Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề :
Trong quá trình cải biến di truyền, năng suất chăn nuôi gia súc gia cầm
tăng lên đáng kể. Việc tăng mật độ nuôi thách thức bệnh tật gia tăng do bò nhiễm
các mầm bệnh khác nhau, đặc biệt là vi khuẩn đường ruột như E.coli, Salmonella
ssp., Clostridium perfringens và Campylobacter ssp.
Bệnh đường ruột có ảnh hưởng rất lớn đến ngành chăn nuôi. Chúng làm
giảm năng suất, tăng tỷ lệ chết và cũng là nguồn nhiễm tiềm năng cho các sản
phẩm thịt, giảm an toàn thực phẩm cho con người. Sản phẩm thòt của chúng ta bò
hạn chế xuất khẩu do không đủ chất lượng hay tồn dư kháng sinh, chất kích thích
sinh trưởng (người chăn nuôi trộn vào thức ăn để kích thích sinh trưởng, ngăn
ngừa bệnh tật, giảm tiêu tốn thức ăn). Với ý thức ngày càng tăng của con người
về sự kháng thuốc của vi khuẩn, nên việc sử dụng kháng sinh chữa bệnh, phòng
bệnh cho gia cầm đã giảm dần. Từ lâu đã có những mối quan tâm đến việc tìm ra
một loại chất thay thế kháng sinh trong chăn nuôi. Vi sinh vật sống trong ống tiêu
hóa của vật nuôi có ảnh hưởng sâu sắc đến một vài quá trình sinh lí của vật chủ.
Vì vậy, điều quan trong là phải hiểu cơ chế của hệ vi khuẩn đường ruột gia cầm,
gia súc, tìm ra chất thay thế chất kháng sinh. Trong trạng thái bình thường thì
trong đường ruột có sự cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và gây bệnh. Nó bò ảnh
hưởng bởi các tương tác và quan hệ cộng sinh và cạnh tranh. Cộng đồng vi khuẩn
đó không chỉ bảo vệ bộ máy tiêu hóa mà còn tăng khả năng sản xuất trong động
vật chủ.
Probiotic là một sản phẩm được các nhà khoa học nghiên cứu và ứng dụng
vào thức ăn gia súc, gia cầm nhằm thay thế chất kháng sinh, tăng cường miễn dòch
cho vật nuôi. Probiotic có khả năng hạn chế tiêu chảy ở heo con, kích thích sự
1
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
tiêu hóa cũng như tăng trưởng của heo thòt đang là đòi hỏi cấp thiết của các nhà
phẩm enzym cellulase bổ sung vào chế phẩm probiotic.
1.4. Ứng dụng đề tài:
Đề tài là cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu thực nghiệm về phân lập tuyển
chọn những chủng vi sinh vật có hoạt tính probiotic để sản xuất và phát triển chế
phẩm probiotic ứng dụng trong chăn nuôi tại Việt Nam.
3
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
CH ƯƠ NG II: TỔNG QUAN VỀ PROBIOTIC
2.1. Lòch sử nguồn gốc:
Việc sử dụng vi sinh vật sống nhằm, tăng cường sức khỏe cho con người
không phải là mới. Trên hàng nghìn năn về trước, rất lâu đời khi chưa tìm ra
thuốc kháng sinh, con người đã biết đến các thực phẩm chứa vi sinh vật sống có
lợi cho sức khỏe như: Sữa lên men, các sản phẩm lên men khác… khi điều tra dựa
trên khoa học, việc sử dụng các loại thực phẩm lên men trong nhiều nền văn hóa
của thế giới xảy ra trước sự ra đời của điện lạnh. Khái niệm áp dụng cải thiện sức
khỏe bằng cách bổ sung tự nhiên các vi sinh vật có ích cho đường ruột, bằng cách
thêm vào đồ uống đi từ thế kỷ thứ mười chín muộn. Vào thời điểm đó, một số bác
só cho rằng do bệnh tật và lão hóa chính là quá trình để xây dựng các sản phẩm
chất thải hoặc, sự thối rữa trong ruột già (phần dưới của ruột già mà đổ vào trực
tràng), và vật liệu độc hại bò rò rỉ từ ruột kết vào dòng máu. Quá trình rò rỉ-bây
giờ gọi là ruột thấm hoặc hội chứng ruột bò thủng, và dẫn đến ngộ độc từ nó, được
gọi là sự tự thụ độc . Lý thuyết cho rằng sự tự thụ độc thay đổi chế độ ăn kiêng
nhằm giảm phân hủy chất độc hại trong ruột kết sẽ có lợi cho sức khỏe. Một số
nhà quan sát đã biết về việc sử dụng các vi khuẩn Acid lactic trong xúc xích, lên
men thòt và bảo vệ nó khỏi hư hỏng, bởi vì các vi khuẩn này vô hại đối với con
người, họ đã nghó rằng bổ sung chúng vào chế độ ăn uống bằng cách, ăn các loại
thực phẩm lên men sẽ làm giảm lượng độc tố sản xuất trong ruột kết. Nhóm
Lactobacilli của vi khuẩn, một số trong đó được tìm thấy trong sữa chua, đây là
những người đầu tiên tìm hiểu, xác đònh probiotic.
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
Với hai nhà khoa học Lourens Hattigh và Viljoen, 2001, những nghiên cứu
từ trước các kiến thức về probiotic ngày càng được đẩy mạnh hơn nũa
Giai đoạn của thế kỷ này là đề cập đến việc sử dụng sữa lên men để điều
trò bệnh lây nhiễm đường ruột, các nghiên cứu gần đây tập trung vào lợi ích khác
cuả các vi khuẩn khi ở trong đường ruột và các loại thực phẩm để vận chuyển vào
cơ thể con người và vật nuôi.
2.2. Đònh nghóa probiotic:
Thuật ngữ probiotic do Metchnikoff đưa ra khi nghiên cứu tại sao những
người nông dân BUNGARY có sức khỏe tốt vào năm 1970.
Probiotic là những nhóm vi khuẩn trung tính, sống trong đường tiêu hóa
của động vật, chúng tạo thành một khu hệ vi sinh vật, chúng cản trở sự phát triển
của một số vi sinh vật gây bệnh, cung cấp cho con người một số chất có lợi cho cơ
thể, ảnh hưởng tốt đến hệ miễn dòch. Con người sử dụng các chế phẩm có chứa
các probiotic như một loại thực phẩm và như một loại thuốc phòng và chữa bệnh.
Đồng hành với thuật ngữ probiotic là thuật ngữ PREBIOTIC : Là những non-
digestible oligosaccharides (NDOs), ảnh hưởng đến sự phát triển của khu hệ vi
sinh vật (bao gồm cả resistant starches). Sự kết hợp của probiotic và prebiotic gọi
là synbiotic tăng cường khả năng điều hòa khu hệ vi sinh vật ảnh hưởng đến khả
năng tiêu hóa, chống bệnh đường tiêu hóa của vật chủ.
Từ “probiotics” có nguồn gốc từ Hy Lạp có nghóa là “Cho cuộc sống”. Tuy
nhiên, đònh nghóa về probiotics đã phát triển nhiều theo thời gian. Lily và
Stillwell (1965), đã mô tả trước tiên probiotic như hỗn hợp được tạo thành bởi một
động vật nguyên sinh mà thúc đẩy sự phát triển của đối tượng khác. Phạm vi của
đònh nghóa này được mở rộng hơn bởi Sperti vào đầu những năm bảy mươi bao
gồm, dòch chiết tế bào thúc đẩy phát triển của vi sinh vật.
6
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
Để “tập hợp các vi sinh vật sống “thực sự” đem lại hiệu quả tích cực cho sức
khỏe vật chủ”, chúng phải được chọn lọc đáp ứng các tiêu chuẩn về.
- An toàn sinh học
- Hoạt tính sinh học
- Đặc tính kỹ thuật để trở thành sản phẩm của ngành lên men công nghiệp
(Tuomola et al.,2001)
2.3. Tiêu chẩn an toàn sinh học
Các vi khuẩn Lactic hay vi khuẩn lên men Lactic acid bacteria (LAB),
được sử dụng làm probiotic nhiều nhất vì chúng được sử dụng trong thực phẩm
lên men truyền thống từ rất lâu. Người ta xếp chúng vào vi sinh vật GRAS
(Generelly. Recognized. As safe ).lee y .k và salminens., 2009)
2.4. Hoạt tính sinh học
Để có ảnh hưởng tích cực lên sức khỏe vật chủ, probiotics phải có những
hoạt tính sinh học như sau:
- Có khả năng sống sót qua đường tiêu hóa nghóa là chòu được acid, dòch
tiêu hóa dạ dày
- Có khả năng kết dính trên bề mặt biểu mô ruột và tồn tại lâu dài bên
trong đường tiêu hóa
- Có hoạt tính đối kháng chống lại các vi sinh vật gây bệnh như:
Escherichia coli, Listeria monocytogenes, Salmonella. Ssp, Helicobacter pylori…
- Kích thích miễn dòch nhưng không gây viêm
- Kháng đột biến và kháng ung thư ( Matila et al.,2002 )
8
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
2.5. Đặc tính kỹ thuật để trở thành sản phẩm của ngành lên men công nghiệp
- Khả năng lên men
- Khả năng tổ hợp
- Khả năng sinh axit lactic
- Khả năng kháng khuẩn
nhau giữa các giống. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm
thời của hệ sinh thái đường ruột, sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau
khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều
lượng của giống vi khuẩn. Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi
khuẩn đònh cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số
lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều này thì đúng cho tất cả các loại
probiotic. Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường
ruột. Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó
sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột.
Probiotic đònh cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây ra
bởi các sinh vật như E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vò trí lông nhung
của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung. Probiotic gia tăng sự
kháng bệnh bằng cách tăng độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe
nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất
dinh dưỡng. Vì vậy, vật sẽ gia tăng hiệu quả hấp thụ thức ăn.
10
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich, nước Anh
báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở
ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ
chuỗi thức ăn.
2.6.2.1.Cơ chế kháng khuẩn của vi sinh vật probiotic:
Vi sinh vật probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh để ngăn chặn
các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn ức chế cả vi khuẩn Gram
dương và Gram âm. Đó là các acid hữu cơ như: Acid lactic, acid acetic…và đặc
biệt là Bacteriocin - nhóm peptide hay protein được tổng hợp nhờ ribosome có
hoạt tính kháng vi sinh vật (Hình 2.1).
Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm
bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố.
Hình 2.2. Cơ chế miễn dòch Lactobacillus plantarum-tạp chí Proceedings
of the National Academy of Sciences (PNAS Early Edition). Trong nhóm các
tình nguyện viên, một số được tiếp thu probiotic sống Lactobacillus plantarum,
một số khác tiếp thu các tế bào vô hoạt của chủng probiotic này, và số còn lại
tiếp nhận placebo. Các phân tích biểu hiện gene các tế bào của tá tràng đã được
tiến hành và cho thấy rõ ràng hiệu quả của probiotic sống đối với các hoạt động
tế bào. Các hoạt động này kích hoạt hệ miễn dòch và cho phép nó giữ vai trò bảo
vệ (phản ứng miễn dòch)
Giáo sư Michiel Kleerebezem giải thích rằng các cơ chế phân tử liên quan
đến hoạt động của probiotics hiện vẫn còn ít được biết đến. Các phương pháp tiếp
cận đa chiều của TIFN, nơi tập trung các nhà khoa học về thực phẩm, về ngành
ruột và các nhà vi sinh vật học, đã cho phép nghiên cứu các cơ chế phân tử các
hoạt động của probiotic. Các phân tích biểu hiện gene cho phép các nhà khoa học
chứng minh hiệu quả trực tiếp của probiotics đối với màng nhầy ruột. Nhờ sự giúp
đỡ của cơ sở dữ liệu và các chuyên gia tin sinh học, họ đã xác đònh gene của các
tế bào biểu mô gây ra cơ chế của các phản ứng miễn dòch. Kết quả nghiên cứu
đầu tiên về cơ chế ảnh hưởng của probiotic đến hệ miễn dòch này đã được xuất
13
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
bản trong tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS Early
Edition).
Nhiều nghiên cứu gần đây còn cho rằng probiotic có tác dụng kháng đột
biến và kháng ung thư nhờ sự tương tác của các tế bào này với các tác nhân gây
đột biến và ung thư nhưng còn gây nhiều bàn cãi.
2.7. Những vi sinh vật đóng vai trò là probiotic
2.7.1. Vi khuẩn Lactic
2.7.1.1. Hình thái, sinh lý vi khuẩn lactic
Nhìn chung, vi khuẩn lactic là vi khuẩn Gram dương, không tạo bào tửø, kò
khí tùy ý, hầu hết không di động. Chúng không có khả năng sản xuất những hợp
CO
2
từ gluconate - +
a
+
a
FDP aldolase present + + -
Phosphoketolase - +
b
+
Hiện nay
Lactobacillus
acidophilus
Lactobacillus
casei
Lactobacillus
brevis
Lactobacillus
delbruckii
Lactobacillus
curvatus
Lactobacillus
buchneri
Lactobacillus
helveticus
Lactobacillus
plantarum
Lactobacillus
fermentum
Lactobacillus
* Đặc điểm chi tiết của từng giống theo khoá phân loại Bergey
• Lactobacillus:
Tế bào hình que và thường có kích thước (0,5–1,2) ×(1,0–10,0)μm, kết
thành chuỗi ngắn nhưng thỉnh thoảng có dạng gần giống hình cầu. Đây là các vi
khuẩn Gram dương, không tạo bào tử, hiếm khi di động bằng lông roi. Kò khí
không bắt buộc nhưng phát triển tốt hơn trong điều kiện không có khí oxy. Nhìn
chung, các loài trong giống này sẽ phát triển tốt hơn trong điều kiện có 5% CO
2
.
Khuẩn lạc trên môi trường agar có kích thước 2 - 5mm, dạng lồi, mờ đục và
không nhuộm màu. Những tế bào này hóa dưỡng hữu cơ đòi hỏi môi trường nuôi
cấy phức tạp và giàu chất dinh dưỡng; có khả năng lên men và phân huỷ
saccharose; ít nhất một nửa sản phẩm lên men từ nguồn carbon là lactate. Không
khử được nitrate, không làm tan gelatin, không có catalase cũng như cytochrome.
16
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
Nhiệt độ tối thích cho sự phát triển là 30 – 40
o
C. Lactobacilii phân bố rộng rãi
trong môi trường, đặc biệt là trên những thực phẩm có nguồn gốc thực vật và
động vật; chúng thường sống trong ruột của chim và động vật hữu nhũ
Một số chủng điển hình: Lactobacill s acidophilus , Lactobacillus brevis,
Lactobacillu bulgaricus, Lactobacillus casei, Lactobacillus Lactobacillus,
Lactobacillus helveticus ,LactobacillusplantarumLactobacillus reuteri… a) Lactobacillus bulgaricus b) Lactobacillus casei
Hình 2.3 : Tế bào vi khuẩn lactic giống Lactobacillus phóng đại 2000 lần
• Pediococcus:
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
tạo sản phẩm chính là L(+)-acid lactic nhưng không sinh gas và pH đạt được tối
đa là 4,2 – 4,6. Môi trường dinh dưỡng phức tạp. Catalase âm. Có thể phát triển ở
10 – 45
o
C (tối thích 37
o
C), pH 9,6; 6,5% muối NaCl, và 40% muối mật. Rất hiếm
khi khử được nitrate. Thường lên men lactose. Hiện diện rộng rãi trong tự nhiên
đặc biệt trong phân động vật có xương sống, thỉnh thoảng gây bệnh.
Một số chủng thông thường: Enterococcu durans , Enterococcus faecalis ,
Enterococcus faecium…
• Leuconostoc:
Hình 2.6: tế bào vi khuẩn lactic thuộc giống Leuconostoc
Tế bào có dạng hình cầu, đôi khi kéo dài khi ở dạng kết cặp hoặc kết
chuỗi, kích thước (0,5 - 0,7) × (0,7 - 1,2) μm. Khi kết thành chuỗi dài, tế bào có
dạng que ngắn và những tế bào ở cuối có dạng hơi tròn. Gram dương, không di
động, không tạo bào tử. Phát triển khá chậm, khuẩn lạc nhỏ và dẹt trên môi
trường có chứa sucrose. Hiếu khí tuỳ ý, hóa dưỡng hữu cơ bằng con đường lên
men carbonhydrate bắt buộc, đòi hỏi môi trường giàu dinh dưỡng. Nhiệt độ thích
hợp cho sự phát triển là 20 – 30
o
C. Lên men glucose tạo thành acid và sinh gas;
sản phẩm chính là ethanol và D(-)-lactate. Chỉ lên men được mono- và
disaccharide. Catalase âm, không phân giải được arginine, không sinh indol,
không làm tan máu, không khử nitrate. PH của môi trường lỏng khi kết thúc nuôi
cấy là 4,4 – 5,0. Phân bố rộng rãi trên thực vật, các sản phẩm sữa và các sản
phẩm khác. Không gây bệnh cho thực vật và động vật
19
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
a) Streptococcus lactis b) Streptococcus thermophilus
Hình 2.7 : Tế bào vi khuẩn lactic giống Streptococcus phóng đại 2000 lần
• Lactococcus:
Tế bào hình cầu hoặc hình trứng, kích thước (0,5 – 1,2) × (0,5 – 1,5) μm,
thường xuất hiện dạng cặp hoặc chuỗi ngắn trong môi trường lỏng. Không tạo nội
bào tử. Gram dương. Không di động và không có bao nang. Hiếu khí tuỳ ý. Hóa
dưỡng hữu cơ bằng con đường lên men trao đổi chất; lên men nhiều loại
carbonhydrate với sản phẩm tạo thành chủ yếu là L(+)-lactic acid nhưng không
sinh gas. Môi trường dinh dưỡng phức tạp. Catalase âm. Phát triển được ở 10 –
45
o
C và tối thích ở 30
o
C, không có muối NaCl. Được tìm thấy phổ biến nhất trong
các sản phẩm sữa và trên thực vật
Một số chủng thông thường Lactococcus lactis cremoris, Lactococcus lactis
hordniae, Lactococcus lactis lactis, Lactococcus lactis lactis bv. Diacetylactis…
21
a) b)
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
Hình 2.8 : Tế bào vi khuẩn Lactococcus lactis
2.7.1.2. Giới thiệu một số vi khuẩn lactic được sử dụng là probiotic
Fuller (1989) and Conway (1996) đã liệt kê những loài vi sinh vật được sử
dụng là probiotic: Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus casei, Lactobacillus
fermentum, Lactobacillus reuteri, Lactococcus lactis subsp. cremoris,
Lactobacillus bulgaricus, Lactobacillus plantarum, Streptococcus thermophilus,
Enterococcus faecium, Bifidobacterium bifidum, Bifidobacterium infantis,
các loại đường glucose, fructose, mannose, galactose, maltose, lactose, salicin.
Trong quá trình lên men chúng tạo thành L - acid lactic vơiù nồng độ
khoảng 180g/l trong tổng số 210g/l acid lactic.
Nhiệt độ phát triển tối ưu là 38 - 40
0
C.
*. Lactobacillus sporogenes :
Lactobacillus sporogenes là trực khuẩn, có kích thước 0,7 – 0,9 µm; 2,0 –
6,0 µm. Trong thiên nhiên chúng có thể tồn tại riêng từng tế bào, cũng có thể tạo
thành chuỗi tế bào, chúng có khả năng lên men được glucose, fructose, galactose,
mannose, maltose, lactose. Loại vi khuẩn này đóng vai trò quan trọng trong quá
trình tiêu hóa và biến dưỡng của con người :
Ổn đònh ở nhiệt độ phòng, tăng sinh rất nhanh trong ruột.
Quá trình lên men tạo L (+) acid lactic, cung cấp phức hợp vitamin B và
các enzyme tiêu hóa như protase, lipase, amylase, lactase… Chúng cũng sản xuất
bacteriocin giúp kiểm soát sự tăng trưởng vượt mức của những nhóm vi sinh vật
gây thối trong ruột, duy trì sự cân bằng pH acid.
*. Streptococcus faecalis (tên mới Enterococcus faecalis)
Streptococcus faecalis, có khả năng phát triển trong môi trường chứa 6,5%
NaCl, pH 9,6 và trong sữa chứa 0,1% xanh Methylen.
Khử cacboxyl tyrozin, không dòch hoá gelatin.
Sản xuất chủ yếu L-acid lactic.
23
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
Tốc độ sinh trưởng rất nhanh, do đó áp đảo nhanh vi khuẩn gây tiêu chảy,
gây bệnh.
Những chủng vi khuẩn trên đều có thể chòu được nhiệt độ cũng như các tác
động trong quá trình sản xuất thuốc, không tương tác với các thành phần bổ sung
thêm trong chế phẩm như vitamin, acid amin, acid béo, đường và đặc biệt là
hoạt động
120
Heo
Lactobacillus sp.
Cải thiện B-glucan
thủy phân
121
Heo
Lactobacillus sp
Tăng cường hoạt
động của enzym
123
24
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: T.s Nguyễn Hòai Hương
SVTH: Nguyễn Thò Thúy Hiền
lớn, có hình dạng bất đònh. Ngoài ra bacillus có thể sản xuất cấu trúc đa bào và
màng sinh học nên có thể bám dính vào màng nhày, kết dính tốt trong đường
ruột, có khả năng sống sót qua 36 ngày trong đường ruột vật chủ. Vì vậy được coi
là probiotic
* Phân loại:
Giới (regnum): Bateria
Ngành (divisio): Firmicutes
Lớp(class): Bacillus
Bộ(ordo): Bacillales
Họ(familia): Bacillaceae
Chi(genus): Bacillus
2.7.2.2. Một số loài Bacillus sử dụng làm probiotic
* Bacillus subtilis:
Bacillus subtilis được phát hiện và đặt tên vào năm 1872, nó phân bố phổ
biến trong đất, đặc biệt trong cỏ khô nên còn có tên gọi khác là trực khuẩn cỏ