một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tahi vietcombank quảng ngãi - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đã
tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư trực
tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Điều này đã thúc đẩy các hoạt động trong nền kinh tế
nước ta phát triển mạnh, đặc biệt là các hoạt động thương mại, đầu tư và tài chính
quốc tế (TTQT), kéo theo đó là sự phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại
(NHTM) mà cụ thể có thể kể đến là hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng vì
đây là hoạt động có mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ đối với thương mại và đầu
tư quốc tế.
Tuy nhiên, với việc mở cửa nền kinh tế, các ngân hàng không những phải cạnh
tranh với các Ngân hàng trong nước mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng liên
doanh và ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính và công nghệ hơn hẳn các ngân
hàng trong nước. Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng trong hoạt
động thanh toán quốc tế, được xem là vấn đề cần thiết để các ngân hàng có thể tồn tại
và phát triển trong giai đoạn hiện nay. Vietcombank cũng không ngoại trừ, vấn đề tìm
ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả .
Đặt biệt khi Quảng Ngãi là một thành phố tuy nhỏ bé, nhưng hàng loạt ngân hàng
tập trung trong địa bàn thành phố và khu kinh tế dung quốc đầy tiềm năng phát triển
nên việc cạnh tranh giữa các ngân hàng càng gây gắt hơn. Vì thế Vietcombank Quảng
ngãi phải tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động Thanh toán quốc tế
của ngân hàng này trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.
Xuất phát từ những phân tích trên, trong khoá luận tốt nghiệp của mình, em đã
chọn nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT tại
Vietcombank Quảng Ngãi.
Chính vì lý do đó em đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Vietcombank Quảng Ngãi”.
2. Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại
Vietcombank Quảng Ngãi.

− Kết luận.
− Kiến nghị.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
Chương 1:
1.1 Khái niệm Thanh Toán Quốc Tế:
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ hoạt động mậu dịch và
phi mậu dịch giữa các cá nhân, tổ chức tại quốc gia này với các cá nhân, tổ chức ở
quốc gia khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế thông qua hệ thống
ngân hàng.
Từ khái niệm trên cho ta thấy, TTQT phát sinh từ hai lĩnh vực hoạt động là kinh
tế và phi kinh tế và thực tế trong quy chế thanh toán của các NHTM người ta thường
phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng: thanh toán mậu dịch và thanh toán
phi mậu dịch.
Thanh toán mậu dịch (TTQT trong ngoại thương) là việc thanh toán xuất phát từ
hoạt động kinh tế trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và cung ứng các dịch vụ thương
mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Hợp đồng ngoại thương là cơ sở để
các nhà nhập khẩu bán và thanh toán cho nhau.
Thanh toán phi mậu dịch (thanh toán phi ngoại thương) là việc thanh toán xuất
phát từ hoạt động phi kinh tế, không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như
cung ứng các dịch vụ cho nước ngoài mà chỉ là việc thanh toán để chi trả các chi phí
của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại, ăn ở của các đoàn khách
Nhà nước, tổ chức và cá nhân, trợ cấp của cá nhân nước ngoài cho cá nhân người
trong nước…
Thực hiện nghiệp vụ TTQT tức là ngân hàng đã thực hiện chức năng của một
ngân hàng quốc tế, vì thế đòi hỏi hoạt động của ngân hàng phải có trình độ chuyên
môn cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến, phải kết nối hài hoà giữa ngân hàng trong
nước với hệ thống ngân hàng thế giới. Cụ thể, để thực hiện nghiệp vụ TTQT các ngân
hàng cần thiết lập các chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài hoặc thiết lập quan hệ ngân

ngoài. Như vậy, dưới sự hỗ trợ của ngân hàng sẽ giúp quá trình thanh toán được tiến
hành một cách liên tục nhanh chóng thuận lợi, giá trị hàng hoá được thực hiện, có tác
dụng thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó thông qua quá trình giao dịch với ngân hàng
trong từng khâu thanh toán, nếu doanh nghiệp thiếu vốn thì ngân hàng sẽ hỗ trợ cho
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
doanh nghiệp kịp thời giúp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi
hơn.
1.2.3 Đối với Ngân Hàng Thương Mại:
Ngày nay, ngoại trừ những hoạt động mua bán nhỏ, một số giao dịch hạn chế tại
biên giới được chi trả bằng tiền mặt, hầu như các hoạt động kinh doanh hợp pháp trên
thế giới đều được thực hiện thông qua các định chế trung gian.
Với chức năng trung tâm thanh toán, hoạt động thanh toán của các NHTM đã trở
thành một hoạt động không thể thiếu và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
hàng hoá.
Nhờ hoạt động TTQT các ngân hàng có thể tạo thêm được lợi nhuận cho mình
bằng những khoản phí, hoa hồng, đồng thời cũng tạo điều kiện để các hoạt động kinh
doanh khác của ngân hàng phát triển như: kinh doanh ngoại tệ, tài trợ ngoại thương,
bảo lãnh, đầu tư, ngân quỹ…
Như vậy thực hiện tốt nghiệp vụ TTQT sẽ tạo điều kiện để phát triển các nghiệp
vụ và mở rộng quy mô hoạt động ngân hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng trên
thương trường quốc tế.
1.3 Các phương thức TTQT:
1.3.1 Phương thức chuyển tiền:
− Khái niệm:
Chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng
(người có yêu cầu) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền xác định cho
người thụ hưởng ở một địa điểm xác định và trong một thời gian nhất định.

chuyển tiền đến người thụ hưởng thông qua ngân hàng thanh toán.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 6
Ngân hàng chuyển
tiền
Ngân hàng thanh
toán
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
(1)
(4)
(3)
(2)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
Bước 4: Ngân hàng thanh toán chuyển tiền đến người thụ hưởng và gửi giấy
báo có cho đơn vị.
− Ưu nhược điểm của phương thức chuyển tiền:
+ Ưu điểm:
• Thủ tục đơn giản, nhanh chóng;
• Tiền được chuyển nhanh, an toàn, chi phí thấp
+ Nhược điểm:
Trong phương thức này Ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện việc thanh toán
theo ủy nhiệm để hưởng thủ tục phí (hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả. Vì thế
quyền lợi của nhà xuất khẩu không được bảo đảm là sẽ nhận được tiền hay không.
Việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của người mua. Người bán có kiện
được cũng khó khăn. Vì vậy, phương thức này ít được sử dụng.
− Áp dụng phương thức chuyển tiền:
Người ta áp dụng phương thức thanh toán này trong thanh toán các khoản tương
đối nhỏ như thanh toán các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu: chi phí vận
chuyển, bảo hiểm, bồi thường thiệt hại hoặc dùng trong thanh toán phí mậu dịch,

khẩu có kịp thời thu tiền và thu được hết tiền không.
− Áp dụng phương thức ghi sổ:
Thông thường phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa hai đơn vị
quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 8
Ngân hàng
Bên mua
Ngân hàng bên bán
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
(1)
(4)
(3)
(2)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
− Vai trò của ngân hàng trong phương thức ghi sổ:
Phương thức này không có sự tham gia của các ngân hàng (ngân hàng chỉ mở tài
khoản và thanh toán), chỉ có hai bên tham gia thanh toán: nhà xuất khẩu và nhà nhập
khẩu.
1.3.3 Phương thức giao chứng từ nhận tiền:
− Khái niệm:
Là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu, trên cơ sở hợp đồng mua
bán, yêu cầu ngân hàng bên xuất khẩu mở cho mình một tài khoản tín thác để thanh
toán tiền cho bên xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ chứng từ như đã thỏa
thuận.
− Quy trình thanh toán giao chứng từ nhận tiền:
Sơ đồ 1.3: Quy trình thanh toán giao chứng từ nhận tiền
 Chú thích:
Bước 1: Trên cơ sở hợp đồng thương mại, nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng

đã được tiền ngay.
+ Nhược điểm:
Nhà nhập khẩu cần phải có đại diện bên nước nhà xuất khẩu để xác nhận hàng
hoá trước khi gửi.
Nhà nhập khẩu phải kí quỹ để thực hiện phương thức này nên sẽ dẫn đến việc
ứ đọng vốn ở ngân hàng.Nếu nhà xuất khẩu không giao hàng thì tiền kí quỹ sẽ không
được hưởng lãi suất.
− Áp dụng phương thức giao chứng từ nhận tiền:
Phương thức này được áp dụng trong trường hợp nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu
phải tin tưởng lẫn nhau.
Nhà nhập khẩu phải có đại diện bên nước nhà xuất khẩu vì trong bộ chứng từ mà
nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu xuất trình có giấy chứng nhận của đại diện
người mua về việc giao hàng hóa
− Vai trò của ngân hàng trong phương thức giao chứng từ nhận tiền:
Ngân hàng ở đây đóng vai trò quan trọng đề phòng rủi ro cho nhà xuất khẩu khi
bên nhập khẩu không hoàn trả nốt thanh toán, bên xuất khẩu sẽ yêu cầu ngân hàng
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
của bên nhập khẩu trả lại bộ chứng từ giao hàng để tìm cách bán lô hàng cho đơn vị
nhập khẩu khác hoặc yêu cầu hãng tàu tái xuất lô hàng đi nước khác hoặc đưa trở lại
nước mình. Bên xuất khẩu sẽ dùng số tiền bên nhập khẩu đã trả để trang trải các chi
phí liên quan đến việc giải quyết lô hàng.
1.3.4 Phương thức thư ủy thác mua:
− Khái niệm:
Là phương thức thanh toán trong đó ngân hàng bên nhà nhập khẩu, theo yêu cầu
của nhà xuất khẩu, viết thư cho ngân hàng đại lý tại nước xuất khẩu để yêu cầu ngân
hàng này thay mặt mình mua hộ hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát cho bên nhập
khẩu.
Ngân hàng đại lý căn cứ vào những điều khoản quy định của thư ủy thác mà

do đó yêu cầu nhà nhập khẩu phải chuyển tiền sang ngân hàng xuất khẩu để ủy thác
cho ngân hàng trả tiền hối phiếu của nhà xuât khẩu ký thác.
− Vai trò của ngân hàng trong phương thức thư ủy thác mua:
Vai trò của ngân hàng trong phương thức này khá quan trọng. Ngân hàng mua
hối phiếu của nhà xuất khẩu, tạo cho phương thức này một sự an toàn trong việc nhà
xuất khẩu nhận được tiền thanh toán.
1.3.5 Phương thức thanh toán nhờ thu:
− Khái niệm:
Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng
hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ
thông qua ngân hàng thu hộ nhà nhập khẩu để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu
hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.
Theo ngôn ngữ luật, nhờ thu được định nghĩa theo Điều 2 trong URC 522 như
sau:
+ “ Nhờ thu“ là nghiệp vụ của các ngân hàng trong việc xử lý các chứng từ được
quy định tại mục (b) của Điều khoản này theo đúng các Chỉ thị nhận được,
nhằm:
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
• Được thanh toán và/ hoặc chấp nhận; hoặc
• Trao chứng từ khi được thanh toán và/ hoặc khi được chấp nhận; hoặc
• Trao chứng từ kèm các điều khoản và điều kiện khác.
+ “ Chứng từ“ bao gồm các chứng từ tài chính và/ hoặc chứng từ thương mại.
• " Chứng từ tài chính“ bao gồm hối phiếu, kỳ phiếu, séc, hoặc các phương
tiện tương tự khác được sử dụng trong việc chi trả, thanh toán tiền.
• “ Chứng từ thương mại“ bao gồm hoá đơn, chứng từ vận tải, các chứng từ
có tiêu đề hoặc các chứng từ tương tự khác, hoặc bất kỳ chứng từ nào khác không
phải là chứng từ tài chính.
+ “Nhờ thu trơn“ là Nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính mà không kèm theo

Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán mà nhà xuất khẩu sau khi giao hàng
hoá, lập chứng từ thương mại gửi tới nhà nhập khẩu sẽ ký phát hối phiếu và Lệnh nhờ
thu gửi ngân hàng để nhờ thu hộ.
Sơ đồ 1.5: Quy trình thanh toán nhờ thu trơn

 Chú thích:
Bước 1: Nhà xuất khẩu giao hàng và lập chứng từ gửi đến cho nhà nhập khẩu.
Bước 2: Nhà xuất khẩu lập hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu và thư uỷ nhiệm thu
gửi ngân hàng phục vụ mình Nhờ thu hộ tiền nhà nhập khẩu.
Bước 3: Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển hối phiếu và chỉ thị Nhờ thu
qua ngân hàng thu hộ để thu tiền ở nhà nhập khẩu.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 14
Ngân hàng xuất
trình
Ngân hàng nhận ủy
thác thu
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
(1)
(7)
(6)
(2)
(3)
(5)(4)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
Bước 4: Ngân hàng thu hộ sẽ đòi tiền hoặc yêu cầu nhà nhập khẩu chấp nhận hối
phiếu.
Bước 5: Nhà nhập khẩu trả tiền hoặc ký chấp nhận hối phiếu.
Bước 6: Chuyển tiền hoặc chuyển chấp phiếu qua ngân hàng chuyển giao hoặc

(6)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
 Chú thích:
Bước 1: Nhà xuất khẩu chuyển giao hàng hoá cho nhà nhập khẩu.
Bước 2: Nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ hàng hoá, ký phát hối phiếu và chỉ thị
Nhờ thu gửi đến ngân hàng.
Bước 3: Ngân hàng nhận uỷ thác thu lập chỉ thị Nhờ thu và chuyển bộ chứng từ
Nhờ thu sang ngân hàng đại lý bên nước nhà nhập khẩu.
Bước 4: Ngân hàng Nhờ thu xuất trình hối phiếu yêu cầu nhà nhập khẩu trả ngay
hay ký chấp nhận hối phiếu.
Bước 5: Nhà nhập khẩu trả tiền hoặc ký chấp nhận lên hối phiếu.
Bước 6: Ngân hàng xuất trình giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà nhập khẩu để
đi nhận hàng.
Bước 7: Chuyển tiền hoặc chuyển chấp phiếu cho ngân hàng chuyển giao hoặc
thông báo hối phiếu đã được ký chấp nhận.
Bước 8: Thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu.
Với phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ thì quyền lợi của nhà xuất
khẩu đã được đảm bảo hơn so với phương thức nhờ thu trơn.
+ Nhờ thu với điều kiện khác:
• Thanh toán từng phần: đây là hình thức thanh toán kết hợp cả hai
phương thức D/A và D/P. Theo đó, ngân hàng sẽ trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu
khi một phần số tiền Nhờ thu được thanh toán ngay, phần còn lại được thanh toán theo
điều kiện D/A, nghĩa là chấp nhận một hối phiếu độc lập.
• Trao chứng từ đổi lấy lệnh phiếu.
• Trao chứng từ đổi lấy giấy nhận nợ.
• Trao chứng từ khi có biên lai tín thác.
− Ưu nhược điểm của phương thức nhờ thu:
+ Ưu điểm:
Có lợi cho nhà nhập khẩu vì việc nhận hàng hóa trên cơ sở bộ chứng từ hàng
hóa được nhà xuất khẩu chuyển giao cho mình.

cho phép ngân hàng chiết khấu với điều kiện bộ chứng từ phải hợp với tất cả điều
khoản và điều kiện của Tín dụng thư.
Theo Điều 2, UCP 500 định nghĩa phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như
sau:
“Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, theo đó một ngân hàng (NHPH) hành
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
động theo yêu cầu và theo các chỉ thị của một khách hàng (người mở L/C) hoặc trên
danh nghĩa chính mình,
i. phải trả tiền cho hoặc trả tiền theo lệnh của một bên thứ ba (Người hưởng
lợi), hoặc chấp nhận và trả tiền hối phiếu do Người hưởng lợi ký phát, hoặc
ii. uỷ quyền cho một ngân hàng khác trả tiền, hoặc chấp nhận và trả tiền các
hối phiếu, hoặc
iii. uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu, đối với chứng từ quy định
được xuất trình và tuân thủ các điều kiện của Tín dụng“
− Các hình thức thư tín dụng (L/C):
+ Thư tín dụng được phép hủy ngang (revocable letter of credit)
+ Thư tín dụng không hủy ngang (irrevocable letter of credit)
+ Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (confirmed irrevocable L/C)
+ Thư tín dụng tuần hoàn (Revoling L/C)
+ Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)
+ Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)
+ Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C)
+ Thư tín dụng dự phòng ( Stand-by L/C)
+ Thư tín dụng có thể chuyển nhượng được (Irrevocable transferable L/C)
+ Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable credit)
− Quy trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ:
Sơ đồ 1.7: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm

nhà xuất khẩu.
Bước 5: Nhà xuất khẩu chấp nhận L/C sẽ tiến hành giao hàng, nếu không chấp
nhận sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung thông qua ngân hàng thông báo.
Bước 6: Sau khi giao hàng xong, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
L/C và xuất trình cho ngân hàng thông báo.
Bước 7: Ngân hàng được chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành.
Bước 8: Ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp
với L/C do mình phát hành thì tiến hành thanh toán cho nhà xuất khẩu thông qua ngân
hàng thông báo, nếu thấy không phù hợp thì có thể từ chối thanh toán.
Bước 9: Ngân hàng thông báo báo có với nhà xuất khẩu hoặc thông báo về tình
trạng bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu.
Bước 10: Ngân hàng phát hành đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ
cho nhà nhập khẩu sau khi đã được nhà nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Bước 11: Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả
tiền hoặc chấp nhận trả tiền và nhận bộ chứng từ đi nhận hàng, nếu thấy không phù
hợp thì có quyền từ chối trả tiền.
− Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ:
+ Ưu điểm:
L/C là một trong những phương thức thanh toán đảm bảo an toán cho cả nhà
nhập khẩu lẫn nhà xuất khẩu.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 19
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
• Đối với nhà nhập khẩu:
Phương thức này đảm bảo cho việc nhận hàng hóa đúng số lương, chất
lượng theo quy định trong hợp đồng. Nhà nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán nếu
người bán không giao hàng hay lập bộ chứng từ không phù hợp với điều kiện quy định
trong L/C. Ngân hàng kiểm tra tính chân thật của bộ chứng từ thanh toán do nhà xuất
khẩu gởi đến.
• Đối với nhà xuất khẩu:

tích cực hơn nhiều, theo đó các ngân hàng thực hiện trả tiền theo cam kết của mình.
Với phương thức thanh toán này, các ngân hàng có những cam kết và trách
nhiệm tuỳ thuộc vào vai trò của ngân hàng mình trong quy trình thanh toán cụ thể:
+ Đối với ngân hàng Phát hành:
Ngân hàng phát hành với vai trò là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu, ngân
hàng sẽ căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng của nhà nhập khẩu, hợp đồng thương mại
để xem xét, đối chiếu với yêu cầu. Nếu đáp ứng yêu cầu, ngân hàng sẽ tiến hành mở
thư tín dụng; thông báo nội dung thư tín dụng đó và gửi bản gốc cho người hưởng lợi
thông qua ngân hàng thông báo.
Ngân hàng tiếp nhận các yêu cầu liên quan đến việc chỉnh sửa thư tín dụng đã
mở, tiến hành tu chỉnh nội dung thư tín dụng theo yêu cầu và sự thoả thuận của các
bên có liên quan. Đồng thời thông báo kịp thời những nội dung đã điều chỉnh cho các
bên có liên quan, qua ngân hàng Thông báo.
+ Đối với ngân hàng thông báo:
Ngân hàng thông báo là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy nhiệm việc
chuyển giao thư tín dụng đã phát hành cho người hưởng lợi.
+ Đối với ngân hàng thanh toán:
Ngân hàng thanh toán có thể là ngân hàng phát hành thư tín dụng hoặc một
ngân hàng khác, do ngân hàng phát hành ủy nhiệm. Trách nhiệm của ngân hàng thanh
toán là tiến hành kiểm tra bộ chứng từ do người xuất khẩu chuyển đến, nếu bộ chứng
từ phù hợp với thư tín dụng sẽ tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán khi đến
hạn. Ngược lại, nếu bộ chứng từ bất hợp lệ, sẽ từ chối thanh toán hoặc từ chối chấp
nhận thanh toán cho người hưởng lợi.
+ Đối với ngân hàng xác nhận:
Ngân hàng xác nhận là ngân hàng cùng với ngân hàng phát hành thực hiện cam
kết trả tiền trong thư tín dụng cho người hưởng lợi. Vì thế, ngân hàng xác nhận có
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 21
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
trách nhiệm thực hiện cam kết thanh toán cho người hưởng lợi nếu bộ chứng từ hoàn

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
Qua sự phân tích trên ta có thể khái quát rằng: rủi ro trong thanh toán quốc tế
dưới góc độ ngân hàng là những bất trắc có thể xảy ra trong quá trình thực hiện
phương thức thanh toán quốc tế làm ảnh hưởng đến lợi nhuận và uy tín của ngân hàng.
1.4.2 Các loại rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế:
− Nhóm các rủi ro mang tính chất vĩ mô:
+ Rủi ro chính trị: môi trường chính trị trong hầu hết các nước có khuynh
hướng hỗ trợ tổng quát đối với những nỗ lực trong thương mại quốc tế. Chính phủ có
thể giảm hàng rào thương mại hoặc tăng cơ hội thương mại thông qua những mối quan
hệ thương mại song phương hoặc đa phương. Ngoài ra đối với một số nước còn có
những luật lệ và quy định cụ thể để hạn chế kinh doanh giữa các quốc gia như lệnh
cấm vận hoặc đạo luật thương mại có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
+ Rủi ro kinh tế: trong thương mại quốc tế, vấn đề thanh toán sẽ gặp rủi ro
khi tình hình kinh tế quốc gia của các bên có liên quan hoặc tình hình chung trên thế
giới có nhiều biến động như khủng hoảng về kinh tế hoặc khủng hoảng về tài chính.
Khủng hoảng kinh tế thường gắn liền với sức mua của người tiêu dùng. Khi sức mua
giảm thì việc tiêu thụ hàng hoá trên thị trường gặp khó khăn ảnh hưởng đến việc thu
hồi vốn và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, đặc biệt đối với những thương vụ
mua hàng trả chậm. Khủng hoảng tài chính tạo ra sự khan hiếm ngoại tệ mạnh được
dùng trong thanh toán quốc tế giữa các quốc gia dẫn đến tình trạng khát ngoại tệ để
thanh toán, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu và uy tín của ngân
hàng.
+ Rủi ro về pháp luật: rủi ro về pháp luật chủ yếu thường do các quốc gia
có những hệ thống pháp luật riêng, do đó trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế
sẽ dẫn đến tình trạng khó khăn cho các bên thực hiện. Ngoài ra, một số quốc gia còn
có những quy định về pháp lý đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và quy
chế quản lý ngoại hối. Những quốc gia thiếu ngoại tệ sẽ có khuynh hướng kiểm soát
việc di chuyển vốn vào và ra khỏi đất nước. Với quy chế quản lý ngoại hối, việc
chuyển tiền ra nước ngoài sẽ gặp khó khăn và sẽ ảnh hưởng đến quá trình thanh toán

+ Rủi ro tín dụng: là rủi ro phát sinh khi khách hàng không có khả năng
thanh toán hay thực hiện những cam kết của mình. Nguyên nhân gây ra rủi ro này là
do sai sót trong khâu thẩm định tín dụng khách hàng của cán bộ ngân hàng hoặc do
những nguyên nhân khách quan từ môi trường như lãi suất, môi trường kinh doanh…
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Diễm
Trang 24
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Thu Hòa
+ Rủi ro hối đoái: là rủi ro bắt nguồn từ sự biến động bất lợi về tỷ giá và quy
chế quản lý ngoại hối của chính phủ. Các yếu tố này tác động mạnh mẽ đến loại tài sản
bằng ngoại tệ cũng như các dịch vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
+ Rủi ro uy tín: là những rủi ro phát sinh từ cách thức quản trị hoặc cơ cấu tổ
chức bất hợp lý hoặc những yếu tố tương tự khiến cho ngân hàng mất uy tín trên thị
trường tài chính và giảm niềm tin của khách hàng vào ngân hàng.
Trên đây là những rủi ro hết sức cơ bản mà một ngân hàng khi tham gia vào
thanh toán quốc tế có thể gặp phải. Tùy từng trách nhiệm của các ngân hàng mà có thể
phát sinh rủi ro cụ thể và chuyên biệt hơn.
Trong việc thanh toán xuất nhập khẩu, khả năng rủi ro xảy ra không những đối
với người bán, người mua mà còn ảnh hưởng đến các ngân hàng tham gia. Tùy vào
từng phương thức thanh toán mà có mức độ rủi ro khác nhau. Thông thường giảm dần
theo thứ tự TTR -> D/P -> L/C, tất nhiên đây chỉ là trên lý thuyết, trên thực tế nó còn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa (quan hệ với khách hàng, Ngân hàng thanh toán,
ràng buộc của hợp đồng, ):
+ TTR : Người mua có khả năng không thanh toán tiền mà vẫn nhận được
hàng của mình. Việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của người mua.
Người bán có kiện được cũng khó khăn.
+ D/P : Khi người mua không trả tiền thì cũng sẽ không nhận được chứng từ
để lấy hàng. Nhưng người bán cũng khó lấy được hàng về, khả năng thanh toán chậm
là dễ xảy ra. Rủi ro của người mua sẽ dẫn theo rủi ro cho người bán.
+ L/C : Gần như hiếm có rủi ro xảy ra, nếu có thì đa phần là do người bán sai
sót khi lập bộ chứng từ thanh toán hoặc do người mua cố tình lừa đảo ràng buộc các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status