Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch có từ xa xưa gắn với ước mơ của con người vì đặc tính cơ bản
của con người là vừa thích quen, vừa thích lạ, vừa muốn đi tìm hiểu làm
quen với cái lạ để thưởng thức cảnh đẹp của thiên nhiên, của các nền văn
hóa khác nhau mà ở quê hương không hoặc chưa có – qua đó mà tăng thêm
tri thức, tình cảm và bồi dưỡng sức khỏe. Ngày nay du lịch đã trở thành một
thuật ngữ phổ biến, gắn liền với cuộc sống của hàng triệu người và không
quá chủ quan khi nói rằng nó dần trở thành một nhu cầu thiết yếu. Du lịch là
mọt ngành kinh tế quan trọng, một ngành công nghiệp không khói mang lại
một khối lượng lớn công ăn việc làm, thu nhập cho người lao động, góp
phần chủ yếu trong việc phân phối lại thu nhập quốc dân không chỉ ở các
nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Ngoài ra xét dưới giác độ văn hóa – xã hội, du lịch góp phần làm tăng sự
giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn nhau giữa các vùng, các địa phương, các quốc
gia, các khu vực trên toàn thế giới.
Với ưu thế được đánh giá là một nước có môi trường chính trị - xã hội ổn
định, có nền kinh tế phát triển với tốc độ nhất nhì thế giới, có tài nguyên
thiên nhiên phong phú, nền văn hóa giàu truyền thống Việt Nam đã và đang
trở thành điểm đến an toàn và hấp dẫn với du khách trên toàn thế giới.
Không chỉ thế lượng khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài cũng tăng lên
với tốc độ phi mã. Chính vì thế ngành du lịch Việt Nam đang ngày càng phát
triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách và đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp, và kinh doanh lữ hành có vị trí trung tâm, rất quan trọng.
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp không chỉ đảm bảo các chức
năng quản lý nhân lực, tài chính, sản xuất mà tách rời khỏi thị trường vì
doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của nền kinh tế.
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
Doanh nghiệp thường xuyên có sự trao đổi với môi trường bên ngoài (thị
trường) và chức năng này thuộc lĩnh vực Marketing.
Vì thế trong du lịch có bao gồm lữ hành nhưng không phải tất cả các hoạt
động lữ hành đều là du lịch. Từ đó mà kinh doanh lữ hành được hiểu là
“doanh nghiệp đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc
trong quá trình tạo ra và chuyển giao sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất sang
lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích hưởng hoa hồng hoặc lợi nhuận”. Nói
rõ ra kinh doanh lữ hành là kinh doanh một hoặc nhiều hơn một hoặc tất các
dịch vụ, hàng hóa thỏa mãn hầu hết các nhu cầu thiết yếu, đặc trưng và các
nhu cầu khác của khách du lịch (giáo trình QTKD lữ hành – Đại học Kinh tế
quốc dân).
Nếu tiếp cận theo nghĩa hẹp với mục đích phân biệt hoạt động kinh
doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như khách sạn,
nhà hàng, vui chơi giải trí, người ta giới hạn hoạt động kinh doanh lữ hành
chỉ bao gồm các hoạt động tổ chức chương trình du lịch. “Lữ hành là việc
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du
lịch” (Luật du lịch Việt Nam). Nói tóm lại, công ty lữ hành tập trung chú
trọng tới việc kinh doanh chương trình du lịch, sản phẩm của kinh doanh lữ
hành là chương trình du lịch. Người ta còn quy định kinh doanh lữ hành nội
địa là việc xây dựng bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho
khách du lịch nội địa, và phải có ba điều kiện. Trong kinh doanh lữ hành
quốc tế, khách hàng là khách du lịch quốc tế và phải đáp ứng đủ năm điều
kiện (đã nêu trong Luật). Ở Việt Nam còn quy định rõ Luật kinh doanh đại
lý lữ hành (rất phổ biến) “kinh doanh đại lý lữ hành là một tổ chức cá nhân
nhận bán chương trình du lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cho
khách du lịch để hưởng hoa hồng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh đại lý lữ
hành không được tổ chức thực hiện các chương trình du lịch”.
(Nguồn: Giáo trình QTKD lữ hành đại học kinh tế quốc dân).
1.1.1.2 Định nghĩa doanh nghiệp kinh doanh lữ hành:
Cũng như định nghĩa kinh doanh lữ hành, xuất phát từ việc nghiên cứu
Như vậy, không chỉ đóng vai trò người mua, người bán mà các công ty lữ
hành đã trở thành nhà sản xuất trực tiếp các sản phẩm du lịch.
“Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương
trình du lịch cho khách du lịch. Ngoài ra doanh nghiệp lữ hành còn có thể
tiến hành các hoạt động trung gian, bán sản phẩm của các nhà cung cấp du
lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục
vụ các nhu cầu du lịch từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng”
(Nguồn: Giáo trình QTKD lữ hành – Đại học Kinh tế quốc dân).
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
Tóm lại, riêng ở Việt Nam phần lớn các doanh nghiệp có kinh doanh lữ
hành thường có tên gọi phổ biến là các trung tâm lữ hành quốc tế, nội địa
nằm trong các công ty du lịch thì tùy theo quy mô, phạm vi hoạt động, tính
chất sản phẩm, hình thức tổ chức, tư cách pháp nhân… mà doanh nghiệp lữ
hành có thể có các tên gọi khác nhau: Hãng lữ hành, công ty lữ hành, công
ty lữ hành quốc tế, công ty lữ hành nội địa…
1.1.1.3. Phân loại kinh doanh lữ hành
Dựa trên cơ sở, tính chất, phạm vi, phương thức hoạt động mà người ta
đưa ra các cách phân loại kinh doanh lữ hành khác nhau. Theo quy định của
Luật du lịch Việt Nam (Điều 47, trang 40) kinh doanh lữ hành bao gồm các
loại:
- Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam.
- Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài.
- Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và với khách
du lịch ra nước ngoài.
- Kinh doanh lữ hành nội địa.
Sơ đồ phân loại kinh doanh lữ hành
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
- Kinh doanh đại lý lữ hành hoạt động chủ yếu là làm dịch vụ trung gian
tiêu thụ, hưởng hoa hồng, không làm gia tăng giá trị sản phẩm, không phải
chịu rủi ro – thường được gọi là các đại lý lữ hành bán lẻ.
- Kinh doanh chương trình du lịch là thực hiện sản suất, làm gia tăng giá
trị của sản phẩm đơn lẻ, bán buôn, phải gánh chịu, san sẻ rủi ro với các nhà
cung cấp – thường được gọi là các công ty du lịch lữ hành. Giá trị gia tăng
được tạo ra là do sức lao động của đội ngũ nhân lực (Marketing, điều hành,
hướng dẫn,…).
- Kinh doanh lữ hành tổng hợp là kết quả của quá trình phát triển, liên kết
dọc và liên kết ngang của các chủ thể kinh doanh du lịch. Nghĩa là vừa sản
xuất trực tiếp, vừa liên kết các dịch vụ; vừa bán buôn, vừa bán lẻ; vừa thực
hiện chương trình du lịch – được gọi là các công ty du lịch.
- Kinh doanh lữ hành gửi khách – được gọi là công ty gửi khách, hoạt
động ở những nơi có cầu du lịch lớn và có nhiệm vụ tổ chức thu hút khách
du lịch (quốc tế, nội địa) một cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch.
- Kinh doanh lữ hành nhận khách – được gọi là công ty nhận khách, hoạt
động ở những nơi có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn và có nhiệm vụ xây
dựng các chương trình du lịch, quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách để
bán và thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách (quốc tế, nội
địa) thông qua các công ty gửi khách.
- Kinh doanh lữ hành kết hợp – được gọi là các công ty du lịch tổng hợp.
Đây là loại doanh nghiệp có quy mô lớn, có nguồn lực đủ mạnh để kinh
doanh gửi khách và kinh doanh nhận khách.
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
(Nguồn: Giáo trinh QTKD lữ hành – Đại học Kinh tế quốc dân)
1.1.2. Vai trò, chức năng của kinh doanh lữ hành
1.1.2.1. Vai trò của kinh doanh lữ hành
Như đã nói ở phần đầu, xét từ mối quan hệ cung – cầu du lịch, kinh
thông tin là chức năng quan trọng cơ bản gắn liền với lịch sử ra đời và hình
thành của doanh nghiệp lữ hành từ những thời kỳ đầu tiên. Doanh nghiệp lữ
hành có chức năng cung cấp thông tin về giá trị tài nguyên, thời tiết, thể chế
chính trị, tôn giáo luật pháp, phong tục tập quán, tiền tệ, giá cả… của nơi
đến du lịch cũng như cung cấp các thông tin về giá, thứ hạng, chủng loại
dịch vụ, hệ thống phân phối dịch vụ của nhà cung cấp. Như vậy có thể hiểu
doanh nghiệp lữ hành cung cấp thông tin cho cả người tiêu dùng du lịch
(khách du lịch) và nhà cung cấp (sản phẩm du lịch). Thông tin mà doanh
nghiệp lữ hành cung cấp cho khách du lịch thường là thông tin thứ cấp (có
sự tổng hợp, xử lý, định hướng của doanh nghiệp) thông qua các hình thức
truyền tin khác nhau (truyền thống, hiện đại hoặc cả hai). Thông tin cung
cấp cho nhà cung cấp du lịch bao gồm cả thông tin sơ cấp và thông tin thứ
cấp trong đó thông tin sơ cấp được quan tâm sử dụng nhiều hơn. Ngoài ra,
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành còn thực hiện chức năng tổ chức (nghiên
cứu thị trường, sản xuất, tiêu dùng). Cuối cùng doanh nghiệp lữ hành còn có
thực hiện (vận chuyển khách, hướng dẫn tham quan, kiểm tra giám sát dịch
vụ của nhà cung cấp khác) làm tăng giá trị sử dụng và giá trị của chương
trình du lịch thông qua hoạt động của hướng dẫn viên.
(Nguồn: Giáo trình QTKD lữ hành – đại học Kinh tế quốc dân)
1.1.3 Thị trường khách của kinh doanh lữ hành:
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhu cầu của khách du lịch là mục tiêu phục vụ của doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành. Khách du lịch người đem lại việc làm và lợi nhuận cho
doanh nghiệp, do đó thị trường khách là mối quan tâm đặc biệt hàng đầu của
bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nào. Ở đây chúng ta phải hiểu một
cách tổng quan thị trường khách của doanh nghiệp lữ hành có thể là người
mua để tiêu dùng, người mua để bán, người mua là cá nhân, gia đình hay tổ
chức, nói chung quy lại là người mua sản phẩm của doanh nghiệp.
Theo giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành đại học Kinh tế quốc dân thì
dùng và sau tiêu dùng.
+ Không thể lưu kho bãi, lưu bãi, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời.
+ Tính thời vụ cao, cảm nhận rủi ro lớn…
Chức năng của thị trường du lịch:
Thị trường du lịch có ba chức năng cơ bản là chức năng thực hiện và
công nhận (thông qua giá cả); chức năng thông tin; chức năng điều tiết kích
thích.
Các loại thị trường du lịch: Tùy theo các tiêu thức mà người ta chia thị
trường du lịch ra thành các loại khác nhau chẳng hạn xét theo mối quan hệ
cung cầu ta có thị trường du lịch do cầu chi phối, cung chi phối và thị trường
cân bằng cung cầu, còn xét theo tiêu thức địa lý (phạm vi biên giới quốc gia,
khu vực…) thì ta có thị trường du lịch quốc tế, nội địa, thị trường du lịch
khu vực, châu Âu, châu Á… Ngoài ra còn có thể phân chia thành thị trường
nhận khách, gửi khách; thị trường thực tại, thị trường tiềm năng; thị trường
quanh năm, thị trường thời vụ hoặc đơn giản phân chia theo thành phần sản
phẩm du lịch (vận chuyển, lưu trú, giải trí, ăn uống..).
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
Điều cơ bản là dù phân chia theo tiêu thức nào thì các thị trường vẫn có
tính độc lập tương đối và có tác động tương hỗ lẫn nhau đồng thời theo xu
hướng cạnh tranh ngày càng gay gắt.
1.1.4 Cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp lữ hành:
Trong phạm vi mà mục đích nghiên cứu của chuyên đề chúng ta chỉ tập
trung xem xét cơ cấu tổ chức mang tính phổ biến của doanh nghiệp lữ hành
ở Việt Nam dưới giác độ một nước đang phát triển mục tiêu chủ yếu là đón
nhận và tiến hành phục vụ khách du lịch quốc tế đến (các doanh nghiệp lữ
hành nhận khách). Cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp lữ hành ở Việt
Nam có quy mô nhỏ hoặc trung bình (điều này phù hợp với các đặc điểm về
địa lý, lĩnh vực hoạt động, khả năng tài chính nhân lực cũng như các yếu tố
khác thuộc về môi trường kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật). Trong cơ
bộ phận chủ yếu trong việc xây dựng các chiến lược, sách lược
hoạt động chiếm lĩnh thị trường và phát triển thị trường của
doanh nghiệp.
Thông thường, phòng thị trường thường được tổ chức dựa trên những
tiêu thức phân đoạn thị trường và thị trường mục tiêu của doanh nghiệp (khu
vực địa lý, đối tượng khách…). Ngoài ra nó còn có thể tổ chức theo chức
năng của Marketing (nhóm nghiên cứu thị trường, nhóm xúc tiến, nhóm
phân phối).
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của một Công ty lữ hành
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Các bộ phận tổng hợp
Các bộ phận nghiệp vụ
du lịch
Các bộ phận hỗ trợ và
phát triển
Tài
chính
kế toán
Tổ
chức
hành
chính
Thị
trường
Marke-
ting
Điều
hành
- Nhu cầu (Needs): “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con
người cảm nhận được”.
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong Marketing, qua sự xếp hạng thứ bậc của Maslow (5 bậc: sinh lí, an
toàn, xã hội, được tôn trọng, tự khẳng định mình) về nhu cầu cho chúng ta
biết con người sống trong xã hội nào sẽ có nhu cầu của xã hội đó và đòi hỏi
được thỏa mãn từ cấp thiết nhất (nhu cầu thiết yếu) đến ít cấp thiết nhất (nhu
cầu thứ yếu).
-Mong muốn (Wants): “Mong muốn là biểu hiện của nhu cầu”. Mong
muốn là một dạng nhu cầu được thể hiện qua trình độ văn hóa và nhân cách
của con người, do yếu tố nhân cách và văn hóa quy định.
- Sức cầu (Demands): “Sức cầu hay lượng cầu là mong muốn kèm theo
điều kiện có khả năng thanh toán”. Khi mong muốn được bảo đảm bằng sức
mua hay khả năng thanh toán thì trở thành sức cầu.
- Sản phẩm (Product): “Sản phẩm là tất cả những gì do con người làm ra
để thỏa mãn mong muốn hay nhu cầu”.
- Trao đổi (Exchange): “Trao đổi là hành vi nhận từ người nào đó thứ mà
mình muốn và đưa lại cho người đó một thứ gì khác”. Trao đổi là khái niệm
cơ bản của Marketing, muốn trao đổi cần hội đủ 5 điều kiện: Tối thiểu phải
có 2 bên; mỗi bên phải có cái gì đó có giá trị để trao đổi; mỗi bên đều có khả
năng giao dịch; mỗi bên tự do chấp nhận hay khước từ; mỗi bên đều phải
nhận thấy nên hay muốn giao dịch với bên kia.
- Giao dịch (Transactions): “Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính
chất thương mại những vật có giá trị giữa hai bên”. Giao dịch là đơn vị đo
lường cơ bản trong Marketing, là biểu hiện cụ thể của trao đổi trong lĩnh vực
thương mại bao gồm các điều kiện: Thời gian, nơi chốn, thanh toán được
thỏa thuận giữa hai bên.
- Thị trường (Markets): “Thị trường là nơi có một nhóm khách hàng hay
những khách hàng đang có sức mua và có nhu cầu chưa được thỏa mãn hay
Chuyên đề tốt nghiệp
- “Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh, đúng
luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí” (J.H Crighton).
- “Marketing là khoa học nghiên cứu các quy luật trao đổi giữa cung và
cầu trên thị trường, các phương pháp, hình thức, nghệ thuật thực hiện có hiệu
quả các đòi hòi của các quy luật đó để đảm bảo cho các hoạt động kinh
doanh luôn tồn tại và phát triển bền vững” (GS Đỗ Hoàng Toàn).
- “Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi với
mục đích thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Marketing
= Tìm cái muốn, thỏa mãn cái muốn và đạt được cái muốn” (Nguyễn Văn
Mạnh – Bài giảng Marketing Du Lịch).
Sự khác nhau giữa các định nghĩa này chỉ ở quan điểm góc độ nhìn nhận
về Marketing và cơ bản tất cả các định nghĩa này đều đúng. Mặc dù các định
nghĩa này cho phép cả các quá trình trao đổi không kinh doanh như là một
bộ phận của Marketing thì sự nghiên cứu vẫn tập trung vào Marketing vào
trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên sự nhấn mạnh này không có nghĩa
là việc áp dụng các quan điểm, nguyên lý và kỹ thuật Marketing không đạt
được thành công trong các lĩnh vực trao đổi khác.
1.2.1.3. Marketing Mix
Những biến số mà doanh nghiệp có thể sử dụng kiểm soát được trên thị
trường mục tiêu (tác động vào mong muốn của người tiêu dùng) nhằm biến
các mong muốn đó trở thành cầu thị trường của doanh nghiệp về sản phẩm.
+ Sản phẩm (Products): Danh mục, chủng loại, chất lượng, bao gói, nhãn
hiệu, chu kỳ sống, chính sách sản phẩm mới.
+ Giá cả (Price): Bao gồm danh sách giá, chính sách tín dụng, chính sách
thanh toán, chính sách giá.
+ Phân phối (Place): Văn phòng, đại lý, đại diện…
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Xúc tiến (Promotion): Bán hàng cá nhân, lực lượng bán, quảng cáo,
Định nghĩa của UNWTO: “Marketing du lịch là một triết lý quản trị, mà
nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu ,dự đoán và lựa chọn dựa trên nhu cầu
của của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với
mong muốn của thị trường mục tiêu , thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch
đó”.
Định nghĩa của Michael Coltman: “Marketing du lịch là một hệ thống
những nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết
lý quản trị hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt
được mục đích”.
Định nghĩa trong cuốn Marketing du lịch của J.C Hollway “Marketing du
lịch là chức năng quản trị, nhằm tổ chức và hướng dẫn tất cả các hoạt động
kinh doanh tham gia vào việc nhận biết nhu cầu của người tiêu dùng và biến
sức mua của khách hàng thành cầu về một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể ,
chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ đén người tiêu dùng cuối cùng hoặc người
sử dụng để đạt được lợi nhuận mục tiêu hoặc mục tiêu của Công ty hoặc tổ
chức du lịch đặt ra”.
Định nghĩa này có ba điểm quan trọng :
+ Marketing là một chức năng quản trị.
+ Marketing là cơ sở nền tảng, là khung cho tất cả các công việc mà tổ
chức du lịch định làm.
+ Marketing là sự nhấn mạnh tới nhu cầu của khách hàng là điểm xuất
phát của điều hành kinh doanh.
Thực chất của các định nghĩa trên đều thể hiện chung các điểm sau đây :
+ Lập kế hoạch ( Planning )
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Nghiên cứu (Reseach)
+ Thực hiện (Implementation )
+ Kiểm soát (Control)
+ Đánh giá (Evaluation).
tâm. Theo tiến sỹ Nguyễn Văn Mạnh trong bài giảng về Marketing du lịch
thì:
Marketing du lịch thực hiện ở các cấp độ khác nhau:
+ Cấp quốc gia: Tập trung vào định hướng thị trường và xúc tiến.
+ Cấp địa phương: Dự báo cầu, định hướng sản phẩm, truyền thông
marketing (tuyên truyền, quảng cáo, quan hệ công chúng)
+ Cấp điểm du lịch và Doanh nghiệp du lịch: Lựa chọn thị trường mục
tiêu, triển khai các chính sách marketing mix cho phù hợp với từng phân
đoạn thị trường. Tập trung nhiều hơn vào các hoạt động bán hàng cá nhân,
thúc đẩy bán và bán hàng trực tuyến.
Theo các nhà marketing du lịch để bán được các chương trình du lịch
phải giải quyết được ba nỗi lo của người tiêu dùng.
• Fear of Flying
• Fear of Foreign Food
• Fear of Foreigners.
Bản chất của dịch vụ du lịch
+ Vô hình (Intangible).
+ Không đồng nhất (Heterogeneity).
+ Không thể lưu giữ (Highly perishable).
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Không thể tách rời (Inseparability).
Quan niệm 8P
1. Sản phẩm (Product)
2. Giá cả (Price)
3. Phân phối (Partition (place))
4. Nhân sự (Personal)
5. Trình bày (Presentation)
6. Thúc đẩy (Promotion)
7. Đối tác (Partnership)
Kế hoạch năm (Annual or tactical marketing planning) hướng dẫn các
hành động chi tiết và phương pháp điều hành.
Bảng so sánh nội dung của kế hoạch chiến lược và chiến thuật
Kế hoạch chiến lược ( 3-5 ) Kế hoạch chiến thuật (1 năm)
Phân tích tình huống trong và
ngoài
Tóm tắt phân tích tình huống SWOT
Dự báo Đoạn thị trường chính, đoạn thị
trường khác
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến
sự thành công
Mục tiêu marketing hàng năm
Năng lực bên trong Sản phẩm (mục tiêu, chiến lược,
chiến thuật)
SWOT phân tích Giá cả (mục tiêu, chiến lược, chiến
thuật)
Các đoạn thị trường chính Phân phối (mục tiêu, chiến lược,
chiến thuật)
Tuyên bố định vị Truyền thông (mục tiêu, chiến lược,
chiến thuật)
Mục tiêu marketing Điều hành, đánh giá và kiểm soát
Lương Việt Anh – Du lịch 45B
Chuyên đề tốt nghiệp
Chiến lược: sản phẩm, giá cả,
phân phối, truyền thông
Đánh giá và kiểm soát
Ví dụ :
Kế hoạch vận chuyển ô tô từ điểm Du lịch A đến điểm du lịch B.
Trước hết lựa chọn tuyến đường (đi đường nào) lập chương trình, lựa
chọn thời gian thích hợp và chi phí.
nghỉ ngơi, thói quen du lịch, nhập cư, giai tầng xã hội, thái độ đối với môi
trường và tiêu thụ, phân bố dân cư, quy mô hộ gia đình, tỷ lệ hôn nhân và ly
hôn, mức độ và kiểu kêu ca …
Các yếu tố công nghệ, tri thức, sử dụng mạng phát triển dữ liệu điểm
đến, lựa chọn nguồn năng lượng, tiến bộ của công nghệ giao thông, công
nghệ tổ chức hội nghị, Máy tính hóa hệ thống phân phối toàn cầu.
Nguồn dữ liệu, thông tin chủ yếu là thứ cấp và lấy ở Cơ quan Thống kê,
các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
Phân tích các yếu tố tầm vi mô:
Thị trường khách du lịch, nhà cung cấp, nhà phân phối, đối thủ cạnh
tranh.
Thị trường khách du lịch: khách du lịch hiện tại, từ đâu tới, bao nhiêu,
loại thành phần du lịch nào khác thường mua, mua ở đâu, nước sở tại, ở nhà
thông qua hàng lữ hành… mua khi nào, đi du lịch vào thời gian nào, yếu tố
nào ảnh hưởng tới quyết định, các lợi ích nào mà khác du lịch tìm kiếm. Sáu
câu hỏi chính đặt ra và trả lời: Who, What, Where, When, How and Why.
Lương Việt Anh – Du lịch 45B