1
NHỮNG TÌM TÒI ĐỔI MỚI THEO XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI HÓA
TRONG THƠ 1975-2000
MỤC LỤC
2
1. Cơ sở xã hội và ý thức thẩm mỹ cho một nền thơ đổi mới theo xu hướng hiện
đại hóa
1.1 Hiện thực xã hội
Sự kiện lớn nhất của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XX là chiến thắng mùa xuân
30/4/1975. Kể từ đó, đất nước ta được giải phóng nhưng bối cảnh chính trị - xã hội mới
đã đưa nhà nước Việt Nam non trẻ bước vào một giai đoạn khó khăn, đầy thử thách.
Những hậu quả của chiến tranh vẫn còn để lại và việc đưa đất nước phát triển sau chiến
tranh thực sự là vấn đề rất nan giải. Đồng thời, nhân dân ta phải đối đầu với hai cuộc
chiến tranh ở biên giới phía Bắc (17/2/1979-18/3/1979) và biên giới phía Tây Nam
(12/1978-1/1979). Nước ta bị bao vây về kinh tế.
Trong những năm đầu của thập kỷ 80, việc áp dụng mô hình kinh tế bao cấp theo
“đàn anh” Liên Xô đã bộc lộ những ưu – khuyết điểm và sự không phù hợp với tình hình
đất nước Việt Nam bấy giờ. Chính vì vậy, trong Đại hội Đảng lần VI vào tháng 12 năm
1986, Đảng ta đã đưa ra quyết định đổi mới. Trong đó, Việt Nam sẽ chuyển từ nền kinh
tế bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới
được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm thay đổi cuộc sống nước ta
vốn đã có lúc rơi vào khủng hoảng sâu sắc.
Mặt khác, tình hình quốc tế có nhiều biến động. Đặc biệt là sự đổi mới của hệ
thống xã hội chủ nghĩa với sự tan rã của Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa
(1990) đã làm thay đổi căn bản cục diện thế giới. Điều đó trở thành thử thách trong bối
cảnh mới của đất nước Việt Nam. Chính bối cảnh xã hội đó đã có tác động trực tiếp đến
tình hình văn học 1975-2000 mà đặc biệt là đối với thơ ca.
Suốt những năm tháng đất nước ta kiên trì chiến đấu để giành được độc lập tự do,
miền Bắc tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội và dồn sức để miền Nam chiến đấu. Điều
3
được đặt lên hàng đầu lúc bấy giờ là lợi ích của đất nước, của nhân dân và cái chung
(Hy Mã Lạp Sơn)
Với văn học Việt Nam 1975-2000, cái tôi ấy sau một thời gian dài bị đè nén, bị
kìm hãm trong cái tôi chung của đất nước, nay lại trở về với chính cái bản thể vốn có của
mình.
Thứ hai, những tìm tòi đổi mới trong thơ Việt Nam 1975-2000 còn có cơ sở từ
những đổi mới trong quan niệm thơ. Sau 1975, những đổi mới về quan niệm thơ rất đa
dạng, có lúc đối lập nhau một cách dữ dội.
Nếu như thời kỳ Thơ Mới 1932-1945 có sự tranh cãi gay gắt giữa “Nghệ thuật vị
nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh” thì nay, thời kỳ 1975-2000 lại diễn ra cuộc
tranh luận quan niệm về thơ. Trước đây, văn học nghệ thuật là một công cụ đắc lực cho
cách mạng: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt
trận ấy” (Hồ Chí Minh). Trong Nhật ký trong tù, thơ trở thành một “người bạn tinh
thần” giúp người tù vượt qua những tháng ngày khổ sai. Bài thơ “Khai quyển” (Mở đầu
tập nhật ký) đã thể hiện rõ điều đó:
“Lão phu nguyên bất ái ngâm thi
Nhân vị tù trung vô sở vi
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật
5
Thả ngâm thả đãi tự do thì”
(Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.)
Nhìn chung, thơ trở thành một công cụ đắc lực phục vụ cho sự nghiệp, tuyên
truyền, giải phóng đất nước. Mặt khác, vai trò của thơ còn có phần bị xem nhẹ khi dường
như tính giải trí của thơ chỉ được đề cao.
Tuy nhiên, khi chiến tranh đã kết thúc, con người không thể sống mãi trong trạng
thái tinh thần nhuộm màu sử thi hào hùng mà phải trở về với thực tại, với trạng thái đời
thường. Sự trở về này là sự chuyển biến mang tính tất yếu, khách quan. Nhà thơ Thu Bồn
quan niệm rằng: “Thơ xin trọn đời là thơ nhưng sức vóc hơn xưa, giản dị hơn xưa, lắng
nhưng có những đóng góp bất ngờ cho văn học Việt Nam sau năm
1975, như: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Anh Thơ…
• Thế hệ chống Pháp: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng,
Dương Tường… với nhiều cách tân mới mẻ.
• Thế hệ chống Mỹ: Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Vũ Quần Phương,
Lưu Quang Vũ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh…
• Thế hệ đổi mới (Sau năm 1975): Thảo Phương, Trần Tiến Dũng,
Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư,
Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh…
2. Những tìm tòi theo xu hướng hiện đại hóa trong thơ Việt Nam 1975-2000
2.1 Về khái niệm thơ hiện đại
7
Để hiểu được khái niệm “Thơ hiện đại” trong thơ Việt Nam, trước hết chúng tôi
sẽ đi vào tìm hiểu, làm rõ một số khái niệm như “Hiện đại”, “Hiện đại hóa” và “Chủ
nghĩa hiện đại” trong văn học nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng.
“Hiện đại”: Là thuật ngữ chỉ một trào lưu triết học-mỹ học trong triết học văn
nghệ thế kỷ XX, phản ánh sự khủng hoảng của thế giới tư bản và hệ ý thức do nó tạo ra.
“Hiện đại” gắn liền với một giai đoạn bộc phát của sự tiếp xúc Đông-Tây. Ở phương
Tây, khái niệm “Hiện đại” được gắn với nhiều mốc thời gian khác nhau như từ cuối thế
kỷ XVII hoặc giữa thế kỷ XVIII. Dần dần, người ta thống nhất gắn khái niệm này với
thời đại các xã hội tư sản châu Âu thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX. Trong đó, xã hội “Hiện
đại” được xem là đi đôi với sản xuất công nghiệp hóa.
Hiện đại hoá văn học là đưa nền văn học dân tộc từ quỹ đạo của văn học khu vực
chuyển sang quỹ đạo chung của nền văn học tiên tiến trên phạm vi toàn thế giới (GS
Nguyễn Đình Chú). Nó vừa thuộc hình thức vừa thuộc nội dung của văn học. Công cuộc
hiện đại hóa văn học là một bộ phận của hiện đại hoá văn hoá. Hiện đại hoá văn hoá và
hiện đại hoá văn học là yêu cầu khách quan, tất yếu, có quan hệ mật thiết với nhau.
Khái niệm hiện đại hoá (Tiếng Pháp: Moderniser): Thuật ngữ văn hoá học dùng
để xác định quá trình vận động từ xã hội tiền công nghiệp dựa trên truyền thống tới một
hệ thống kinh tế và chính trị, cũng như văn hoá tiêu biểu cho sự phát triển của các nước
của giá trị hiện đại không chỉ chứa đựng trong cái mới mà còn bao hàm ý nghĩa về cái
9
triển vọng, cái của tương lai” (mang những giá trị của xã hội công nghiệp)”.
(“Về khái niệm hiện đại hóa trong văn học”, Tạp chí Văn học số 6/2000)
Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh: “Văn học hiện đại có nghĩa là thoát khỏi hệ thống
thi pháp của văn học trung đại để xác định một hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học
hiện đại”. “Văn học hiện đại” phải thoát khỏi 3 đặc điểm của thi pháp văn học trung đại
là:
- Thoát khỏi hệ thống ước lệ dày đặc, phức tạp và nghiêm ngặt-những ước lệ mang
tính chất uyên bác, cách điệu, sùng cổ và phi ngã.
- Vượt qua triết lí “Thiên nhiên nhất thể”. Con người là một mảnh của vũ trụ,
thiên nhiên là những chủ thể có linh hồn của người xưa.
- Thoát được quan niệm văn rất rộng của văn học trung đại (văn, sử, triết bất
phân); Xem nhẹ văn sáng tác, coi trọng văn, thơ, phú, lục.
(Giáo trình Văn học Việt Nam 1930-1945, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội)
Vương Trí Nhàn: “Khái niệm văn học hiện đại trong nghiên cứu văn học nên
dành để chỉ văn học Việt Nam thế kỷ XX (…). Một nền văn học hiện đại là một nền văn
học xây dựng theo mẫu hình phương Tây. Cố nhiên ở mỗi dân tộc, việc này được làm
theo một cách riêng, với sự sáng tạo riêng”.
(Khái niệm văn học hiện đại, Tạp chí Văn học số 1/2001)
Như vậy, khái niệm “Văn học hiện đại” gắn liền với giai đoạn phân kỳ lịch sử
này. Nói một cách chặt chẽ, “Văn học hiện đại” không phải là một loại hình văn học,
cũng không phải là một trường phái văn học thống nhất, mà rất nhiều quan điểm văn học
cùng xuất hiện trong quá trình phát triển và chuyển biến từ văn học cận đại sang văn học
hiện đại của phương Tây. “Văn học hiện đại” còn để chỉ trào lưu văn học có tầm ảnh
hưởng quốc tế hết sức phức tạp được tạo thành do tổng hợp các trường phái văn học,
10
được xem là một bộ phận hợp thành của văn học hiện đại phương Tây, bao gồm văn học
chủ nghĩa tượng trưng, tiểu thuyết dòng ý thức, chủ nghĩa siêu hiện thực, chủ nghĩa biểu
hiện, chủ nghĩa hiện sinh, trường phái kì ảo, tiểu thuyết mới,…
khẳng định họ không sử dụng ngôn ngữ, ngược lại họ phục vụ nó: Bị sức mạnh bí mật
của ngôn ngữ chiếm lĩnh, họ chỉ là người truyền sự ám ảnh của nó đến người đọc.
“Thơ hiện đại” là sự bộc lộ triệt để đời sống thực của nội tâm con người, bao gồm cả đời
sống tình cảm, đời sống bản năng, đời sống tâm linh. Trực giác, tiềm thức đóng vai trò rất
lớn để phát lộ tầng sâu của đời sống ấy vốn bị tư duy duy lý che lấp suốt nhiều thế kỷ
(Thơ lãng mạn đã làm cuộc giải phóng tình cảm tự nhiên khỏi ách lý trí, nhưng chưa
thoát khỏi tư duy duy lý). Cũng vì thế, thường khi, thơ hiện đại là ẩn ngữ phải được giải
mã bởi trực giác, tiềm thức.
(Tạp chí Thế giới mới số 45-1992)
2.2 Những tìm tòi theo xu hướng hiện đại hóa trong thơ Việt Nam 1975-2000
Bất cứ một sự cách tân nào khi ra đời cũng vấp phải những tranh cãi. Xu hướng
hiện đại hóa trong thơ nói chung và thơ hiện đại nói riêng cũng gặp phải tình trạng đó.
Ngay từ lúc định hình, xu hướng này đã vấp phải hàng loạt tranh cãi đến từ các văn đàn
thơ. Có thể thấy, có ba loại quan điểm chính nhìn nhận về vấn đề này:
12
- Loại thứ nhất là cổ vũ, giới thuyết và ủng hộ tích cực cho xu hướng này và cho rằng nó
đại diện cho làn gió mới trong thi ca. Quan điểm này bao gồm: Lê Đạt, Hoàng Hưng, Đỗ
Minh Tuấn, Đỗ Lai Thúy, Đỗ Đức Hiểu…
- Loại thứ hai phủ nhận triệt để, cho đó là thơ quái dị do ảnh hưởng của trào lưu hiện đại
chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật đầu thế kỷ XX. Đứng đầu quan điểm này chính là nhà
thơ Trần Mạnh Hảo với tập “Thơ phản thơ”.
- Loại thứ ba cho rằng, thơ hiện đại có những hạn chế và đóng góp chưa thực sự mới mẻ
nhưng vẫn đáng được tìm hiểu như một hướng phân tích thơ Việt Nam đương đại. Tiêu
biểu cho cách nhìn này là Trần Đình Sử, Mai Hương, Mã Giang Lân…
Ba loại giới thuyết này đã đưa đến những tranh cãi không dứt về trên văn đàn.
Nhưng nhìn chung, không thể phủ nhận những nỗ lực tìm tòi để mang đến một diện mạo
mới phù hợp với thời đại của các nhà thơ thế hệ 1975-2000. Để nhận định vai trò của sự
nỗ lực tìm tòi đổi mới này, đề tài “Những tìm tòi đổi mới theo xu hướng hiện đại hóa
trong thơ Việt Nam 1975-2000” sẽ đi vào tìm hiểu, phân tích những đóng góp tiêu biểu
của xu hướng này đối với thơ ca Việt Nam. Những đóng góp này được thể hiện trên các
trong sử dụng ngôn từ. Trường từ ngữ trong thơ đã được mở rộng đến gần như không có
giới hạn nào. Những từ thông tục, khẩu ngữ, biệt ngữ đã có mặt khá thường xuyên trong
thơ của nhiều tác giả, nhất là lớp trẻ. Thơ ca trở lại vị trí thực của nó giữa cuộc đời và
nhu cầu tự biểu hiện của con người, đặc biệt nhấn mạnh bản chất nghệ thuật ngôn từ của
thơ, xem việc làm thơ là “làm chữ”…
Khởi động cho những cách tân này là một số nhà thơ thuộc thế hệ trước 1975
(Hoàng Cầm: “Về Kinh Bắc” và “Mưa Thuận Thành”, Hoàng Hưng: “Ngựa biển” và
“Người đi tìm mặt”, Lê Đạt: “Bóng chữ”, Lê Đạt và Dương Tường: “36 bài tình”, Đặng
Đình Hưng: “Bến lạ” và “Ô mai”, Trần Dần: “Cổng tỉnh” và “Mùa sạch” ) và đáng
14
chú ý là sự xuất hiện của nhiều nhà thơ trẻ ở cuối thập kỷ 90 và những năm gần đây
(Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng
Ly…).
Thơ ca trong chặng đường 1986-2000 đã có nhiều cái mới từ quan niệm đến sự thể
nghiệm trên văn bản: Những xu hướng hiện đại trong thơ, từ bóng dáng siêu thực đến thứ
“thơ vụt hiện” (Dùng để chỉ những bài thơ viết ra một cách bột phát, ghi lại mọi con âm
chợt hiện trong đầu như ánh chớp loé lên trong bóng đêm), thơ như trò chơi của ngôn
từ…
Nguyên nhân giúp ngôn ngữ mở rộng khả năng biểu đạt của mình phần lớn là do
có sự thay đổi trong quan niệm về thơ. Thơ không cần phải mang nặng trách nhiệm
chuyển tải một nội dung ý nghĩa nào đó mà đơn giản trở thành một “trò chơi” với con
chữ trong tay người sáng tạo. Nhà thơ có một sự linh động và tự do đến vô cùng trong
việc làm mới cách thể hiện thi ca. Tiêu biểu cho hiện tượng này chính là “phu chữ” Lê
Đạt – một nhà thơ, một người “làm chữ” đến trình độ của một “người thợ” lành nghề.
“Nắng tạnh heo mày hoa lạnh
Mimoza chiều khép cánh mi môi xa”
(Mimoza)
Lê Đạt thích chơi chữ, đến mức được người ta tôn vinh là “phu chữ”. Nhưng
không chỉ chơi chữ Việt, mà ông chơi cả chữ… ngoại! Chỉ một “Mimosa” mà nhà thơ có
thể thản nhiên cắt chữ ra thành “mi môi xa” và tạo hình thành “mi, môi, xa” hoàn toàn
Bão loạn. Rùng rùng. Sặc nước. Giạt tóc. Liên lục địa sầm. Tìm, chết, đi
Bão loạn. Dứt tung tay. Oc lói. Lơ láo tù về lạc thế kỷ. Sương đầm đẫm vóc miên mai”
(Đường phố 1-Hoàng Hưng)
Một số nhà thơ như Trần Dần, Dương Tường… hướng sự tìm tòi, cách tân chủ yếu
vào hình thức ngôn từ (Hoàng Hưng mệnh danh cho xu hướng này mang tên “dòng
chữ”). Về hình thức, khuynh hướng này cũng bắt nguồn từ xu hướng thơ tượng trưng,
siêu thực, nhưng đặc biệt coi trọng việc tìm tòi về hình thức, nhất là chữ và âm.
Họ muốn “chữ” thoát khỏi chức năng ký hiệu thay thế cho những cái được biểu
đạt. Lê Đạt tuyên bố: “Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải bằng nghĩa tiêu dung, nghĩa
tự vị của nó mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương
quan với câu thơ , bài thơ”. Còn Trần Dần thì nói: “Tôi viết tức là tôi để con chữ tự mình
làm nghĩa”. [nguồn?]
Các nhà thơ theo khuynh hướng này rất chú trọng khai thác, làm giàu các giá trị
của mỗi chữ trong tiếng Việt. Họ làm mới những chữ đã quá quen thuộc bằng cách tạo ra
những kết hợp chữ khác với cách thông thường của một thứ trật tự ngữ pháp cứng nhắc.
Những thể nghiệm này đã được Trần Dần đưa ra trong “Mùa sạch” và “Jờ joạc”, Lê Đạt
trong “Bóng chữ”, Dương Tường trong “Thơ Dương Tường”, Lê Đạt và Dương Tường
trong “36 bài thơ tình” …
Nhiều nhà thơ nỗ lực tạo ra những chữ mới từ những âm tiết chưa có nghĩa. Họ rất
coi trọng việc tái tạo chữ, tạo sinh nghĩa mới cho chữ. Bài thơ “Ao ta” trong tập “Mùa
sạch” của Trần Dần là một trường hợp như thế:
“Chim sạch thông thênh sạch
Mây mùa thành thạch
Tôi đi trên đường sạch
17
Ngôi sao quê sáng bạch
Ao nhà con cá thạch
Tôi về một mạch
Tôi về tôi tắm sạch ao ta”
Đối với Lê Đạt, ông cố gắng tả những cái thực bằng một ngôn ngữ dồn nén, đầy
cởi thắm
để hoa bay
Em về nói làm sao với mẹ…”
(Quan họ)
19
Đáng chú ý là từ “cởi thắm”, mang nghĩa: Hoa gạo đỏ thắm lìa cành, bay theo gió.
Nhưng “cởi thắm” có thể hiểu theo nghĩa khác : Cởi thắm là cởi yếm thắm, vì ngoài hình
ảnh dải yếm, hai chữ " cởi " và " thắm " khó kết hợp với chữ khác.
Với bút pháp tả thực đã chuyển màu siêu thực bởi việc sử dụng ngôn ngữ ấn tượng
và cắt dán, đặc biệt với nghệ thuật cắt dán của nghệ thuật trừu tượng và siêu thực. Những
chi tiết của các chỉnh thể khác nhau bị tách rời, gán ghép vào nhau tạo thành một chỉnh
thể mới như ngôn ngữ hội họa siêu thực Picasso:
“Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu”
(Bóng chữ)
Như vậy, những tìm tòi theo hướng hiện đại chủ nghĩa đã thể hiện ý hướng triệt để
cách tân thơ, vượt ra khỏi những khuôn khổ và thói quen đã định hình quá lâu, để mở ra
những con đường và những khả năng mới cho thơ. Tuy nhiên, việc chìm sâu vào cõi
mông lung của vô thức, chối bỏ ý thức, xem thơ là trò chơi ngôn từ thuần túy có nguy cơ
đẩy thơ vào một thế giới khép kín, thành vật “tự nó”.
2.2.2 Vận dụng hình thức liên văn bản trong thơ
Những năm 60 của thế kỷ XX đã hình thành một thuật ngữ mới “Liên văn bản”
(intertextuality). Theo Julia Kristeva (sinh ngày 24/6/1941) một nhà triết học Pháp, nhà
phê bình văn học, phân tâm học, nhà xã hội học, nữ quyền, người xây dựng thuật ngữ này
khẳng định: “Văn bản nào cũng chịu sự tác động của một văn bản khác, nó có quá trình
và tương tác với hoàn cảnh văn hóa, xã hội. Với ý nghĩa đó, theo tôi, người đọc phải đạt
tới một chuẩn nhất định, có đủ độ từ ngữ, khả năng nhận biết các mã văn hóa. Và như
20
vậy những khả năng tiếp nhận khác sẽ xảy ra ở cùng một văn bản khi mà các đối tượng
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan”
Đó là hình ảnh những chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áo choàng đỏ,
có những cô gái di gan nước da nâu gợi tình tràn trề sức sống, có những vườn cam,
những rặng ô liu xanh một màu xanh huyền hoặc. Đặc biệt, ở đó luôn vang vọng tiếng
đàn ghi ta-âm thanh trong tác phẩm “Ghi ta khóc”, mang âm điệu nức nở, thở than làm
vỡ toang cả không gian. Thanh Thảo đã nhập thần vào thế giới thơ Lorca để lẩy ra và đưa
vào bài thơ của mình những biểu tượng ám ảnh bồn chồn vốn của chính thi hào Lorca.
Tất cả những biểu tượng đó đã được tổ chức lại xung quanh biểu tượng trung tâm là cây
đàn, vốn cũng là một biểu tượng trong thơ Lorca, gắn thơ với dòng nhạc dân gian thể
hiện một tình yêu vô bờ và khắc khoải đối với quê hương, đến Thanh Thảo, cây đàn nhập
một với hình tượng Lorca. Thanh Thảo muốn hợp nhất vào bài thơ của mình đời sống
chính trị Tây Ban Nha mùa thu năm 1936 để thấy rõ sự bạo ngược của bọn Phát xít khi
chúng bắt đầu ra tay tàn phá nền văn minh nhân loại và nhẫn tâm cắt đứt cuộc đời đang ở
độ thanh xuân của nhà thơ được cả châu Âu yêu quý:
“Bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
22
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy”
Sáng tạo nghệ thuật của Thanh Thảo được bộc lộ rõ trên các giao điểm là những
hình ảnh, biểu tượng vốn có trong thơ Lorca được làm mới để chuyên chở những cảm
nhận về chính thơ Lorca và về thân phận các nhà thơ trong thời hoành hành của bạo lực.
Tiếng đàn trong thơ Thanh Thảo là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ Lorca và là
sinh quyển văn hoá, sinh quyển chính trị-xã hội bao quanh cuộc đời, sự nghiệp Lorca.
ảnh giọt nước mắt vầng trăng cứ mãi làm người đọc càng thao thức.
Cái chết mà Thanh Thảo diễn tả lại làm ta liên tưởng đến bài thơ “Trăng tự tử”
của thi sĩ Hàn Mặc Tử:
“Miệng giếng mở ra
Nuốt ực bao la
Nuốt vì sao rồi
Loạn rồi ! Loạn rồi, ôi giếng loạn
Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên
24
Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên”
Phải chăng có sự liên kết vô tình hay hữu ý giữa 2 nhà thơ này?
Đọc thơ của Lorca rồi đọc thơ của Thanh Thảo người đọc càng nhìn thấy rõ hơn
sự vững vàng của nhà thơ Việt Nam trong việc phối trí các hình ảnh, biểu tượng lấy từ
nhiều văn bản khác nhau vào một tổng thể hài hoà. Thanh Thảo đã cho ra đời một đứa
con tinh thần hoàn hảo được nhào nặn từ những đứa con khác của Lorca, tất cả chúng trở
nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩa của những cuộc đời dâng
hiến hoàn toàn cho nghệ thuật, cũng là cho một nhu cầu tinh thần vĩnh cửu của loài
người.
Đến với hai bài thơ của một nhà Thơ Mới và một nhà thơ đương đại, dễ dàng bắt
gặp những hình ảnh giống nhau, cũng có mây, có gió và đặc biệt là cấu trúc của hai câu
thơ cuối bài.
“Mây trắng bay đi cùng với gió,
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ.
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ,
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?”
(Hoa cỏ may-Xuân Quỳnh)