Tài liệu LUẬN VĂN: Bàn về chế độ hạch toán chi phí dự phòng ở Việt Nam - Pdf 10



LUẬN VĂN:

Bàn về chế độ hạch toán chi phí dự
phòng ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh
mẽ. Đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO đã tạo ra một bước ngoặt mới
trong sự phát triển kinh tế của nước ta, nó mở ra trước mắt các doanh nghiệp nhiều cơ
hội nhưng cũng không ít thách thức và khó khăn. Một yếu tố luôn tồn tại trong kinh

Việt Nam”.
Với đề tài này bài viết của em gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về kế toán các khoản chi phí dự phòng.
Phần 2: Chế độ kế toán Việt Nam hiện hành về hạch toán chi phí dự phòng.
Phần3: Quan điểm nhằm hoàn thiện hạch toán chi phí dự phòng trong chế độ kế
toán Việt Nam hiện hành. Phần 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí dự phòng.
1.1. Khái niệm và bản chất của dự phòng.
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về dự phòng Mỗi định nghĩa nghiên cứu
dự phòng ở những phạm vi góc độ khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm:
Một cách tổng quát nhất, theo định nghĩa của chuẩn mực kế toán quốc tế, IAS37,
thì “Dự phòng là một khoản nợ có giá trị và thời gian không chắc chắn”. Như vậy
khoản dự phòng là bất thường bởi vì sự không chắc chắn về thời gian và số lượng các

1.3. Vai trò của dự phòng
Khoản mục dự phòng là khoản mục trọng yếu trên bảng cân đối kế toán. Nó không chỉ
quan trọng đối với doanh nghiệp mà còn quan trọng đối với các nhà đầu tư, các đối tác
của doanh nghiệp, nhà nước. Vai trò của dự phòng như được thể hiện trên các phương
diện sau:
Phương diện kinh tế:
Các khoản dự phòng là khoản mục trọng yếu trên bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp. Nó giúp cho những người sử dụng thông tin tài chính: nhà đầu tư, ngân hàng,
khách hàng, nhà cung cấp…có thể phân tích đánh giá chính xác kết quả hoạt động của
doanh nghiệp trong quá khứ và dự đoán xu hướng trong tương lai thông qua quy mô
của từng khoản mục dự phòng cụ thể người sử dụng thông tin tài chính đánh giá rủi ro
trong các hoạt động khác nhau từ đó ra quyết định đầu tư hoặc hợp tác kinh doanh với
doanh nghiệp
Phương diện tài chính:
Dự phòng có tác dụng làm giảm lãi của niên dộ nên doanh nghiệp tích luỹ được một
quỹ tiền tệ đáng lẽ đã được phân chia nhưng lại được giữ lại. Số vốn này được sử dụng
để bù đắp các khoản giảm giá tài sản và các rủi ro phát sinh trong niên độ sau. Thực
chất các khoản dự phòng là một nguồn tài chính của doanh nghiệp tạm thời nằm trong
tài sản lưu động trước khi sử dụng.
Ngoài ra dự phòng còn là một công cụ đắc lực để các nhà quản lý điều chỉnh lợi
nhuận trong niên độ hiện tại phục vụ cho mục đích của mình. Khi doanh nghiệp cần
thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài thì kế toán sẽ ghi giảm chi phí, tăng lợi nhuận làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp sáng sủa hơn, có triển vọng hơn. Ngược lại khi
cần doanh nghiệp có thể làm tăng dự phòng, làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận để nhận
được sự hỗ trợ của nhà nước hay để đạt được những mục đích khác.
Phương diện thuế:
Dự phòng được ghi nhận như một khoản chi phí trước thuế làm giảm lợi nhuận tức
phát sinh để tính ra thuế phải nộp và lợi nhuận thực tế. Nhờ có dự phòng mà doanh

sự đổi mới quy chế tài chính và kế toán.
2.2.1. Giai đoạn từ 2002 đến nay
Kể từ đầu năm 2002, trích lập các khoản dự phòng được thực hiện theo Thông tư số
107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001 và sau đó được bổ sung bởi thông tư số
21/2006/TT-BTC, thay thế bằng Thông tư số 13/2006/TT-BTT ngày 27/3/2006. Trong
giai đoạn này chế độ kế toán chi phí dự phòng dần hoàn thiện hơn về tất cả mọi mặt
như: mở rộng phạm vi áp dụng không chỉ giới hạn trong các đơn vị nhà nước mà áp
dụng cho các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật trong nền kinh tế
bao gồm cả các công ty có vốn đầu nước ngoài. Đồng thời đối tượng trích lập dự
phòng cũng được mở rộng (bao gồm cả dự phòng phải trả) kèm theo các quy định cụ thể mới phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế. Một số điều kiện và phương pháp trích
lập dự phòng giảm giá được thay đổi : Tỷ lệ trích lập dự phòng phải thu khó đòi, mức
trích lập dự phòng cho các loại đầu tư chứng khoán. Các quy định đó ngày càng chặt
chẽ hơn, tuy chưa thực sự đầy đủ nhưng đã được vận dụng có hiệu quả trong các
doanh nghiệp.
2.2. Kế toán chi phí dự phòng trong chế độ kế toán Việt Nam hiện hành
2.2.1.Dự phòng phải thu khó đòi:
* Một số vấn đề chung về dự phòng phải thu khó đòi.
* Khái niệm: Dự phòng phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các
khoản nợ phải thu mà có thể không thu hồi được do khách nợ không có khả năng
thanh toán.
* Điều kiện và căn cứ lập dự phòng
Điều kiện: Để lập dự phòng thì đơn vị cần phải có những bằng chứng đáng tin cậy về
các khoản nợ phải thu khó đòi (khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn thất, thiệt hại lớn về
tài sản…nên không có khả năng thanh toán.Các khoản nợ phải thu được theo dõi cho
từng đối tượng, từng nội dung, từng khoản nợ trong đó chi tiết nợ phải thu khó đòi.
Phải có chứng từ gốc hoặc các chứng từ khác xác minh số nợ mà khách hàng chưa trả.
Căn cứ lập dự phòng: Khi doanh nghiệp có các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán

Nợ TK 642
Có TK 139
- Nếu số dự phòng nợ phải thu khó đòi cần trích lập ở kỳ kế toán này nhỏ hơn số dự
phòng nợ phải thu khó đòi đã trích lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết, thì số
chênh lệch được hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:
Nợ TK 139
Nợ TK 642
Trong niên độ kế toán sau, khi đơn vị xác định các khoản nợ phải thu khó đòi thực sự
là không đòi được được phép xóa nợ. Việc xoá khoản nợ phải thu khó đòi phải theo chính sách tài chính hiện hành. Căn cứ vào quyết định xoá nợ về các khoản nợ phải
thu khó đòi, ghi:
Nợ TK 139
Nợ TK 642
Có TK 131,138
Đồng thời ghi vào bên Nợ TK 004 “ Nợ khó đòi đã xử lý” (Tài khoản ngoài bảng cân
đối kế toán)
Đối với những khoản nợ phải thu khó đòi đã được xử lý xoá nợ, nếu sau đó lại thu hồi
lại được nợ, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi được, kế toán
tiến hành ghi nhân khoản tiền thu được
Nợ TK 111, 112
Có TK 711 đồng thời ghi đơn vào bên có TK 004
Đơn vị có thể bán các khoản nợ phải thu khó đòi cho Công ty mua, bán nợ. Khi các
doanh nghiệp hoàn thành thủ tục bán các khoản nợ phải thu (đang phản ánh trên bảng
cân đối kế toán) cho công ty mua, bán nợ và thu được từ tiền
Nợ TK 111,112
Nợ TK 139
Nợ các tk liên quan( số chênh lệch giữa)
Có TK 131,138

Giá g
ốc
hàng tồn kho
theo sổ kế
toán

-
Giá tr
ị thuần có
thể thực hiện
được của hàng
tồn kho
* Tài khoản và Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.
TK 159 - dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
TK 139
TK 642
lập dự phòng
TK 642
Hoàn nhập dự phòng
TK 415
Số đã lập dự phòng
Trừ vào quỹ dự phòng
tài chính
Số còn thiếu
TK 131… Bên nợ: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho được hoàn nhập ghi giảm giá
vốn hàng bán trong kỳ.
Bên có: Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập tính vào giá vốn

Đối tượng, điều kiện và phương pháp lập dự phòng
Việc lập và xử lý các khoản chứng khoán thường được thực hiện vào cuối năm tài
chính nếu các chứng khoán do doanh nghiệp nắm giữ có giá trị thường xuyên bị giảm
sút so với giá gốc ghi trên sổ kế toán.
Để lập dự phòng giảm giá chứng khoán và các khoản đầu tư dài hạn thì Chứng
khoán của doanh nghiệpđược doanh nghiệp đầu tư đúng quy định của pháp luật và
được mua bán tự do trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính có
giá trị thị trường giảm so với giá gốc ghi trên sổ kế toán.
TK 159 TK 632
lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Hoàn nhấp dự phòng giảm giá hàng tồn kho (n
ếu số phải trích lập thấp h
ơn s
ố d
ư kho
ản dự phòng)
Khi lập dự phòng doanh nghiệp cần lập dự phòng cho từng loại chứng khoán và các
khoản đầu tư dài hạn khi có biến động giảm giá tại thời điểm cuối năm tài chính theo
công thức:
Các loại chứng khoán đầu tư:
Mức dự phòng
giảm giá đầu tư
chứng khoán


Vốn chủ
s
ở hữu
thực có

x
Vốn đầu tư của DN

Tổng vốn góp thực tế
của các bên tại tổ chức
kinh tế
Mức trích tối đa cho mỗi khoản đầu tư tài chính bằng số vốn đã đầu tư
*Tài khoản sử dụng hạch toán dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính.
Tk 129- Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Bên nợ: Hoàn nhập số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn kỳ
này phải lập nhỏ hơn số đã lập kỳ trước
Bên có: Trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn(Số cần
trích lập lần đầu và số chênh lệch giứa số dự phòng kỳ này phải lập
lớn hơn số đã lập cuối kỳ trước).
Số dư bên có : Số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn hiện có
cuối kỳ.
TK 229 - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn: Bên nợ: Hoàn nhập chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu
tư dài hạn năm nay phải lập nhỏ hơn số dự phòng đã trích lập năm
trước.
Bù đắp giá trị khoản đầu tư dài hạn bị tổn thất khi có quyết định
dùng số dự phòng đã lập để bù đắp

* Một số vấn đề chung về dự phòng phải trả bảo hành sản phẩm,hàng hóa công
trình xây lắp
Khái niệm: Dự phòng nợ phải trả là khoản nợ phải trả bảo hành không chắc chắn về
giá trị thời gian.
Thời điểm, điều kiện lập dự phòng:Dự phòng phải trả được lập mỗi năm khi một lần
vào cuối niên độ kế toán hoặc tại ngày kết thúc tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên
độ.
Dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hoá, sản phẩm công trình xây lắp được tiến hành
trích lập khi doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng có kèm theo giấy bảo hành sửa
TK 129,229 TK 635
lập dự phòng tổn thất

đầu tư tài chính
Hoàn nhấp dự phòng tổn thất đầu tài chính

(nếu số phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng) chữa cho các khoản hỏng hóc do lỗi sản xuất được phát hiện trong thời gian bảo hành
sản phẩm, hàng hoá,doanh nghiệp phải xác định cho từng mức chi phí sửa chữa cho
toàn bộ nghĩa vụ đó.
Theo quy chế độ kế toán thì các khoản dự phòng phải trả về các chi phí sửa chữa bảo
hành sản phẩm được ghi nhận vào chi phi bán hàng, đối với khoản dự phòng phải trả
chi phí bảo hành công trình xây lắp ghi nhận vào chi phí sản xuất chung.
*Tài khoản sử dụng
TK 352 - Dự phòng phải trả
Bên nợ: - Ghi giảm dự phòng phải trả khi phát sinh khoản chi phí có liên
quan đến dự phòng đã lập ban đầu.
- Hoàn nhập dự phòng phải trả khi doanh nghiệp chắc chắn không còn phải
chịu sự giảm sút về kinh tế do không phải chi trả cho nghĩa vụ nợ

xây lắp độc lập hay không độc lập để hạch toán các chi phí này.
- Nếu đơn vị không có bộ phận xây lắp độc lập về bảo hành sản phẩm, hàng hoá,
công trình xây lắp. Khi phát sinh các khoản chi phí liên quan đến việc bảo hành
sản phẩm hàng hoá, công trình xây lắp ghi:
Nợ TK 621,622,627
Nợ TK 133
Có TK 111,112,152,214,331,334,338 Cuối kỳ kết chuyển chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp
thực tế phát sinh trong kỳ, ghi:
Nợ TK154
Có TK 621,622,627
Khi sửa chữa bảo hành sản phẩm hàng hoá, công trình xây lắp hoàn thành bàn
giao cho khách hàng, ghi:
Nợ TK 352
Nợ TK 641 : Phần dự phòng phải trả còn thiếu.
Có TK 154
- Nếu đơn vị có bộ phận độc lập về bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây
lắp, số tiền phải trả cho bộ phận bảo hành về chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá,
công trình xây lắp hoàn thành bàn giao cho khách hàng, ghi:
Nợ TK 352
Nợ TK 641 : Phần dự phòng phải trả còn thiếu.
Có TK 336
Hết thời hạn bảo hành công trình xây lắp, nếu công trình không phải bảo hành hoặc số
dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây lắp lớn hơn chi phí thực tế phát sinh thì
số chênh lệch hoàn nhập:
Nợ TK 352
Có TK 711
Trong trường hợp có một bên thứ 3 thanh toán một phần hay toàn bộ chi phí cho

x
â
y l
ắp

Lập DP phải trả phí bảo

h
ành

s
ản

ph
ẩm

h
àng

ho
á

Phần DP phải trả về phí bảo hành SP, HH còn thiếu
lập DP thêm phần CL
Ghi giảm CF phần CL
kết chuyển CL
lập DP phải trả CF bảo
hành sản phẩm xây lắp
tài chính, chế độ kế toán chỉ quy định về cách thức hạch toán. Sự phân chia này đã dẫn
tới một số vấn đề không thống nhất trong lý thuyết và thực hành kế toán, cụ thể là có
những vấn đề không thống nhất giữa thông tư và quy định của chế độ kế toán hiện
hành về vấn đề dự phòng. Sự không thông nhất này có thể đơn cử ra hai trường hợp
sau:

*Về hoàn nhập dự phòng:
Theo thông tư số 13/2006 việc hoàn nhập các khoản dự phòng được ghi tăng doanh
thu (thu nhập) tương ứng với các hoạt động có liên quan đến đối tượng dự phòng(
hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tong kho vào dự phòng phải thu khó dòi, dự phòng
bảo hành sản phẩm hàng hoá vào thu nhập khác, dự phòng giảm giá các khoản đầu tư
tài chính vào doanh thu tài chính . Trong khi đó, theo chế độ kế toán doanh nghiệp
2006, hoàn nhập các khoản dự phòng bằng cách ghi giảm chi phí hoạt động có liên
quan đến các đối tượng lập dự phòng.
*Về trích lập dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hóa:
Thông tư số 13 quy định. Nếu số dự phòng bảo hành phải trích lập cao hơn số dư của
khoản dự phòng bảo hành, thì doanh nghiệp trích thêm vào chi phí bán hàng của doanh
nghiệp phần chênh lệch này. Trong khi đó chế độ kế toán hiện hành lại quy định tách
riêng khi trích lập dự phòng phải trả bảo hành công trình xây lắp được hạch toán vào
TK 627 – chi phí sản xuất chung.
Cả thông tư và chế độ kế toán hiện hành đều là những cơ sở để cho doanh
nghiệp dựa vào để tổ chức hạch toán tại đơn vị , mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh nói
chung đề hải tuân thủ theo quy định của các văn bản nói trên. Vì vậy hai điểm khác
biệt này sẽ khiến cho kế toán trong doanh nghiệp lúng túng không biết nên tuân theo
quy định nào. Sự không thống nhất giữa thông tư và chế độ kế toán hiện hành không chỉ có một vấn đề vì vậy cần phải nhanh chóng tạo nên sự thống nhất để doanh nghiệp
có thể có văn bản hướng đẫn đúng đắn nhất.
Bên cạnh đó, Dự phòng phải trả về bảo hành hàng hoá, sản phẩm cũng còn tồn

là chi phí để tạo ra sản phẩm. Các công trình xây lắp thường có giá trị, quy mô lớn, kết
cấu phức tạp , thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của
các nhân tố môi trường như nắng, mưa Vì thế sản phẩm xây lắp luôn yêu cầu phải có
bảo hành sản phẩm từ phía đơn vị xây lắp. Ghi nhận trước chi phí bảo hành vào chi phí
sản xuất sẽ hợp lý hơn là chi phí bán hàng. Theo em thì việc trích lập dự phòng này
cũng nên thông nhất theo như trong chế độ kế toán hiện hành để thực hiện.
* Về việc trích lập dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hoá vi phạm nguyên tắc kế toán
dồn tích, Ta có thể thay đổi về nguyên tắc kế toán như sau: Không tiến hành lập dự
phòng về bảo hành sản phẩm hàng hoá. Khoản ngầm định trước trong giá bán của sản
phẩm hàng hoá phải được chuyển vào doanh thu chưa thực hiện được căn cứ vào mức
chi phí thay thế cho toàn bộ nghĩa vụ bảo hành.
Các khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá khi phát sinh được hạch toán vào chi
phí sản xuất kinh doanh trong kỳ(chi phí bán hàng). Khi đó khoản doanh thu chưa thực
hiện (TK 3387) sẽ được ghi nhận vào doanh thu trong kỳ tương ứng với phần chi phí
bảo hành thực tế phát sinh, khoản doanh thu được ghi nhận này sẽ được bù đắp chi
phí.
Khi hết thời hạn bảo hành phần doanh thu chưa thực hiện nếu không được ghi nhận hết
vào doanh thu do không phát sinh hoặc phát sinh ít hơn so với số đã dự kiến thì được
ghi nhận vào doanh thu khác. Như vậy thì doanh thu và chi phí sẽ không vi phạm quy
định nguyên tắc kế toán dồn tích.

KÊT LUẬN

Qua nghiên cứu về chế độ kế toán chi phí dự phòng, ta thấy dược vai trò quan trọng
của dự phòng trong quá trình sản xuất kinh doanh và thậm chí cả trong công tác quản
lý doanh nghiệp. Các khoản dự phòng có ảnh hưởng tới tình hình và khả năng tài
chính của doanh nghiệp, vì thế cần tiến hành các nghiên cứu về dự phòng nhằm tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status