§Ò ¸n m«n häc
LỜI MỞ ĐẦU
Dự phòng được hiểu là việc ghi nhận trước một khoản chi phí thực tế
chưa thực chi vào chi phí kinh doanh, chi phí đầu tư tài chính của niên độ báo
cáo để có nguồn tài chính cần thiết bù đắp những thiệt hại có thể xảy ra trong
niên độ liền sau.
Từ khái niệm trên cho ta thấy, hạch toán kế toán các khoản dự phòng sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kinh doanh trong kỳ từ đó ảnh hưởng kết quả
kinh doanh, đến giá trị tài sản, các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Hơn nữa dự
phòng là một trong những yếu tố không thể đo lường chính xác được, chứa đựng
nhiều yếu tố chủ quan. Do đó việc hạch toán kế toán các khoản dự phòng là một
điều đáng phải quan tâm.
Để có được sự đáng tin cậy của báo cáo tài chính, sự minh bạch các con
số liên quan đến các khoản dự phòng cần có sự chính xác trong việc kế toán các
khoản dự phòng này. Từ đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện đối với chế độ kế toán về
các khoản dự phòng. Chế độ kế toán hoàn thiện sẽ mang tạo sự dễ dàng trong kế
toán đối với các doanh nghiệp đồng thời góp phần thực hiện cam kết của chính
phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực kế toán (CMKT) phù
hợp với thông lệ kế toán quốc tế.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này em đã chọn đề tài bàn về
chế độ kế toán các khoản dự phòng để được trình bày một số tìm hiểu, ý kiến
của em về chế độ kế toán hiện hành đối với các khoản dự phòng.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ dạy của Ths. Nguyễn Thị
Mai Anh đã giúp em hoàn thành bài đề án này.
Ngoài lời mở đầu và kết luận đề án của em gồm hai phần chính như sau:
Phần 1: Chế độ kế toán hiện hành liên quan đến hạch toán kế toán các
khoản dự phòng.
Phần 2: Một số ý kiến đóng góp với chế độ về hạch toán kế toán các
khoản dự phòng.
NguyÔn ThÞ Liªn Líp :KÕ To¸n 47B
1
chính như sau
1.1.2.1. Dự phòng rủi ro
Dự phòng rủi ro phản ánh việc ghi nhận trước những khoản tổn thất
sẽ xảy ra trong tương lai có liên quan đến các đối tượng đang tồn tại tại
thời điểm lập dự phòng. Theo chế độ kế toán ( VSA 18 ), thuộc loại dự
NguyÔn ThÞ Liªn Líp :KÕ To¸n 47B
3
§Ò ¸n m«n häc
phòng này gồm có: dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn, dự
phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
• Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Khoản dự phòng này để ghi nhận khoản lỗ có thể phát sinh do sự giảm giá
của các chứng khoán ngắn hạn doanh nghiệp đang nắm giữ có thể xảy ra.
Việc hạch toán kế toán khoản dự phòng này cần tôn trọng những quy định
sau:
+ Việc trích lập và hoàn nhập khoản dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
được thực hiện ở thời điểm khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm. Đối
với các doanh nghiệp có lập báo cáo tài chính giữa niên độ nếu có biến động lớn
về lập dự phòng thì được điều chỉnh trích thêm hoặc hoàn nhập.
+ Mức lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn được xác định bằng chênh
lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện được (giá thị trường) và giá gốc ghi trên
sổ kế toán. Nếu số dự phòng phải lập kỳ này cao hơn số dư dự phòng đã lập ở
cuối kỳ kế toán trước thì số chênh lệch đó được ghi nhận vào chi phí tài chính
trong kỳ. Nếu số dự phòng phải lập năm nay thấp hơn số dư dự phòng đã lập
đang ghi trên sổ kế toán thì số chênh lệch đó được ghi giảm chi phí tài chính.
+ Điều kiện để trích lập các khoản dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn là:
- Chứng khoán của doanh nghiệp được doanh nghiệp đầu tư theo đúng
quy định của pháp luật;
- Được tư do mua, bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo
cáo tài chính có giá thị trường giảm xuống so với giá gốc ghi trên sổ kế toán
Kế toán khoản dự phòng này cần tôn trọng một số nguyên tắc sau:
+Việc trích lập và hoàn nhập khoản dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
được thực hiện ở thời điểm cuối kỳ kế toán năm. Trường hợp doanh nghiệp
được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch
(không phải năm tài chính bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm)
thì thời điểm lập dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính.
Đối với các doanh nghiệp có lập báo cáo tài chính giữa niên độ nếu có
biến động lớn về dự phòng thì có thể điều chỉnh trích thêm hoặc hoàn nhập vào
cuối kỳ kế toán giữa niên độ (kỳ kế toán quý).
+Việc lập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn phải được thực hiện theo quy
định của từng loại đầu tư dài hạn. Mức lập dự phòng được xác định bằng chênh
lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện được (giá thị trường) hoặc khoản đầu tư
có thể thu hồi được và giá gốc ghi trên sổ kế toán. Nếu số dự phòng phải lập
năm nay cao hơn số dư dự phòng ghi trên sổ kế toán thì số chênh lệch đó được
ghi nhận vào chi phí SXKD trong kỳ. Nếu số dự phòng phải lập năm nay thấp
hơn số dư dự phòng đã lập năm trước chưa sử dụng hết thì số chênh lệch đó
được ghi giảm chi phí SXKD.
+Việc lập và xử lý dự phòng giảm giá các khoản chứng khoán đầu tư dài
hạn được thực hiện vào cuối năm tài chính nếu giá thị trường của các chứng
khoán đầu tư dài hạn của doanh nghiệp hiện có thường xuyên bị giảm so với giá
NguyÔn ThÞ Liªn Líp :KÕ To¸n 47B
5
§Ò ¸n m«n häc
gốc ghi trên sổ kế toán. Điều kiện để trích lập các khoản dự phòng giảm giá
chứng khoán dài hạn là:
- Chứng khoán của doanh nghiệp được doanh nghiệp đầu tư đúng quy
định của pháp luật;
- Được tự do mua, bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo
cáo tài chính có giá thị trường giảm so với giá gốc ghi trên sổ kế toán.
+ Doanh nghiệp phải lập dự phòng cho từng loại chứng khoán dài hạn khi
tính theo công thức sau:
Vốn đầu tư của doanh
nghiệp
Tổng vốn góp thực tế của
các bên tại doanh nghiệp
NguyÔn ThÞ Liªn Líp :KÕ To¸n 47B
6
§Ò ¸n m«n häc
Mức trích tối đa cho mỗi khoản đầu tư dài hạn bằng số vốn đã đầu tư. Đến
thời điểm khoá sổ kế toán của năm sau, nếu công ty đầu tư vốn có lãi hoặc giảm
lỗ thì công ty hoàn nhập một phần hoặc toàn bộ số đã trích dự phòng và ghi
giảm chi phí tài chính.
+ Khoản dự phòng giảm giá đầu tư tài chính được dùng để bù đắp số tổn
thất của các khoản đầu tư dài hạn thực tế xảy ra do các nguyên nhân như bên
nhận đầu tư bị phá sản, thiên tai,. . . dẫn đến khoản đầu tư không có khả năng
thu hồi hoặc thu hồi thấp hơn giá gốc của khoản đầu tư. Khoản dự phòng này
không dùng để bù đắp các khoản lỗ do bán thanh lý các khoản đầu tư.
• Dự phòng phải thu khó đòi
Khoản dự phòng này ghi nhận các khoản phải thu khó đòi hoặc có khả
năng không đòi được vào cuối niên độ kế toán.
Việc kế toán khoản dự phòng này cần tôn trọng những quy định sau:
+ Cuối kỳ kế toán hoặc cuối kỳ kế toán giữa niên độ (Đối với đơn vị có
lập báo cáo tài chính giữa niên độ) doanh nghiệp xác định các khoản nợ phải thu
khó đòi hoặc có khả năng không đòi được để trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự
phòng phải thu khó đòi tính vào hoặc ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp của
kỳ báo cáo.
+ Về nguyên tắc, căn cứ lập dự phòng là phải có những bằng chứng đáng
tin cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi (Khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn
thất, thiệt hại lớn về tài sản,. . . nên không hoặc khó có khả năng thanh toán, đơn
vị đã làm thủ tục đòi nợ nhiều lần vẫn không thu được nợ). Theo quy định hiện
đòi được nợ đã xử lý (Được theo dõi trên TK 004 “Nợ khó đòi đã xử lý”) thì số
nợ thu được sẽ hạch toán vào Tài khoản 711 “Thu nhập khác”.
• Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Khoản dự phòng này ghi nhận khi có bằng chứng đáng tin cậy về sự giảm
giá của giá trị thuần có thể thực hiện được so với gián gốc của hàng tồn kho.
Kế toán khoản dự phòng này cần tôn trọng một số quy định sau:
+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập khi giá trị thuần có thể thực
hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc và được ghi nhận vào giá vốn hàng
bán trong kỳ.
NguyÔn ThÞ Liªn Líp :KÕ To¸n 47B
8
§Ò ¸n m«n häc
+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào cuối kỳ kế toán năm khi
lập báo cáo tài chính. Khi lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải được thực
hiện theo đúng các quy định của Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” và quy định
của chế độ tài chính hiện hành. Đối với các doanh nghiệp phải lập và công khai
báo cáo tài chính giữa niên độ như công ty niêm yết thì khi lập báo cáo tài chính
giữa niện độ (báo cáo quí) có thể xem xét và điểu chỉnh số dự phòng giảm giá
hàng tồn kho đã lập cho phù hợp với tình hình thực tế theo nguyên tắc giá trị hàng
tồn kho phản ánh trên Bảng Cân đối kế toán theo giá trị thuần có thể thực hiện
được (Nếu giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc) của hàng tồn kho.
+ Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải tính theo từng thứ vật tư,
hàng hoá, sản phẩm tồn kho. Đối với dịch vụ cung cấp dỡ dang, việc lập dự
phòng giảm giá hàng tồn kho phải được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá
riêng biệt.
+ Cuối niên độ kế toán, căn cứ vào số lượng, giá gốc, giá trị thuần có thể
thực hiện được của từng thứ vật tư, hàng hoá, từng loại dịch vụ cung cấp dỡ
dang, xác định khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập cho niện độ kế
toán tiếp theo:
- Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối kỳ
trước chưa sử dụng hết thì số chênh lệch được ghi nhận vào chi phí sản xuất,
kinh doanh của kỳ kế toán đó. Trường hợp số dự phòng phải trả lập ở kỳ kế toán
này nhỏ hơn số dự phòng phải trả đã lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết thì
số chênh lệch phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ
kế toán đó.
Đối với dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây lắp được lập cho
từng công trình xây lắp và được lập vào cuối kỳ kế toán năm hoặc cuối kỳ kế
toán giữa niên độ. Trường hợp số dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây
lắp đã lập lớn hơn chi phí thực tế phát sinh thì số chênh lệch được hoàn nhập ghi
vào TK 711 “Thu nhập khác”.
+ Chỉ những khoản chi phí liên quan đến khoản dự phòng phải trả đã lập
ban đầu mới được bù đắp bằng khoản dự phòng phải trả đó.
NguyÔn ThÞ Liªn Líp :KÕ To¸n 47B
10