Tài liệu LUẬN VĂN: Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng liên doanh Lào-Việt, chi nhánh Hà Nội - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Các giải pháp nhằm tăng khả năng
cạnh tranh cho Ngân hàng liên doanh
Lào-Việt, chi nhánh Hà Nội Lời nói đầu

Thế giới kinh doanh khắc nghiệt của con người không nằm ngoài quy luật, bất
kỳ thành viên nào trên thế giới cũng phải luôn đấu tranh để sinh tồn, mà trong kinh
doanh chúng ta gọi là “cạnh tranh”. Trong kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
tiền tệ. Nó được thể hiện thông qua luật ngân hạng Nhà nước, là một tổ chức hoạt động
chủ yếu là nhận tiền gửi dựa trên nguyên tắc hoàn trả tiến hành cho vay, chiết khấu và
các phương thức thanh toán.
2. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại
Theo điều 9- Luật NHNN và điều 20- Luật các Tổ chức tín dụng, hoạt động
ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng, số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ
thanh toán.
Về cơ bản các nghiệp vụ của NHTM bao gồm:
2.1. Hoạt động huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ quan trọng đối với NHTM, bởi lẽ nó là cơ sở ngân hàng ra đời,
tồn tại và phát triển. Hoạt động này có ý nghĩa đặc biệt vì trên cơ sở vốn huy động
được, ngân hàng mới có thể thực hiện các nghiệp vụ sau này. Do do trong các hoạt
động của NHTM rất cao nên khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ đem lại thu nhập đồng thời đảm bảo được khả năng thanh toán khi có yêu
cầu với chi phí thấp nhất. Hay nói cách khác, ngân hàng phải đảm bảo có được một cơ
cấu tài sản nợ cũng như cơ cấu tài sản có hợp lý.
-Thứ nhất là, hoạt động tạo vốn tự có : Như hầu hết cơ sở kinh doanh khác, để
hoạt động kinh doanh được tiến hành cũng cần phải có một số vốn ban đầu và điều này
đặc biệt đúng trong hoạt động ngân hàng. Tuỳ từng loại hình ngân hàng mà hoạt động
này được hình thành như thế nào.
Đối với NHTM quốc doanh là do Nhà nước cấp đối với NHTM cổ phần là do
các cổ đông đóng góp, đối với ngân hàng liên doanh là do các đơn vị liên doanh đóng
góp.v.v Vốn tự có của một NHTM ở mức dưới hoặc bằng 10% so với tổng tài sản có. Nguốn vốn này chiếm một phần không lớn trong tổng nguồn vốn nó lại giữ vai trò
quan trọng trong hoạt động của NHTM. Bởi đây là điều kiện cần và đủ để các NHTM
hoạt động và là “tấm đệm” giúp các NHTM luôn cần quan tâm không ngừng tới việc

nguồn vốn vay huy động của NHTM nhưng lại không thể thiếu trong quá trình kinh
doanh. Hoạt động này giúp cho NHTM chủ động trong quá trình kinh doanh và trong
việc đối phó với khó khăn phát sinh. NHTM thường đi vay Ngân hàng Nhà nước hoặc
từ các tổ chức tín dụng khác.Thông thường quy mô và mục đích sử dụng đã được xác
định trước. Ngoài ra, các NHTM có thể phát hành trái phiếu, vay của các tổ chức tín
dụng nước ngoài, vay trên thị trường Liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh toán,
nhu cầu tín dụng của khách hàng.v.v ngày nay, vốn vay mượn đang trở thành bộ
phận quan trọng trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM.
Ngoài ra, các NHTM có thể nhận được vốn uỷ thác từ Chính phủ, từ các tổ chức
đầu tư quốc tế, các tổ chức nhân đạo.v.v để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội.
2.2 Hoạt động sử dụng vốn.
Nếu như, hoạt động huy động vốn quyết định sự ra đời và điều kiện tiên quyết
cho việc thực hiện các hoạt động khác của NHTM thì hoạt động sử dụng vốn quyết
định tới sự tồn tại và phát triển của NHTM. Hoạt động này mang phần lớn lợi nhuận
cho các NHTM. Khi thực hiện hoạt động này, các ngân hàng phải đảm bảo có một cơ
cấu tài sản hợp lý nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất, đồng thời vẫn đảm bảo khả
năng thanh toán cho khách hàng của mình. Để thực hiện được mục tiêu này, các
NHTM phải có chính sách đầu tư, tín dụng thích hợp, kết hợp quản lý tài sản quản lý
nguồn vốn, tuân thủ theo quy định của pháp luật và sự hướng dẫn của ngân hàng Nhà
nước. Hoạt động này bao gồm:
-Thứ nhất, hoạt động ngân quỹ: là hoạt động để đảm bảo khả năng thanh toán
thường xuyên cho khách hàng của NHTM. Trên bảng cân đối tài sản, kết quả của hoạt
động này được thể hiện ở khoản mục dự trữ. Có thể thấy, hầu hết các tài sản dự trữ đều
không sinh lời hoặc có khả năng sinh lời thấp nhưng nó lại có tính lỏng rất cao, điều đó
rất cần thiết cho hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, là mối quan hệ với chủ thể quản lý:
Ngân hàng Nhà nước do thực hiện hoạt động ngân quỹ phải đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt
buộc (được ngân hàng Nhà nước sử dụng như là công cụ để quản lý và điều hành chính nhiều lợi nhuận hơn. Ngày nay, chính nghiệp vụ trung gian là cơ sở để đánh giá và
phân loại các NHTM Chất lượng của các dịch vụ quyết định đến hình ảnh và uy tín
của ngân hàng thương mại, là cơ sở để thắt chặt mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng. Đặc trưng là các hoạt động: thu-chi hộ, chuyển tiền, thanh toán, trung gian mua
bán trên thị trường chứng khoán, uỷ thác, đấu thầu, tư vấn và các hoạt động khác như
bảo hiểm, bảo quản tài sản quý, giấy tờ có giá.v.v
Các NHTM ngày nay đã không ngừng tìm cách bành trướng phạm vi hoạt động
của mình. Họ ra sức ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, trang bị những thiết bị
tiên tiến nhất của công nghệ tin học vào các hoạt động nghiệp vụ. Sự lớn mạnh của
NHTM cùng với quá trình quốc tế hoá đang ngày càng trở nên mạnh mẽ. Thêm vào đó
khuynh hướng phát triển của các NHTM các ngân hàng đa năng cùng với dịch vụ tài
chính và phi tài chính ngày càng đa dạng cộng với sự xâm nhập của các tổ chức phi tài
chính, đã làm cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng gay gắt.
Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đã không bó hẹp trong phạm vi nội bộ quốc
gia mà mở rộng trên toàn thế giới, giữa các ngân hàng với nhau, giữa các ngân hàng với
tổ chức phi tài chính và giữa các tổ chức này với nhau. Trong điều kiện như vậy, các
NHTM phải chủ động quan tâm tới việc tìm ra nhu cầu và mong muốn đó. Việc sử dụng
marketing đã và đang là một điều kiện tất yếu trong cơ chế thị trường. Trong nền kinh tế
hiện đại, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ ngân hàng
hiện đại, vận dụng marketing, chuyên môn hoá kết hợp với kinh doanh đa năng được
xem là xu hướng phát triển kinh doanh chính và cũng là để thắng trong môi trường cạnh
tranh gay gắt của NHTM.
3.Vai trò của Ngân hàng đối với nền kinh tế
Ngân hàng không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế-nhận tiền gửi và cho vay -
trên thực tế ngân hàng đã thực hiện nhiều vai trò để có thể duy trì khả năng cạnh tranh
và đáp ứng nhu cầu xã hội, các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:
- Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu tự hộ gia đình, thành
các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào

Để đạt được lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường, những nhà kinh doanh phải
thông qua cạnh tranh. Vì vậy, cạnh tranh trở thành một yếu tố không thể thiếu trong sự vận
động của thị trường và là đối tượng của nhiều môn khoa học kinh tế và luật pháp.

2.Tính tất yếu của cạnh tranh đối với Ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các NHTM là tất yếu khách quan.
Cạnh tranh có một vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Để tồn tại và
phát triển trong một môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng cao, đòi hỏi các NHTM
phải nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ, áp dụng khoa học tiên tiến hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, chú trọng
hơn nữa công tác marketing ngân hàng, nguồn nhân lực, đào tạo lại nguồn nhân lực
hiện có để đáp ứng các yêu cầu đặt ra, phù hợp với công nghệ hiện đại, đồng thời đưa
ra chính sách lãi suất (tín dụng, huy động vốn), biểu phí dịch vụ có tính cạnh tranh lành
mạnh, hấp dẫn nhằm duy trì và mở rộng quan hệ với khách hàng cũng như việc chủ
động tìm đến khách hàng, chủ động tìm kiếm dự án
Mục tiêu quan trọng của NHTM là lợi nhuận, và việc cạnh tranh cũng làm tăng
thêm hoặc ổn định thu nhập của ngân hàng. Vấn đề này buộc các NHTM phải chú ý
nghiên cứu, thực hiện những biện pháp để tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và hiệu
quả lao động, mở rộng và phát triển các dịch vụ Điều đó sẽ mang lại lợi ích cao cho
bản thân các doanh nghiệp, dân chúng và xã hội, đồng thời tăng sức cạnh tranh cho các
NHTM.
Cạnh tranh thúc đẩy các NHTM luôn đánh giá được đúng thực lực của mình,
thấy được điểm mạnh, yếu của đối thủ cạnh tranh để tìm được biện pháp cạnh tranh
hữu hiệu và chiến thắng trong môi trường cạnh tranh.
Cạnh tranh không chỉ đơn thuần là đối đầu nhau, chiến thắng tuyệt đối đối thủ
của mình mà còn bao hàm vấn đề hợp tác giữa các NHTM với nhau, cạnh tranh trong
xu thế hợp tác. Bởi lẽ để tồn tại và phát triển được các NHTM dựa vào sức mình là
chính. Nhưng đôi khi cũng cần có sự hợp tác với nhau để cùng giải quyết những vấn đề

của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho khách hàng những sản phẩm dịch
vụ có chất lượng cao nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân
hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy.
Sức mạnh đồng bộ của toàn bộ ngân hàng được phát huy khi ngân hàng tận dụng
được hết những khả năng sẵn có của mình để nâng cao vị thế cạnh tranh. Mỗi ngân hàng
đều có những lợi thế riêng và đều có khả năng tận dụng những lợi thế ấy nếu có những
nhận thức thực sự hiệu quả và đúng đắn, tức là mỗi ngân hàng đều có khả năng phát triển
mạnh mẽ hơn. Nói cách khác, khả năng cạnh tranh của ngân hàng được đánh giá như
một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng kết hợp các lợi thế cạnh tranh mà ngân hàng đang có để biến đổi thành những công cụ hữu hiệu trong việc khẳng định vị trí của
ngân hàng trên thị trường.
4. Biểu hiện khả năng cạnh tranh của NHTM
4.1 Ưu thế cạnh tranh và sự vận dụng vào hoạt động của NHTM
- Trước hết, ưu thế cạnh tranh do địa điểm, vị trí hoạt động có nhiều thuận lợi. Tất
cả các nhà quản lý ngân hàng đều nhận thức những vấn đề này, Tuy nhiên, việc lựa chọn
được một địa điểm kinh doanh tốt không phải là việc dễ dàng. Nếu một ngân hàng thương
mại đặt trụ sở ở gần một ngân hàng thương mại khác có nhiều ưu thế hơn, hoặc nơi đặt trụ
sở không phù hợp sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh.Việc lựa chọn vị trí đặt trụ
sở phải phù hợp với quy mô hoạt động kinh doanh, nếu ngân hàng có vốn ít mà chi phí
xây dựng trụ sở lại tốn kém làm tăng chi phí ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
- Hai là, bề dày hoạt động
Bề dầy lịch sử là ưu thế khá quan trọng. Khách hàng thường chọn những nơi quen biết,
có bề dầy hoạt động để gửi tiền hoặc vay tiền.
- Ba là, Quy mô, địa bàn hoạt động
Ngân hàng thương mại có quy mô lớn và địa bàn hoạt động rộng tạo nên ưu thế về
tâm lý đối với khách hàng. khách hàng thương quan niệm khi gửi tiền vào các NHTM lớn
thì sẽ yên tâm hơn. Mạng lưới chân dết của NHTM cũng có tác dụng tăng cường quy mô
hoạt động của NHTM với phương châm “góp gió thành bão”

cũng phải có giới hạn của nó, nếu vượt quá giới hạn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
hoạt động kinh doanh.
4.2 Những lĩnh vực (khía cạnh) cạnh tranh chủ yếu của NHTM.
Các NHTM cạnh tranh với nhau trong mọi hoạt động. Tuy nhiên, chúng có thể
được khái quát trên các lĩnh vực (khía cạnh) chủ yếu như sau:
- Thứ nhất là: cạnh tranh về khách hàng
Với động cơ kinh doanh là nhằm đạt tới lợi nhuận ngày càng cao, do đó mỗi
NHTM đã hoạch định chiến lược kinh doanh trong đó công bố các chính sách và các giải
pháp ưu đãi đối với khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về mình trong việc khỏi tăng
nguồn vốn, cho vay và làm dịch vụ khép kín cho khách hàng.
Quá trình cạnh tranh giữa các NHTM đã làm tăng thêm nhu cầu tìm kiếm và chọn
lựa khách hàng, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng theo hướng nhanh
nhạy, kịp thời, chi phí phục vụ thấp nhất và bảo đảm an toàn nhất. - Thứ hai là: cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ
Các NHTM đều có chiến lược sản phẩm. Việc tung các sản phẩm và dịch vụ ra thị
trường được các nhà hoạch định tính toán kỹ lưỡng các ích lợi vật chất và phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ cũng như các công nghệ truyền thống. Những ý tưởng về sản phẩm
dịch vụ mới là những vấn đề phức tạp liên quan đến hiệu quả kinh tế, tiện dụng và an tâm
cho cả khách hàng và Ngân hàng. Đây là khía cạnh của cạnh tranh mà các NHTM rất chú
trọng, luôn luôn nâng cao và đổi mới.
- Thứ ba là, Cạnh tranh về công nghệ và phong cách làm việc
Việc giao dịch với khách hàng một cửa, vừa đảm bảo nhanh chóng, chính xác và
kịp thời, vừa đảm bảo văn minh, lịch sự đối với khách hàng, phù hợp với xu hướng mở
cửa, hội nhập khu vực cũng như quốc tế.
Giao dịch một cửa (nhưng không nhiều khoá), nhiều tổ chức tín dụng đã gắn liền
với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại; kết nối mạng vi tính thông suốt đảm bảo
chế độ thường xuyên có người trực máy giao dịch với khách hàng; nhanh chóng khắc phục
và xử lý kịp thời sự cố do máy móc, hoặc quy trình tác nghiệp ùn tắc gây nên; việc đổi

thông qua 3 chỉ số phân tích cơ bản:
Lợi nhuận ròng
(1). ROA = * 100
Tổng tài sản có
Chỉ số ROA cho nhà phân tích thấy được khả năng bao quát của ngân hàng
thương mại trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. Nói cách khác, ROA giúp nhà phân
tích xác định hiệu quả kinh doanh tính trên một đồng tài sản có. ROA lớn chứng tỏ
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tốt, NHTM có cơ cấu tài sản hợp lý.
NHTM có sự điều chỉnh linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản có trước những biến
động của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn nhà phân tích sẽ lo lắng vì rủi ro
luôn song hành với lợi nhuận. Vì vậy việc so sánh ROA giữa các kỳ hạch toán là rất
cần thiết, giúp nhà phân tích có thể sự báo thành công cũng như thất bại của ngân hàng
thương mại.
Lợi nhuận sau thuế
(2). Chỉ số ROE = *100
Vốn chủ sở hữu
ROE là chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng của một đồng vốn tự có. Nó cho biết
lợi nhuận ròng mà các cổ đông có thể nhận được từ việc đầu tư vốn của mình. Nếu
ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ trọng nhỏ so với
tổng nguồn vốn. Vốn kinh doanh vì vậy sẽ chủ yếu từ nguồn huy động và như vậy có
thể ảnh hưởng tới mức độ lành mạnh trong kinh doanh của NHTM.

Tổng chi phí
(3). Chỉ số COI = *100
Tổng thu nhập
Chỉ số COI tính toán khả năng bù đắp chi phí từ nguồn thu nhập của NHTM.
Đây cũng là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM. Thông thường chỉ số này

kê với một số lưu ý sau:
Độ an toàn, chính xác trong giao dịch là tiêu chuẩn hàng đầu đối với mọi khách
hàng. Vì vậy, thực tế các NHTM đều đã đảm bảo tỷ lệ này ở mức suýt soát 100%. Việc
thống kê các sai sót trong quá trình cung ứng dịch vụ vì vậy gặp khó khăn. Tuy nhiên,
các sai sót khi phát hiện được, cần trừ điểm cao trong tổng số điểm đánh giá chất lượng
dịch vụ ngân hàng.
Tốc độ xử lý giao dịch: thời gian giao dịch cần thiết đối với các loại dịch vụ khác
nhau sẽ rất khác nhau. Ví dụ thời gian giao dịch cho một khoản vay ngắn hạn có thể là 2
ngày trong khi thời gian cần thiết để hoàn tất một khoản vay trung và dài hạn tối thiểu là
30 ngày, thậm chí là một năm vì vậy cũng nên so sánh theo từng loại hình dịch vụ, không
thể so sánh cùng lúc giữa các loại dịch vụ khác nhau.
3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng của khách hàng
Đây là chỉ tiêu mang tính tổng hợp nhất và có thể nói là quan trọng nhất theo
quan điểm Marketing, vì suy cho cùng các NHTM cạnh tranh với nhau là thu hút được
nhiều khách hàng thông qua việc thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của họ. Như trên đã
trình bày, sự hài lòng của khách hàng mang đậm tính chủ quan của chính họ. Vì vậy,
việc hình thành một nhóm chỉ tiêu cụ thể để đánh giá gặp nhiều khó khăn. Song, nhìn
chung, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng khi họ nhận được dịch vụ đúng (đáp ứng đúng
mục đích giao dịch), chất lượng đúng (như họ mong đợi), giá cả đúng (họ cho rằng hợp
lý) và thời gian đúng (không quá lâu). Do hầu hết các tiêu chuẩn yêu cầu của khách hàng về dịch vụ đã được thể hiện
qua hai nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng và chỉ tiêu phản ánh sự đổi mới nên tại
nhóm chỉ tiêu này chủ yếu sẽ được đánh giá theo khía cạnh kết quả vấn đề, cụ thể như
sau: Tốc độ tăng trưởng (suy giảm) số lượng khách hàng, tốc độ tăng trưởng (suy
giảm) thị phần.
Phương pháp tính toán hai chỉ tiêu trên chủ yếu là thống kê thông tin từ trong
nội bộ ngân hàng và thông tin từ bên ngoài ngân hàng. Do mức sinh lợi của các nhóm
khách hàng/dịch vụ khác nhau sẽ khác nhau. Vì vậy hai chỉ tiêu nói trên cần được

có nhiều sự lựa chọn, bao gồm cả lựa chọn không cần vay vì có khả năng tài chính vững
mạnh, thường nhận được lãi suất thấp hơn so với những khách hàng có ít hơn hay không
có lựa chọn nào.
Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng “mua hàng” giữa các ngân hàng và
các tổ chức tài chính khác để có được những điều kiện tốt nhất. Nếu điều này xảy ra ở quy
mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗi ngân hàng đối với các khoản cho vay sẽ có xu
hướng thu hẹp lại và sẽ chỉ có một sự khác biệt không đáng kể về lãi suất giữa các ngân
hàng trên cùng một thị trường. Nói cách khác, quyền lực của độc quyền bán quan hệ
nghịch đảo với khả năng lựa chọn của khách hàng.
Tóm lại, đối với ngành ngân hàng, cạnh tranh bằng lãi suất không phải là một công
cụ đem lại lợi ích mong muốn. Một minh chứng dễ thấy nhất là tại các nước phát triển, lãi
suất không phải là một công cụ được ưa thích và trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất
LIBOR và SIBOR không cách biệt nhau bao nhiêu. Để có thể sử dụng công cụ này có hiệu
quả trong cạnh tranh là một điều vô cùng khó khăn, trong những trường hợp cụ thể thì biện
pháp an toàn và thực tế nhất là bám theo lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương. Đây
cũng chính là cách thức mà các ngân hàng trên thế giới đang sử dụng trong cho vay trung
và dài hạn nhằm bảo đảm được kết quả hoạt động kinh doanh nhưng cũng không vượt quá
khỏi ngưỡng của lãi suất cạnh tranh.
2. Cạnh tranh bằng sự phân biệt
Như trên đã khẳng định, một ngân hàng muốn tạo được sự khác biệt với các ngân
hàng khác thì phải có những vũ khí chiến lược riêng thật hiệu quả nhằm đạt được sự tán
thưởng và ủng hộ cao nhất của khách hàng, từ đó mới có thể hy vọng sẽ tạo được chỗ
đứng trên thị trường và hoạt động có chất lượng, vượt lên hẳn các đối thủ cạnh tranh trước
đó. Loại bỏ yếu tố lãi suất không hiệu quả, chúng ta có thể xem xét một số công cụ chủ yếu của ngân hàng trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn như sau: uy tín của ngân
hàng, năng lực của bộ máy lãnh đạo, nguồn vốn tự có và huy động , hệ thống thu thập và
xử lý thông tin, khả năng phân tích rủi ro, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ ngân
hàng và đổi mới công nghệ và công tác quản trị chiến lược.

khả năng của từng bộ phận vào kết quả tổng hợp chung của ngân hàng. Để có thể thành
công trong môi trường cạnh tranh hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng cần có những tố
chất sau đây:
+ Khả năng chuyên môn: tuy có ý kiến cho rằng người quản lý ngày nay không cần
thiết phải có những hiểu biết chuyên sâu nhưng thực chất, muốn có một sự sắp xếp cho cơ
chế hoạt động của bất cứ một bộ máy thì người quản lý phải có những hiểu biết nhất định,
nhờ thế mới có thể phát huy được khả năng của từng bộ phận trong tổ chức. Khi mỗi cá
nhân và bộ phận được đặt vào đúng vị trí và năng lực hoạt động của mình, họ mới có thể
phát huy hết khả năng phục vụ cho lợi ích của ngân hàng cũng như là lợi ích của chính họ.
+ Khả năng phán đoán: ban lãnh đạo ngân hàng cần phải có tầm nhìn xa chiến
lược, nhờ đó có thể phán đoán tương đối chính xác các xu hướng của thị trường, có khả
năng phân tích và dự đoán tác động của các biến đổi hiện tại, từ đó đưa ra các chiến lược ở
tầm vĩ mô nhằm trang bị cho ngân hàng những vũ khí hiệu quả nhất giữ vững vị trí trên thị
trường.
+ Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế: khả năng này không những thể hiện
trong phương pháp bố trí nhân lực, khuyến khích cố gắng của nhân viên trong ngân hàng
để thu được hiệu quả làm việc xuất sắc nhất mà còn được áp dụng trong giao tiếp đối với
khách hàng và các cấp có thẩm quyền. Hoạt động ngân hàng diễn ra ở trung tâm của xã
hội, mối quan hệ của ngân hàng với các thành phần kinh tế khác lại dày đặc cũng như chịu
ảnh hưởng tác động của các bộ ngành khác nhau trong nền kinh tế nên sự khéo léo và uyển
chuyển trong giao tiếp của cán bộ lãnh đạo ngân hàng sẽ mang lại cho ngân hàng những
ưu thế đặc biệt trong mối quan hệ với khách hàng và bộ máy chính quyền trung ương và
địa phương. Điều này cho thấy ngân hàng không chỉ đơn thuần thực hiện công việc kinh
doanh mà ngân hàng phải thực hiện công việc kinh doanh đó một cách nghệ thuật. Như
vậy chính là cán bộ lãnh đạo ngân hàng đã thể hiện được văn hoá trong kinh doanh của
ngân hàng.
- Nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động Trong những năm gần đây, các tổ chức tài chính và các bộ phận của chúng đã bắt


cấp cho ngân hàng những thông tin cần thiết trong hoạt động đầu tư của mình, nâng cao
khả năng an toàn và giảm bớt những biến động về nguồn vốn huy động của ngân hàng
trong lĩnh vực cho vay. Một nguồn vốn ổn định cho phép ngân hàng phục vụ khách hàng
tốt hơn và khẳng định mạnh mẽ hơn uy tín của ngân hàng.
- Hệ thống thu thập thông tin
Nếu tiền là “thông tin vận động” thì các dịch vụ tài chính chính là lĩnh vực cần
thông tin nhất trong nền kinh tế. Nhiều dịch vụ tài chính (ví dụ như: dịch vụ tư vấn tài
chính) có bản chất hoàn toàn là thông tin, và sự vận động của các tổ chức tài chính để thoát
ra khỏi các hoạt động có hình thức trao đổi hàng hoá trở thành các hoạt động kinh doanh
có giá trị gia tăng cao hơn đang tăng cường tầm quan trọng của các sản phẩm đòi hỏi có
nhiều thông tin, cả về khối lượng và chất lượng. Các dịch vụ không có bản chất thông tin
cũng vẫn có xu hướng phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng thông tin vì giá trị của
mình. Hơn thế nữa, thông tin không đối xứng giữa các đối thủ cạnh tranh và khách hàng
của họ góp phần rất lớn vào việc giải thích những khác biệt trong hoạt động cạnh tranh.
Một trong những chức năng quan trọng nhất của các tổ chức tài chính là đánh giá
rủi ro lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thông tin. Tất cả các hình thức cho vay và các
hoạt động liên quan đến tín dụng phụ thuộc vào việc thu thập, xử lý và đánh giá một khối
lượng thông tin rất lớn. Tương tự, sự đồng hoá thông tin về các nhu cầu của khách hàng rất
quan trọng trong quá trình phát triển và đáp ứng nhu cầu của các dịch vụ.
Có 3 yếu tố liên quan tới nhận định thông tin là yếu tố quyết định trong hoạt động
cạnh tranh. Đó là:
+ Thông tin là nhân tố duy nhất trong quá trình sản xuất có thể được sử dụng đồng
thời trong quá trình thực hiện của một số lượng bất kỳ các dịch vụ và điều này đem lại một
số tính chất đặc trưng cho thông tin. Thông tin thứ cấp cho tổ chức này có thể là thông tin
sơ cấp cho bộ phận khác và phục vụ cho những mục đích khác nhau.
+ Chu kỳ phân nửa của thông tin có chiều hướng rất ngắn và có thể giảm. Do mức
độ biến đổi của thị trường cao, những thông tin tài chính có tính quan trọng sống còn
nhanh chóng mất tác dụng, và những diễn biến được bảo đảm vào lúc đó không còn được
đánh giá cao ngay sau đó

Bên cạnh việc tập trung nhiều thời gian và tiền vào việc thu hút và duy trì các nhân
viên cao cấp, các ngân hàng còn đầu tư rất nhiều vào đào tạo đội ngũ nhân viên với trình độ ngày càng cao. Đầu tư không ngừng vào nguồn vốn con người trong ngành này cũng cấp thiết
và cần thiết như dự phòng khấu hao và đầu tư vốn trong các ngành khác.
Đặc biệt, trong hoạt động tín dụng, cán bộ tín dụng là người trực tiếp quản lý dự án,
trực tiếp thu thập thông tin và đánh giá mức độ khả thi của dự án. Ngoài những kỹ năng
thông thường về mặt kỹ thuật, cán bộ tín dụng phải có rất nhiều kinh nghiệm và trực cảm
nghề nghiệp. Mà những điều này không chỉ thu được từ học tập mà còn phải được tích luỹ
từ thực tế và tư chất của mỗi người. Ngoài ra, phẩm chất trung thực, khách quan và công
minh là không thể thiếu khi đánh giá, lựa chọn một dự án.
- Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng và đổi mới công nghệ

Đổi mới trong tài chính đã đột ngột thay đổi cơ cấu của ngành dịch vụ tài chính,
ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến những bộ phận khác do tác động của nó trong việc sử dụng
thông tin kết hợp chặt chẽ trong các dịch vụ bán cho khách hàng. Công nghệ thông tin cho
phép các cán bộ ngân hàng có được một khối lượng thông tin ngày càng nhiều để tuỳ ý sử
dụng, cũng như giảm mạnh được khoảng thời gian cần thiết để chuyển thông tin giữa các
khu vực hoạt động, giữa từng đoạn thị trường khách hàng, và trong việc ứng dụng các sản
phẩm. Với việc ngày càng nhiều thông tin tiếp cận ngân hàng với tốc độ ngày càng tăng,
các hệ thống nội bộ phải chịu áp lực từ sự quá tải thông tin, đòi hỏi phải xây dựng những
hệ thống mới, bao gồm cả các phương thức để tăng tốc độ của quá trình ra quyết định. Các
hoạt động hậu trường cũng phải được cải tiến bởi những thay đổi trong công nghệ như hệ
thống giao dịch ở cả cấp độ bán buôn và bán lẻ.
Vì khoảng nghỉ trước khi có sự bắt chước công nghệ thường khá ngắn đối với hầu
hết các cuộc cải tiến và đang rút ngắn lại, điều quan trọng đối với một ngân hàng là phải
duy trì được một dòng các cải tiến. Điều này có nghĩa là cuộc cải tiến quan trọng nhất của
một ngân hàng chính là cuộc cải tiến tiếp ngay sau đó. Có vẻ như có một mối liên hệ tích
cực giữa sự phức tạp của cải tiến công nghệ và sự chậm trễ trong việc bắt chước. Nhưng

Chính vì vậy, ta có thể nhận thấy bản thân mỗi ngân hàng đều phải chịu tác động của các
nhân tố nội tại và các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố nội tại chính là tất cả những bộ phận,
những hoạt động của chính ngân hàng trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
ngân hàng đó, còn các nhân tố bên ngoài bao gồm các lực lượng thị trường tác động đến
hoạt động của ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status