của những dòch vụ.
•
Các Cá nhân/Công dân (Individuals/Citizens): Government-to-Citizens
(G2C); c xây dựng cho việc dễ dàng tìm kiếm, dễ sử dụng, một trong
những điểm dừng của dòch vụ là thực hiện dễ dàng cho người dân có được
nguyên nhân chính phủ không thể phát triển năng suất:
•
Program Performance Value (Gía trò thực hiện chương trình):
Điển hình
những cơ quan đánh giá những hệ thống Công nghệ thông tin theo kiểu họ
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 8
SVTH : Hà Minh Chánh
phục vụ (serve) cho những điều cần thiết và những xử lý của cơ quan tốt như
thế nào chứ không quan tâm là họ đáp ứng tốt như thế nào những gì mà
người dân cần. Những hệ thống thường đánh giá bằng tỉ lệ phần trăm thời
gian họ làm việc hơn là những lợi ích nội bộ và bên ngoài cho việc phân
phối tới những chương trình họ cung cấp.
•
Technology Leverage (Lực đòn bẩy kỹ thuật):
Trong những năm thập niên
90, các cơ quan chính phủ sử dụng Công nghệ thông tin xử lý tự động cái
hiện có, hơn là tạo ra những giải pháp hiệu qủa và hiệu suất điều đó bây giờ
thực hiện được bởi vì những bài học thương mại đện tử đã được học.
•
Islands of Automatic (Nh
ng cô lập của tự động hóa):
Các cơ quan
thường mua những hệ thống ở đó những cần thiết cho nội bộ, và hiếm khi
các hệ thống hoạt động với nhau hoặc quan hệ với những hệ thống tại các
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 9
SVTH : Hà Minh Chánh
lại sự thay đổi. Một tiếp cận chính thể (holistic) thì cần thiết, và từng việc sáng
kiến Chính phủ điện tử bao gồm những kết qủa được hướng tới những phạm vi
thực hiện, sắp xếp chính sách, huấn luyện, quan hệ, và tổ chức thay đổi những
sự kiện quan trọng.
4. Tiếp cận và khám phá:Để có được toàn cảnh về các khám phá xem việc các cơ quan ban ngành muốn
có một dự án chính phủ điện tử, thì chúng ta phải bắt đầu từ đây và cần có sự
đóng góp từ các cán bộ và nhân viên của các ban ngành của chính phủ.Và
chúng ta cùng tiếp cận các nhà hoạch đònh Chính phủ điện tử để thấy được toàn
cảnh cho sự khám phá mà ở đó các cơ quan thi hành và đường dây của các nhà
chuyên nghiệp muốn chính phủ phải hướng tới là:
•
Sử dụng Web để cung cấp những dòch vụ như những lơi ích, những cơ hội
giải trí, và các tài liệu giáo dục;
•
Chia sẽ thông tin và hợp nhất các các tỉnh thành và dữ liệu đòa phương nơi
tiếp cận và thực hiện;
•
Giảm đi gánh nặng công việc bằng cách làm theo những xử lý hợp lý điều
đó được đẩy mạnh và cho vững chắc trong việc tập hợp dữ liệu;
•
Thông qua những thủ tục thương mại tốt nhất để giảm những chi phí họat
động và làm cho nó đơn giản hơn cho những nhân viên chính phủ cho việc
thực hiện công việc của họ, đặc biệt trong phạm vi tài chính, nguồn nhân lực
hiện đúng (compliance), và sự thi hành luật lệ và những hoạt động nội bộ và cơ
sở hạ tầng. Việc thực hiện những hoạt động chính sách thông thường là những
chương trình xác đònh và những nổ lực làm đúng. Những hoạt động Internet là
những chức năng quản lý như quản lý tài chính, ở đó cung cấp những hoạt động
cần thiết ngày qua ngày tới việc thực hiện chính sách, quản lý chương trình và
những hoạt động làm đúng. Chính phủ điện tử hổ trợ cơ hội tới những hoạt
động theo luồng, phát triển năng suất bằng cách các cơ quan tập trung trên bốn
khả năng. Những sáng kiến Chính phủ điện tử loại bỏ những dư thừa không cần
thiết, trong khi phát triển dòch vụ chất lượng làm đơn giản hoá việc xử lý và
những cô lập cơ quan hợp nhất của việc tư động hóa.
Tổng quan, những sáng kiến Chính phủ điện tử đều cung cấp cơ hội tới việc
phát triển việc đáp ứng cho người dân, tránh sự dư thừa trong đầu tư Công nghệ
thông tin và chi phí hoạt động. Làm giảm đi những rào cản chính quyền cho
người dân, những doanh nghiệp. Thêm vào đó có hai sáng kiến được chọn cho
việc đẩy mạnh cho việc phát triển kinh doanh buôn bán: Những thông tin chăm
sóc sức khoẻ và sự sống điện tử (e-Vital). Cuối cùng, Xác nhận điện tử (e-
Authentication) được chọn cho việc xác đònh những cần thiết cho sư an toàn
của việc xác nhận ở đó cắt bỏ sự cản trở những sáng kiến của Chính phủ điện
tử. S đ 1.1 Bng tóm tc các danh mc ca Chính ph đin t
(E-Governemnt) Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
lý ởđo ùcó thể tập hợp dữ liệu một lần
cho nhiều người sử dụng và sắp xếp
hợp lý dữ liệu dư thừa
•
Những qui tắc chính của việc kinh
doanh: sự điều chỉnh, phát triển kinh
tế, trao đổi mậu dòch (trade), những
giấy phép, những trợ cấp/những
khoản vay mượn, quản lý quyền sở
hữu
.
G2G
•
Chia s
và tập hợp các tỉnh thành về
dữ liệu cục bộ
•
Những qui tắc chính của việc kinh
doanh: phát triển kinh tế, tài nguyên
thiên nhiên và giải trí, sự an toàn cho
nhân dân, thi hành luật pháp, quản lý
việc đối phó những rủi ro, những trợ
cấp xã hội/ những khoản vay mượn.
nhất quán của việc nhận dạng chứng minh tới chính phủ điều đó thì thích hợp
với cấp độ của kinh doanh buôn bán và rủi ro của từng sáng kiến chính phủ
điện tử. Thêm vào đó, những đề án sẽ xác đònh những góc độ riêng tư đối với
việc chia sẽ thông tin cá nhân. Chính phủ điện tử tùy thuộc vào sự tin tưởng
của người dân mà ở đó chính phủ quản lý thông tin cá nhân của họ với sự chăm
sóc bảo dưỡng. Các cơ quan đang làm công việc xây dựng những bảo vệ sự
riêng tư mạnh, an toàn trong các sáng kiến Chính phủ điện tử và tiến tới xây
dựng sự bảo vệ sự riêng tư theo diện rộng trong tất cả các cơ quan của cả nước.
Chính phủ điện tử (e-government) và thương mại điện tử (e-business) ở nước ta
chưa được ứng dụng rộng rãi chủ yếu là do chưa xây dựng được một môi trường
pháp lý đầy đủ, cụ thể và thông thoáng cho lónh vực này. Vấn đề không phải là
do các doanh nghiệp không mặn mà với phương thức giao dòch buôn bán rất
tiện ích này hoặc do cơ sở hạ tầng thông tin chưa đáp ứng, mà thương mại điện
tử vẫn còn xa lạ đối với hầu hết doanh nghiệp của nước ta là do chưa có hành
lang pháp lý rõ ràng.
Theo các nhà nghiên cứu về thương mại điện tử, để phương thức này được ứng
dụng rộng rãi, trước hết, cần có những qui đònh cụ thể về chữ ký điện tử, hình
thức hợp đồng, thời gian và đòa điểm giao kết hợp đồng. Trên thực tế, cả ba
yếu tố này vẫn chưa được qui đònh cụ thể trong hệ thống pháp luật của Việt
Nam. Cho đến nay, hầu hết các văn bản pháp luật về dân sự, kinh tế, thương
mại đều qui đònh, trong các giao kết, thỏa thuận, chứng thực , các bên đều
phải ký vào văn bản. Chữ ký ở đây, theo cách hiểu truyền thống, là chữ ký tay
của một cá nhân vào một văn bản trên giấy. Có nghóa là, chữ ký điện tử (hay
chữ ký số) chưa được thừa nhận. Đối với hình thức hợp đồng, một quan chức phụ trách dự án thương mại của Bộ
Thương mại nhận xét: Từ trước tới nay, chúng ta quan niệm văn bản là văn bản
việc chung trong cả nước, đó hai nổ lực cho sáng kiến là xác nhận điện tử (e-
Authentication) và dự án kiến trúc chính phủ điện tử xí nghiệp.
•
Việc sáng kiến e-Authentication sẽ xây dựng và có sự tín nhiệm lẫn nhau
cho việc cung cấp diện rộng việc sử dụng điện tử để tương tác giữa quần
chúng và chính phủ và thông qua chính phủ cung cấp những giải pháp chung
cho việc thiết lập “tính đồng nhất”(identity). Những giải pháp sẽ là vấn đề
bảo mật xác nhận đòa chỉ, bí mật, và chữ ký điện tử cần thiết cho việc sáng
kiến một chính phủ điện tử.
•
Dự án kiến trúc chính phủ điện tử sẽ tiến hành hai chuyên đề đồng thời hoạt
động. Một trong những hoạt động sẽ là sự phát triển của một kiến trúc, để
hướng tới sự phát triển của một kiến trúc xí nghiệp toàn quốc, với từng sáng
kiến hiện tại của chính phủ điện tử như là một hạt nhân tốt của tập hợp
những mô hình kỹ thuật chuẩn tới những giải pháp kỹ thuật thuận lợi. Hoạt
động thứ hai sẽ là sự tập hợp và phân tích của thông tin kiến trúc dữ liệu và
công việc thông qua chính phủ cho việc xác đònh những cơ hội cho việc sáng
kiến chính phủ điện tử và loại ra những dư thừa. Khởi đầu sự nổ lực này sẽ
tập trung trên bốn vùng chính bao gồm An ninh Quốc gia, sự kích thích kinh
tế, các cơ quan dòch vụ xã hội, và đằng sau của những họat động văn phòng.
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 14
SVTH : Hà Minh Chánh
7. Thực hiện:
Truy cập trực
tuyến tới những những lợi ích cần thiết, và những dòch vụ. Chúng cũng sẽ
mang lại những công cụ quản lý quan hệ hiện đại cho việc phát triển chất
lượng và hiệu qủa của sự phân phối dòch vụ.
•
Chính phủ với Doanh nghiệp (Government to Business(G2B))
Những
sáng kiến sẽ giảm đi rào cản cho những doanh nghiệp bằng cách làm theo
những xử lý mà đột ngột làm giảm đi dư thừa tập hợp dữ liệu, cung cấp một
cửa tạo luồng hổ trợ cho những doanh nghiệp, và quan hệ kỹ thuật số với các
doanh nghiệp sử dụng ngôn ngữ của thương mại điện tử (XML).
Doanh Nghiệp
Hiệu suất và Hiệu qủa
trong nội bộ
Chính phủ
Chính phủ
Người dân
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 15
SVTH : Hà Minh Chánh
•
Chính phủ với Chính phủ (Government to Government(G2G))
Những
sáng kiến sẽ chia sẽ thông tin và thống nhất của cả nước, tỉnh thành và các
dữ liệu cục bộ tới việc dễ dàng tạo lực đòn bẩy của sự đầu tư những hệ
thống công nghệ thông tin tốt hơn (chẳng hạn. thông tin đòa lý) và cung cấp
sự thống nhất tốt hơn của những hoạt động chính của chính phủ như sự đối
phó với tai họa, thiên tai. Những sáng kiến G2G cũng phát triển những khả
năng chứng nhận (thực hiện theo luật). Những sáng kiến sẽ cũng hổ trợ cho
cho việc phát triển của các Quốc gia. Công nghệ được nhấn mạnh quá mức đã
làm phương hại đến các thành phần khác, và vì thế điều đó sẽ không được bàn
luận ở đây.
Về mặt Tổ chức, ở đó có thể có giá trò tốt cho việc phân chia rõ ràng trách
nhiệm cho cơ sở hạ tầng công nghệ chính phủ điện tử cơ bản tới việc tạo nên
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 16
SVTH : Hà Minh Chánh
một hình thể cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông của một quốc
gia những trách nhiệm nào của cơ sở hạ tầng qua tất cả phạm vi của ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông, không phải chỉ việc cai quản điện tử (e-
governance). Những hình thể với loại chức năng này đã tồn tại trong các quốc
gia đang phát triển. Mục đích là bảo đảm rằng Cai quản điện tử thì không được
kém hiệu qủa từ công việc của điều đó như chiến lược, cấu trúc và xử lý, và ở
đó nó được giữ lại để hiểu rằng công nghệ là người hầu của việc cai quản tốt,
và thực hiện chính phủ điện tử. Phần thân cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và
truyền thông, như quy hoạch và quan sát danh sách các công nghệ, nó cũng sẽ
cần thiết cho việc tập trung trên những tiêu chuẩn và những chính sách cần
thiết cho việc thực hiện sự tiện lợi của công nghệ.
Hình 4.1
KIN TRÚC CA QUN LÝ IN T
(The Architecture of e-Governance)
NGI NHN
truyn
d liu
Web
Mng ni b Internet
(Intranet)
Email
H thng h tr qun lý
H thng d liu cn bn
Vn phòng
t đng
D liu Chính ph
Nhng
ng
dng
truyn
d liu
Nhng
ng
dng
x lý
d liu-
mn
g
KÊNH
(CHANNEL)
X LÝ
NGUN
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 18
SVTH : Hà Minh Chánh
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
I. HIỆN TRẠNG:Trong những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự đổi mới và phát triển
kinh tế, và nhu cầu thông tin trong cuộc sống và trong công việc các cơ quan
chính phủ (CQCP) của Việt Nam ở mức độ khác nhau đã có những cố gắng
nhất đònh trong việc đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào phục vụ các hoạt
động quản lý nhà nước. Nhiều cố gắng đã đem lại những hiệu quả đáng kể
trong việc hiện đại hóa hoạt động của các cơ quan chính phủ như Văn phòng
Chính phủ, các Bộ/Ngành, y ban nhân dân (UBND) một số tỉnh, thành và các
đơn vò khác.
Tuy nhiên có thể nhận thấy là cho đến hiện nay các ứng dụng CNTT chủ yếu
mới được ứng dụng phục vụ các thao tác xử lý dữ liệu tác nghiệp và nghiệp vụ
(operational system) như quản trò hồ sơ nhân sự, quản trò tài chính, quản trò
công văn - văn bản, Đồng thời các ứng dụng CNTT cũng hầu như chỉ dừng ở
việc phục vụ cho các hoạt động nội bộ của CQCP chứ chưa được sử dụng rộng
rãi như một công cụ hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng xã hội như
công dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội,
Internet và các công nghệ hiện đại nhằm tạo sự ổn đònh lâu dài và hiệu qủa từ
công nghệ hiện đại đem lại.
2. Xây dựng giải pháp:
2.1. Những vấn đề chung của giải pháp :
2.1.1. Hạ tầng kỹ thuật và truyền thông:
2.1.1.1. Hạ tầng thiết bòKhi thực hiện đòi hỏi hệ thống thiết bò tiêu chuẩn của các mạng LAN, WAN
trung bình hiện tại thời điểm triển khai. Yêu cầu thiết bò có thể tăng cao khi
hệ thống có yêu cầu hoạt động trên diện rộng trong phạm vi đòa lý lớn. Khi
đó yêu cầu chủ yếu liên quan đến hệ thống truyền thông với các tiêu chuẩn
kết nối của Internet phù hợp với cường độ vận hành hệ thống.
2.1.1.2. Hệ thống mạng
Xây dựng các hệ thống trên môi trường Microsoft với hệ điều hành mạng
WindowsNT, ASP, IIS. Và sử dụng CSDL là các hệ thống client/server
chuẩn như Microsoft SQL Server, Oracle. Nếu máy chủ CSDL được tách
riêng có thể sử dụng hệ điều hành UNIX, LINUX
.
2.1.1.3. Môi trường máy trạm
Môi trường máy trạm là PC với hệ điều hành Windows 98, 2000, XP chế độ
màn hành tối ưu là 800 x 600 và sử dụng IE 5.0 trở lên. Tuy nhiên hệ thống
vẫn hoạt động tốt với các chế độ màn hình khác.
Hệ thống thông tin xã hội. A. Hệ thống báo cáo bội bộ:
1. Mục tiêu và Giải pháp IRS :IRS là giải pháp công nghệ phần mềm nhằm xây dựng hệ thống thông tin nội
bộ của một CQCP cụ thể trong đó tập trung vào hệ thống xử lý dữ liệu báo cáo,
kết hợp với hoạt động và xử lý dữ liệu của các chuyên viên trong mỗi lónh vực
chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của:
1. Lãnh đạo các cấp, đặc biệt là lãnh đạo cấp cao nhất của tổ chức.
2. Lãnh đạo và cơ quan quản lý cấp trên trong hệ thống ngành dọc.
3. Lãnh đạo các cơ quan quản lý ngang cấp, ví dụ như các sở của cùng một
tỉnh/thành phố.
4. Các chuyên viên, chuyên gia trong mỗi lónh vực chuyên môn cụ thể
trong hoạt động của CQCP.
Tập trung đáp ứng các nhu cầu quản lý (thay vì các nhu cầu tác nghiệp thuần
túy) là mục tiêu quan trọng nhất của hệ thống IRS trong đó có nhu cầu được
cung cấp thông tin (báo cáo) và nhu cầu phổ biến các quyết đònh, tài liệu, văn
bản, chỉ thò của lãnh đạo cấp trên xuống các cấp dưới (phổ biến).
Như vậy IRS không nhằm xây dựng các hệ thống ứng dụng tác nghiệp (ví dụ:
hệ thống hồ sơ cán bộ, hệ thống kế toán, hay các hệ thống tác nghiệp theo
chức năng chuyên môn như quản lý đăng ký nhà đất, ) mà nhằm mục tiêu xây
dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý trên cơ sở tổng
hợp dữ liệu từ nhiều hệ thống tác nghiệp đang có (hoặc sẽ có) trong tổ chức,
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 21
Nhóm chức năng thu thập dữ liệu
- nhóm này bao gồm các “giao diện dữ
liệu” (data interfaces) của hệ quản lý với các hệ thống tác nghiệp và các chức
năng cập nhật dữ liệu không có hoặc chưa có trong các hệ thống tác nghiệp của
tổ chức. Đối với các tổ chức đã có những hệ thống tác nghiệp chủ yếu, các giao
diện dữ liệu sẽ giúp giảm thiểu nguồn lực cho việc nhập liệu đồng thời đảm
bảo tính đồng bộ, nhất quán giữa dữ liệu tác nghiệp và thông tin quản lý.
CN5.
Nhóm chức năng kết nối
- là nhóm chức năng tạo các kết nối thông tin và
dữ liệu đối với các hệ thống khác (hệ thống cấp trên, hệ thống của các cơ quan
ngang cấp, các hệ thống chuyên ngành, ).
CN6.
Quản trò và hỗ trợ hệ thống
- đây là nhóm chức năng đảm bảo cho vận
hành hệ thống bao gồm các chức năng quản trò sử dụng, bảo mật, đảm bảo an
toàn thông tin và các chức năng hỗ trợ duy trì hệ thống.
IRS xây dựng các giải pháp và công cụ tiêu chuẩn cho mỗi nhóm hoặc mỗi
chức năng cụ thể. Các chức năng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với yêu
cầu cụ thể của mỗi tổ chức, cơ quan và bài toán trọng tâm được đặt ra. Giao
diện cuối cùng của người sử dụng sẽ được thiết kế theo yêu cầu. Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 22
SVTH : Hà Minh Chánh
3. IRS - Kiến trúc phần mềm:IRS là một giải pháp công nghệ tổng thể với trọng tâm là hệ thống cơ sở dữ
việc kết nối, chuyển tải thông tin giữa các đơn vò và đối tượng khác nhau. Công
cụ truyền thông của IRS chủ yếu được xây dựng trên giao thức truyền thông
TCP/IP và các giao thức, tiêu chuẩn Internet.
SC6. Bộ công cụ giao diện ngoài đảm nhiệm chức năng trao đổi dữ liệu với
hệ thống ngoài. SC6 gồm phần cố đònh khi hệ thống kết xuất dữ liệu và phần
có thể cố đònh, có thể thay đổi khi hệ thống nhận dữ liệu từ hệ thống bên
ngoài.
Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược và Giải pháp để xây dựng Chính phủ điện tử”
GVHD : ThS Bùi Đình Tiền Trang 23
SVTH : Hà Minh Chánh
SC7. Bộ công cụ quản trò người sử dụng. Đây là bộ công cụ cố đònh, được
thiết kế phù hợp với các tiêu chuẩn quản lý NSD tiên tiến nhất. Có thể áp dụng
cho nhiều hệ thống khác nhau.
SC8. Bộ công cụ bảo mật. Cũng là các công cụ cố đònh được xây dựng trên cơ
sở khai thác các giải pháp công nghệ bảo mật tiên tiến.
Bộ công cụ bảo trì hệ thống, đảm nhiệm chức năng bảo trì hoạt động, thống kê
truy cập, backup dữ liệu, khôi phục dữ liệu,
4. Kết luận: Chuyển phạm vi ứng dụng từ các thao tác xử lý dữ liệu thuần tuý sang phục
vụ các nhu cầu quản lý hoạt động. Từ phục vụ các nhu cầu nội tại sang phục
vụ các yêu cầu của công dân và xã hội theo chức năng quản lý nhà nước của
các cơ quan chính phủ là xu hướng quan trọng nhất và là đònh hướng chủ đạo
cho các ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước và chính phủ hiện nay.
lớn các dữ liệu tác nghiệp, các dữ liệu này lại thường không có đầy đủ từ tất
cả các lónh vực hoạt động. Chính vì vậy thông tin báo cáo lãnh đạo ít khi
được tổng hợp thuần tuý từ các hệ tác nghiệp một cách tự động mà thường
cần được kết hợp với thông tin từ hoạt động của các chuyên viên (phân tích,
xử lý, dự báo, kế hoạch, ). Những đặc điểm trên đây đòi hỏi giải pháp tổng
hợp để xây dựng một hệ thông tin quản lý hiệu quả.
Khó khăn lớn nhất khi triển khai các hệ thống tin học ứng dụng trong các tổ
chức chính phủ là việc không thể sử dụng các phần mềm đa dụng sẵn có
trên thò trường.
Trong khi đó quá trình xây dựng các hệ thống theo dự án lại thường kéo dài,
không tính hết được khả năng thay đổi và chất lượng thấp cao do thiết kế và
phần mềm mới được lập lần đầu tiên, chưa được thử nghiệm trong thực tế.
Thực tiễn đó đòi hỏi một cách nhìn, cách tư duy mới. Hệ thống ứng dụng cần
phải được xây dựng bằng giải pháp công nghệ được thiết lập trước, trên cơ sở
các components được tích hợp một cách linh hoạt và một bộ phận lớn trong số
đó đã được kiểm tra, kiểm nghiệm và đảm bảo độ tin cậy cần thiết.
Hệ thống IRS có khả năng vận hành được trên tất cả những môi trường hiện
được trang bò trong hệ thống các cơ quan chính phủ.
IRS hoạt động tốt mà không đòi hỏi quá nhiều về tài nguyên phần cứng
cũng như những phần mềm đi kèm. Ngoài ra, IRS cũng có thể được cài đặt
để chạy trên môi trường Internet hiện thời tại Việt Nam.
B. Hệ Thống Thông Tin Xã Hội:
giao tiếp đa kênh của CQCP với bên ngoài nhằm phân loại, chỉ rõ và miêu
tả những thông tin và dòch vụ của chính phủ giúp người dân với những mức
độ hiểu biết và kỹ năng khác nhau dễ dàng nhận ra, khám phá và truy cập.
2. Chc nng SIS:SIS nhằm mục đích xây dựng các kênh thông tin giao tiếp, phổ biến thông tin
của chính phủ với các nhóm chức năng chủ yếu sau đây:
CN1.
Chức năng cung cấp, thể hiện thông tin
- đây là nhóm chức năng cung
cấp các thông tin đã được xử lý đến các đối tượng sử dụng. Toàn bộ
thông tin của hệ thống sẽ được phân loại và nhóm theo những chủ để,
lónh vực và tiêu chí khác nhau nhằm giúp người sử dụng dễ dàng hơn
trong công việc tra cứu dữ liệu. Ngoài ra, CN1-SIS còn cung cấp cho
người sử dụng các cổng (Portal) giao tiếp với các cơ quan chính phủ
khác.
CN2.
Chức năng tìm kiếm thông tin
- Chức năng này nhằm cung cấp cho người
sử dụng các công cụ tra cứu thông tin theo toàn văn (Fulltext Search)
hoặc tìm kiếm theo một vài nhóm tiêu chí của thông tin (Category) đã
được đònh nghóa trước.
CN3. Chức năng thu thập thông tin phản hồi - Nhóm chức năng này sẽ cung
cấp tới người sử dụng những công cụ đơn giản như form, email nhằm hỗ
trợ người sử dụng cập nhật các ý kiến đóng góp tới cơ quan chính phủ.