tính toán thiết kế trạm xử lý nước ngầm cho cụm công nghiệp khu dân cư hải sơn, xã long thượng, huyện cần giuộc, tỉnh long an công suất 5000m3ngđ - Pdf 10

Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Huyện Cần Giuộc là một trong những huyện thuộc vùng kinh tế trọng
điểm của tỉnh Long An được tỉnh quan tâm khuyến khích các nhà đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công
nghiệp, dòch vụ.
Sự phát triển của Cần Giuộc góp phần tăng nhanh tốc độ đô thò hóa vùng,
đặc biệt với những vùng đất đai nông nghiệp năng suất thấp, bạc màu đang được
ưu tiên mời gọi đầu tư phát triển các khu cụm công nghiệp – dân cư.
Cụm công nghiệp – khu dân cư Hải Sơn được hình thành tại xã Long
Thượng, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An theo quyết đònh số 24/QĐ-UBND ngày
01/03/2007 và quyết đònh số 132/QĐ-UBND ngày 11/01/2007 của UBND tỉnh
Long An với quy mô cụm công nghiệp là 54,655 ha, khu dân cư- tái đònh cư là
52,03 ha.
Mục tiêu để xây dựng cụm công nghiệp- khu dân cư Hải Sơn là xây dựng
một cụm công nghiệp hoàn thiện, đồng bộ các hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thay
đổi chức năng sử dụng đất từ một khu sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả thành
khu vực sản xuất sản xuất công nghiệp có hiệu quả cao.
Sự ra đời của cụm công nghiệp- khu dân cư Hải Sơn sẽ thu hút hàng vạn
lao động trực tiếp trong các nhà máy và tạo thêm công ăn việc làm cho hàng vạn
lao động khác trên công trường xây dựng. Chưa kể đến số lượng lao động gián
tiếp cho các dòch vụ khác. Cụm công nghiệp là nơi thu hút các nhà đầu tư sử dụng
các công nghệ sạch và giảm tối đa các tác động gây ô nhiễm môi trường cho
người dân và môi trường xung quanh.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -1- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
Cùng với sự hình thành và phát triển của cụm công nghiệp- khu dân cư
Hải Sơn thì nhu cầu về một nguồn nước sạch và đạt tiêu chuẩn cũng được đặt ra.
Do đó, việc đầu tư xây dựng một trạm xử lý nước cấp tập trung cho cụm
công nghiệp – khu dân cư Hải Sơn để cung cấp nước sạch sử dụng cho các mục

thập và phân tích để đưa ra công nghệ xử lý phù hợp.
• Phương pháp so sánh: So sánh ưu, nhược điểm của công nghệ xử lý hiện có
và đề xuất công nghệ xử lý nước ngầm phù hợp.
• Phương pháp toán: Sử dụng công thức toán học để tính toán các công trình
đơn vò trong hệ thống xử lý nước ngầm, dự toán chi phí xây dựng, vận hành trạm
xử lý.
• Phương pháp đồ họa: Dùng phần mềm AutoCad để mô tả kiến trúc công
nghệ xử lý nước ngầm.
1.6 Ý nghóa khoa học và thực tiễn
Xây dựng trạm xử lý nước ngầm đạt quy chuẩn Việt Nam giải quyết được
vấn đề nước sạch cho cụm công nghiệp – khu dân cư.
Góp phần nâng cao ý thức về vệ sinh môi trường và nước sạch cho nhân
viên cũng như Ban quản lý cụm công nghiệp.
Khi trạm xử lý hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ là nơi để các doanh
nghiệp, sinh viên tham quan, học tập.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -3- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CỤM CÔNG NGHIỆP – KHU DÂN CƯ
HẢI SƠN
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vò trí đòa lý
Cụm công nghiệp- khu dân cư Hải Sơn nằm gần hương lộ 11 và đường
tỉnh lộ 835B, cách quốc lộ 1A khoảng 5 km và cách thò trấn Cần Giuộc khoảng 7
km về hướng Tây Bắc theo đường chim bay và tiếp giáp với ranh giới Tp. Hồ Chí
Minh. Tổng diện tích khu đất là 106,6864 ha, trong đó diện tích dự kiến xây dựng
trạm cấp nước là 0.255 ha.
Hình 1.1 Bản đồ huyện Cần Giuộc năm 2009
Nguồn: Trung tâm thơng tin tài ngun và mơi trường Long An
2.1.2 Đòa hình
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -4- MSSV: 08B1080025

- Trung bình mỗi ngày có 6,8 giờ nắng.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -5- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
- Nếu quy ước tháng nắng là tháng có số giờ nắng trên 200 giờ thì tháng 11
đến tháng 5 năm sau là tháng nắng tại Cần Giuộc.
d. Lượng mưa
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 93% lượng mưa cả
năm.
- Lượng mưa trung bình 1364,4mm/năm.
- Lượng mưa các tháng trong mùa mưa khoảng 106- 244mm/tháng.
- Mùa khô rất ít mưa, lượng mưa trong mùa này vào khoảng 2 -33mm/thá
e. Gió
Hướng gió thònh hành trong năm theo hướng Đông Nam và Tây Nam. Gió
thổi theo hướng Đông Nam từ tháng 11 đến tháng 4, theo hướng Tây Nam từ
tháng 5 đến tháng 10. Tốc độ gió bình quân 1,8 m/giây, lớn nhất 30 m/giây.
2.1.4 Điều kiện thủy văn
2.1.4.1 Nước mặt
Vùng quy hoạch có hệ thống sông và kênh, rạch tương đối phát triển, trong
đó đáng chú ý nhất là sông Cần Giuộc. Sông Cần Giuộc (hay còn gọi là sông
Rạch Cát, sông Phước Lộc) là một dòng sông ngắn, chảy qua đòa phận Thành phố
Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Đoạn chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh của dòng
sông này chỉ dài khoảng 500 m ở ngã ba sông Chợ Đệm – Rạch Cát, còn lại chảy
qua đòa phận tỉnh Long An, tiếp giáp nhiều kênh rạch của lưu vực sông Vàm Cỏ
và huyện Bình Chánh, chảy qua đòa phận xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, qua thò
trấn Cần Giuộc tới đòa phận xã Phước Đông, huyện Cần Đước đến cách sông
Vàm Cỏ khoảng 12,5 km thì dòng sông này tách thành 2 con sông. Một hướng rẽ
ra sông Xoài Rạp, một hướng xuống Vàm Cỏ.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -6- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
Xuôi dòng sông này, nếu đi theo hướng Tây có thể ra sông Xoài Rạp, phía

mặt thấm trực tiếp qua liện lộ. Do vậy, nước dưới đất tầng Holocen phạm vi vùng
quy hoạch hầu như không có ý nghóa cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt.
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen thượng (qp
3
)
Chiều sâu phân bố từ lộ trên mặt cho đến độ sâu khoảng 38m, bề dầy
trung bình của tầng chứa nước khoảng 19,8 m. Nguồn cung cấp nước dưới đất của
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -7- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
tầng này là nước mưa, sông, hồ, kênh mương qua phần lộ trên mặt và tầng chứa
phía trên ở vùng phủ.
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen trung - thượng (qp
2-3
)
Chiều sâu gặp mái của tầng từ 3,8- 38m, chiều sâu đáy tầng từ 23,5-73,2
m. Bề dày tầng biến đổi từ 23,5 – 55,7m, trung bình 36,4 m, nước dưới đất trong
trầm tích Pleistocen trung – thượng là nước có áp, mực áp lực thường cách mặt
đất từ 0,8-1,5m, chiều cao áp lực tính từ mái tầng chứa nước từ 18,8-31,7 m, trung
bình 26,5 m. nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước mưa và nước mặt thấm trực
tiếp từ các vùng lộ ở phía Bắc, Tây Bắc, nước trong trầm tích Pleistocen giữa-
trên có khả năng cấp nước cho ăn uống – sinh hoạt trong vùng nước nhạt.
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen hạ (qp
1
)
Chúng không lộ trên mặt mà bò đất đá của tầng Pleistocen trung - thượng
phủ trực tiếp lên. Chiều sâu gặp lớp mái của tầng biến đổi từ 23,7- 72,3 m, chiều
sâu gặp đáy tầng từ 91,3-113,8 m. Bề mặt lớp mái cách nước và đáy tầng chứa
nước có xu thế chìm dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Chiều dày tầng chứa nước biến đổi từ 40,6-82,5 m, trung bình 64,3 m. Nước dưới
đất tầng trong trầm tích Pleistocen dưới là nước có áp, mực nước thường cách mặt

- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Miocen thượng (n
1
3
)
Các trầm tích Miocen hạ có diện phân bố rộng khắp vùng quy hoạch,
chúng không lộ trên mặt mà bò đất đá của tầng chứa nước Pliocen hạ phủ trực
tiếp lên. Chiều sâu gặp lớp mái cách nước từ 211- 348m, chiều sâu đáy tầng chứa
nước từ 313- 426 m. Nước trong trầm tích Pliocen hạ là nước có áp, mực nước
thường cách mặt đất từ 0,07-3,5m. Đây là tầng khai thác chính, lưu lượng khai
thác khoảng 15 nghìn m
3
/ngày
- Đới chứa nước khe nứt các trầm tích Mezozoi (mz)
Chiều sâu mái đới chứa nước gặp từ 333,5m đến 426m và có hướng tăng
dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Trầm tích Mêzozoi có
diện phân bố rộng, song khả năng chứa nước rất kém, điều kiện khai thác khó
khăn vì nằm dưới sâu nên không phải là đối tượng phục vụ cấp nước.
2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -9- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất
Khu đất quy hoạch cụm công nghiệp – khu dân cư phần lớn là đất ruộng,
một số ít là đất thổ cư, ao, kênh rạch, nghóa đòa và đất khác. Trong 106,69 ha đất
quy hoạch cụm công nghiệp – khu dân cư Hải Sơn, đất thổ cư chiếm 10,30 ha,
đất nông nghiệp chiếm 91,99 ha, đất nghóa đòa là 0,89 ha, đất giao thông là 0,83
ha, đất ao, kênh rạch là 1,94 ha, đất khác là 0,74 ha.
2.2.2 Hiện trạng dân cư
Trong khu vực quy hoạch cụm công nghiệp- khu dân cư, có khoảng 290
người dân sinh sống trong 58 hộ gia đình, phần lớn làm nghề nông, buôn bán và
một số cán bộ, công nhân viên các cơ quan thuộc đòa bàn trong xã và các xã lân

loại hình công nghiệp được bố trí vào cụm công nghiệp như: Cơ khí, điện tử- công
nghệ thông tin, hóa chất- hóa dầu, công nghệ hàng tiêu dùng…
Khu dân cư Hải Sơn có tổng diện tích là 52,03 ha được quy hoạch xây
dựng đất ở với diện tích là 24,42 ha gồm nhà phố, nhà liên kết, nhà vườn, nhà ở
chung cư kết hợp với thương mại- dòch vụ; đất công trình công cộng với diện tích
2,48 ha gồm nhà trẻ, mẫu giáo, trường tiểu học, trạm y tế, trung tâm văn hóa; đất
khu kỹ thuật 0,1350 ha; đất giao thông diện tích 20,04 ha; đất cây xanh diện tích
4,96 ha.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -11- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC NGẦM VÀ CÁC
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC NGẦM
3.1 Tổng quan về nước ngầm
Việt Nam là quốc gia có nguồn nước ngầm khá phong phú về trữ lượng và
tốt về chất lượng. Nước ngầm tồn tại trong các lỗ hổng và các khe nứt của đất đá,
được tạo thành trong giai đoạn trầm tích đất đá hoặc sự thẩm thấu, thấm của
nguồn nước mặt, nước mưa… nước ngầm có thể tồn tại cách mặt đất vài mét, vài
chục mét hay hàng trăm mét.
Đối với các hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ và vừa thì nguồn
nước ngầm thường được lựa chọn nếu thành phần không quá xấu. Bởi vì các
nguồn nước mặt thường hay bò ô nhiễm và lưu lượng khai thác phải phụ thuộc vào
sự biến động theo mùa. Trong khi đó, nguồn nước ngầm ít chòu ảnh hưởng bởi các
tác động của con người. Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn chất lượng nước
mặt xét trên các khía cạnh độ đục và vệ sinh của nước.
Ngoài ra, các nguồn nước ngầm hầu như không chứa rong tảo, một trong
những thành phần gây ô nhiễm nguồn nước. Thành phần đáng quan tâm trong
nước ngầm là các tạp chất hòa tan do ảnh hưởng của điều kiện đòa tầng, thời tiết,
nắng mưa, các quá trình phong hóa và sinh hóa trong khu vực. Ở những vùng có
điều kiện phong hóa tốt, có nhiều chất bẩn và lượng mưa lớn thì nước ngầm dễ bò
ô nhiễm bởi các chất khoáng hòa tan, các chất hữu cơ, mùn lâu ngày theo nước

các loại thuỷ sinh tạo cho nước có màu xanh lá cây. Nước bị nhiễm bẩn nước thải
cơng nghiệp hay sinh hoạt có màu đen.
c. Mùi, vị của nước
Các chất khí và các chất hồ tan trong nước làm cho nước có mùi vị. Nước thiên
nhiên có thể có mùi đất, mùi tanh, mùi thối hoặc mùi đặc trưng của các hố chất hồ
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -13- MSSV: 08B1080025
Ñoà aùn toát nghieäp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
tan trong nó như mùi clo, amoniac, sunfua hydro… Nước có thể có vị mặn, ngọt,
chát… tuỳ theo thành phần và hàm lượng muối hoà tan trong nước.
d. Hàm lượng cặn không tan (mg/l)
Được xác định bằng cách lọc một thể tích nước nguồn qua giấy lọc, rồi đem sấy
ở (105-110
o
C)
 Hàm lượng cặn trong nước ngầm thường nhỏ 30-50mg/l, chủ yếu do cát mịn
trong nước gây ra.
 Hàm lượng trong nước sông lớn dao động 20-5000 mg/l, có khi lên đến
30.000mg/l.
e. Hàm lượng chất rắn trong nước
Gồm có chất rắn vô cơ (các muối hoà tan, chất rắn không tan như huyền phù đất,
cát…), chất rắn hữu cơ ( gồm các vi sinh vật, vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo và
các chất rắn hữu cơ vô sinh như phân rác, chất thải công nghiệp…). Trong xử lý
nước khi nói đến hàm lượng chất rắn, người ta đưa ra các khái niệm:
 Tổng hàm lượng cặn lơ lửng TSS(Total Suspended Solid) là trọng lượng khô
tính bằng miligam của phần còn lại sau khi bay hơi 1 lít mẫu nước trên nồi cách thuỷ
rồi sấy khô ở 103
0
C tới khi có trọng lượng không đổi, đơn vị là mg/l.
- Cặn lơ lửng SS (Suspended Solid) , phần trọng lượng khô tính bằng miligam
của phần còn lại trên giấy lọc khi lọc 1 lít mẫu nước qua phễu, sấy khô ở 103

2
tự do
có trong nước. Độ kiềm là chỉ tiêu quan trọng trong công nghệ xử lý nước. Để xác
định độ kiềm dùng phương pháp chuẩn độ mẫu nước thử bằng axit clohydric.
c. Độ cứng của nước
Là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion Ca
2+
và Mg
2+
có trong nước. Trong xử
lý nước thường phân biệt ba loại độ cứng:
 Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm lượng các ion canxi, magie có trong nướ
 Độ cứng tạm thời : biểu thị tổng hàm lượng các ion canxi, magie trong các
muối cacbonat (hydrocacbonat canxi, hydrocacbonat magie) có trong nước.
 Độ cứng vĩnh cửu: biểu thị tổng hàm lượng các ion canxi, magie trong các
muối axit mạnh của canxi và magie.
Dùng nước có độ cứng cao trong sinh hoạt sẽ gây lãng phí xà phòng do canxi và
magie phản ứng với các axit béo tạo thành các hợp chất khó tan. Trong sản xuất,
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -15- MSSV: 08B1080025
Ñoà aùn toát nghieäp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
nước cứng có thể tạo lớp cáu cặn trong các lò hơi hoặc gây kết tủa ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm.
d. Khí hydro sunfua (H
2
S)
Là sản phẩm của quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ, phân rác có trong nước
thải. Khí làm cho nước có mùi trứng thối khó chịu. Với nồng độ cao khí mang tính
ăn mòn vật liệu.
e. Các hợp chất của nitơ
Là kết quả của quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong tự nhiên, các chất

gian dài hơn, ít nguy hiểm hơn. Nếu nước chủ yếu có NO
3
-
thì quá trình oxy hoá đã
kết thúc.
Ở điều kiện yếm khí NO
3
-
sẽ bị khử thành N
2
bay lên. Amoniac là chất gây nhiễm
độc trầm trọng cho nước, gây độc cho loài cá.
Việc sử dụng rộng rãi các nguồn phân bón hoá học cũng làm cho hàm lượng
amoniac trong nước tự nhiên tăng lên. Trong nước ngầm và nước đầm lầy hay gặp
NO
3
-
và amoniac hàm lượng cao. Nếu trong nước uống chứa hàm lượng cao NO
3
-
thường gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ có thể dẫn đến tử vong.
f. Clorua
Tồn tại ở dạng Cl
-
, ở nồng độ cho phép không gây độc hại, nồng độ cao
(>250mg/l) nước có vị mặn. Nguồn nước ngầm có thể có hàm lượng clo lên tới 500
÷1000 mg/l. Sử dụng nước có hàm lượng clo cao có thể gây bệnh thận. Nước chứa
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -16- MSSV: 08B1080025
Ñoà aùn toát nghieäp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
nhiều ion Cl

3+
dễ kết tủa màu nâu đỏ. Nước mặt thường chứa sắt ở dạng Fe
3+
, tồn tại keo hữu cơ
hoặc cặn huyền phù .Với hàm lượng sắt > 0,5 mg/l: nước có mùi tanh khó chịu, vàng
quần áo, hỏng sản phẩm dệt.
Mangan có trong nước ngầm dưới dạng Mn
2+
. Nước có hàm lượng mangan
khoảng 1mg/l sẽ gây trở ngại giống như khi sử dụng nước có hàm lượng sắt cao.
Công nghệ khử mangan thường kết hợp với khử sắt trong nước. Mangan thường gặp
trong nước ngầm nhưng ít hơn sắt nhiều, ít khi lớn hơn 5 mg/l.
l. Các hợp chất photpho
Trong nước tự nhiên các hợp chất ít gặp nhất là photphat, khi nguồn nước bị
nhiễm bẩn bởi rác và các chất hữu cơ trong quá trình phân huỷ, giải phóng ion PO
4
3-
,
có thể tồn tại dưới dạng H
2
PO
4
-
, HPO
4
2-
, PO
4
3-
, Na

2
S là sản phẩm của quá trình khử diễn ra trong nước. Nó
cũng xuất hiện trong nước ngầm mạch nông khi nước ngầm nhiễm bẩn các loại nước
thải. Hàm lượng khí H
2
S hoà tan trong nước nhỏ hơn 0,5 mg/l đã tạo cho nước có
mùi khó chịu và làm cho nước có tính ăn mòn kim loại.
o. Các kim loại có tính độc cao
 Arsen (As)
- Crom (Cr)
- Thuỷ ngân ( Hg)
- Chì (pb)
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -18- MSSV: 08B1080025
Ñoà aùn toát nghieäp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
3.2.1.3 Các chỉ tiêu vi sinh
Trong nước thiên nhiên có rất nhiều loại vi trùng và siêu vi trùng, trong đó có các
loại vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm là: kiết lị, thương hàn, dịch tả, bại liệt… việc
xác định sự có mặt của các vi trùng gây bệnh này thường rất khó khăn và mất nhiều
thời gian. Trong thực tế việc xác định số vi khuẩn trong nước thường là xác định
E.coli vi đặc tính của nó có khả năng tồn tại cao hơn các vi trùng gây bệnh khác. Do
đó, sau khi xử lý, nếu trong nước không còn phát hiện thấy E.coli chứng tỏ các loài
vi trùng khác cũng đã bị tiêu diệt, mặt khác việc xác định loại vi khuẩn này đơn giản
và nhanh chóng
a. Vi trùng gây bệnh
Vi sinh vật gây bệnh có mặt trong nước gây tác hại cho mục đích sử dụng nước
trong sinh hoạt. Các vi sinh vật này vốn không bắt nguồn từ nước, chúng cần vật chủ
để sống kí sinh phát triển và sinh sản. Một số vi sinh vật gây bệnh sống một thời gian
khá dài trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng.
-Vi khuẩn: Các loại vi khuẩn trong nước thường gây các bệnh về đường ruột như
+ Vi khuẩn Shigella spp: chủ yếu gây nên các triệu chứng lỵ . Biểu hiện bệnh từ

khác. Do đó nếu sau xử lý trong nước không còn phát hiện thấy vi khuẩn E.coli
chứng tỏ các loại vi trùng gây bệnh khác đã bị tiêu diệt hết. Mặt khác, việc xác định
mức độ nhiễm bẩn vi trùng gây bệng của nước qua việc xác địng số lượng số lượng
E.coli đơn giản và nhanh chóng. Do đó vi khuẩn này được chọn làm vi khuẩn đặc
trưng trong việc xác định mức độ nhiễm bẩn vi trùng gây bệnh của nguồn nước.
b. Các loại rong tảo
Rong tảo phát triển trong nước làm nước bị nhiễm bẩn hữu cơ và làm cho nước
có màu xanh. Nước mặt có nhiều loại rong tảo sinh sống trong đó có loại gây hại chủ
yếu và khó loại trừ là nhóm tảo diệp lục và tảo đơn bào. Hai loại tảo này khi phát
triển trong đường ống có thể gây tắc ngẽn đường ống đồng thời làm cho nước có tính
ăn mòn do quá trình hô hấp thải ra khí cacbonic.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -20- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
3.2.2 Tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống
Người ta thường sử dụng nước mặt và nước ngầm để cấp nước uống và sinh
hoạt. Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn chất lượng nước bề mặt do ít thay đổi
hơn theo thời gian và thời tiết, dây chuyễn cơng nghệ cũng đơn giản hơn, cần ít hố
chất hơn và chất lượng sau xử lý cũng tốt hơn. Tuy nhiên nguồn nước ngầm khơng
phải là vơ hạn, nên nếu chỉ sử dụng nước ngầm thì đến một lúc nào đó sẽ gây ảnh
hưởng xấu đến địa tầng của khu vực.
Nước sau xử lý cần đảm bảo an tồn cho sử dụng. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn
phải đảm bảo an tồn về sức khoẻ, mùi vị, thẩm mỹ, và phù hợp càng nhiều càng tốt
các tiêu chuẩn quốc tế. Nước cấp sinh hoạt phải đảm bảo khơng có vi sinh vật gây
bệnh, nồng độ các chất độc, các chất gây bệnh mãn tính phải đạt tiêu chuẩn. Độ
trong, độ mặn, mùi vị và tính ổn định phải cao.
Một số quy chuẩn về nước ăn uống sinh hoạt được ban hành kèm theo Thơng tư số
04:2009/BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ Trưởng Bộ Y tế như QCVN
01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT…
3.3 Tổng quan về các phương pháp xử lý nước ngầm
Đối với nguồn nước cần xử lý là nước ngầm, thì quá trình khử sắt trong

+

+=
2
33
2)( FeHCOHCOFe
Nếu trong nước có oxy hòa tan, quá trình oxy hóa và thủy phân diễn ra như sau:

++
+=++ HOHFeOHOFe 8)(4104
322
2
* Các yếu tố ảnh hưởng khi khử sắt bằng phương pháp làm thoáng
Quá trình chuyển hóa Fe
2+
thành Fe
3+
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: pH,
O
2
, hàm lượng sắt của nước ngầm, CO
2
, độ kiềm , nhiệt độ, thời gian phản ứng.
Ngoài ra tốc độ oxy hóa Fe
2+
còn phụ thuộc vào thế oxy hóa khử tiêu chuẩns Eo
* Các phương pháp làm thoáng
+ Làm thoáng đơn giản ngay trên bề mặt lớp vật liệu lọc: nước cần khử sắt
được làm thoáng bằng giàn phun mưa ngay trên bề mặt lọc. Chiều cao giàn phun
thường lấy cao khoảng 0,7m; lỗ phun có đường kính 5–7mm, lưu lượng tưới vào

b. Khử sắt bằng phương pháp dùng hóa chất
+ Khử sắt bằng các chất oxy hóa mạnh
Các chất oxy hóa mạnh thường sử dụng để khử sắt: Cl
2
, KMnO
4
, O
3
… Khi
cho các chất oxy hóa mạnh vào nước, phản ứng diễn ra như sau:

+−+
++=++ HClOHFeOHClFe 62)(262
322
2

+++
+++=++ HKMnOOHFeOHKMnOFe 5)(373
2324
2
Trong phản ứng, để oxy hóa 1 mg Fe
2+
, cần 0,64 mg Cl
2
hoặc 0,94 KMNO
4
và đồng thời độ kiềm của nước giảm đi 0,018 mgdl/l. Phương pháp này thường
được sử dụng kết hợp đồng bộ với làm thoáng để tăng hiệu quả oxy hóa sắt trong
nước.
+ Khử sắt bằng vôi

thành quá trình làm trong nước. Trong công nghệ xử lý nước, quá trình lắng xảy
ra rất phức tạp, chủ yếu lắng ở trạng thái động. Các hạt cặn không tan trong nước
là những tập hợp hạt không đồng nhất (kích thước, hình dạng, trọng lượng riêng
khác nhau) và không ổn đònh (luôn thay đổi hình dạng, kích thước trong quá trình
lắng do chất keo tụ).
Theo phương chuyển động của dòng nước qua bể, người ta chia ra các loại
bể lắng sau:
 Lắng tónh và lắng theo từng mể kế tiếp: thường gặp trong các hồ chứa nước,
sau trận mưa nước chảy vào hồ mang theo cặn lắng làm cho nồng độ cặn trong hồ
tăng lên, nước đứng yên, cặn lắng tónh xuống đáy…
 Bể lắng có dòng nước chảy ngang cặn rơi thẳng đứng hay còn gọi là bể lắng
ngang: cấu tạo bể lắng ngang gồm bốn bộ phận chính: bộ phận phân phối nước
vào bể; vùng lắng cặn; hệ thống thu nước đã lắng; hệ thống thu và xả cặn. Căn
cứ vào biện pháp thu nước đã lắng, người ta chia bể lắng ngang làm hai loại: bể
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Hoa -24- MSSV: 08B1080025
Đồ án tốt nghiệp GVHD:Ths. Võ Hồng Thi
lắng ngang thu nước ở cuối và bể lắng ngang thu nước đều trên mặt. Bể lắng
ngang thu nước ở cuối thường kết hợp với bể phản ứng có vách ngăn hoặc bể
phản ứng có lớp cặn lơ lửng. Bể lắng ngang thu nước bề mặt thường kết hợp với
bể phản ứng có lớp cặn lơ lửng.
 Bể lắng có dòng nước đi từ dưới lên, cặn rơi từ trên xuống gọi là bể lắng
đứng: bể lắng đứng thường kết hợp với bể phản ứng xoay hình trụ (hay còn gọi là
ống trung tâm). Theo chức năng làm việc, bể chia làm hai vùng: vùng lắng có
dạng hình trụ hoặc hình hợp ở phía trên và vùng chứa nén cặn có dạng hình nón
hoặc hình chóp ở phía dưới.
 Bể lắng trong có lớp cặn lơ lửng: trong bể lắng nước đi từ dưới lên qua lớp
cặn lơ lửng được hình thành trong quá trình lắng, cặn dính bám vào lớp cặn, nước
trong thu trên bềø mặt, cặn thừa đưa sang ngăn nén cặn, từng thời kỳ xả ra ngoài.
Bể lắng có lớp cặn lơ lửng dùng bể lắng cặn có khả năng keo tụ.
 Lắng trong các ống tròn hoặc trong các hình trụ vuông, lục lăng đặt nghiêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status