Tài liệu Luận văn Phát triển các hình thức liên doanh với nước ngoài trong sản xuất hàng xuất khẩu ở Nghệ An - Pdf 10

1
Luận văn
1
2
Phát triển các hình thức
liên doanh với nước ngoài
trong sản xuất hàng xuất
khẩu ở Nghệ An MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghệ An là một tỉnh nông nghiệp miền Trung không có nhiều những
tài nguyên khoáng sản lớn như dầu mỏ hoặc các loại quặng kim loại cần thiết,
Nghệ An cũng không phải là một trung tâm thương mại hay công nghiệp,
nhưng điều kiện tự nhiên và lao động thuận lợi để phát triển các mặt hàng
nông sản, hải sản, vật liệu xây dựng và các ngành như dệt may, giày da, tiểu
thủ công nghiệp phục vụ xuất khẩu. Trong những năm vừa qua do những khó
khăn về vốn đầu tư, công nghệ và những hạn chế về công tác thị trường, về
trình độ kỹ thuật và quản lý chỉ đạo sản xuất kinh doanh nên sản xuất hàng
hóa nói chung và SXHXK nói riêng kém phát triển, kim ngạch xuất khẩu bình
quân trên đầu người hàng năm thấp hơn rất nhiều so với bình quân chung của
cả nước
Với quan điểm đổi mới của Đảng và từ khi có Luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam được ban hành vào tháng 12/1987, các hình thức đầu tư và
LDVNN tại Nghệ An đã được quan tâm phát triển và có những đóng góp nhất
định cho nền kinh tế và cho SXHXK, tạo ra nhiều việc làm cho người lao
động và sản xuất được một khối lượng hàng hóa đáng kể, góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu và tăng nhanh tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế
nhất là sản xuất công nghiệp và xuất khẩu.
2
3
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, quá trình phát triển
các hình thức LDVNN ở Nghệ An vẫn còn rất nhiều vấn đề nổi cộm: Đó là

Raymond Werlls trong lý thuyết "Chu kỳ sản phẩm", của Dominik Salvatore
trong cuốn "Kinh tế học quốc tế" và của các nhà kinh tế khác xuất bản trong
những năm gần đây như nghiên cứu của Xavier Ritchet, nhà kinh tế Pháp, trong
cuốn "Kinh tế doanh nghiệp" xuất bản bằng tiếng Việt do trung tâm Pháp -
Việt về đào tạo quản lý dịch năm 1997, của J.H. Adam trong cuốn "Từ điển tiếng
Anh kinh doanh" (Longman Consise Dictionany of Business English - 1992),
của Tổ chức hợp tác và phát triển của Liên hiệp quốc (OEDC) trong cuốn
"Chính sách cạnh tranh và liên doanh" (Competition policy and Joint Venture)
xuất bản năm 1986 Các nghiên cứu trên đã đưa ra khái niệm về LD, lý giải
cơ sở, vai trò và những "bất lợi" về LD, song đều viết chung với các vấn đề
kinh tế khác mà chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về LDVNN trong
SXHXK.
Ở nước ta, vấn đề liên doanh được Đảng và Nhà nước quan tâm từ
giữa những năm 80 và đã đưa vào Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng
12 năm 1987. Đã có những nghiên cứu về vấn đề này đăng trên một số tạp chí
và sách chuyên khảo. Đó là cuốn "Thành lập và quản lý công ty, xí nghiệp
liên doanh với nước ngoài" do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Phan chủ biên,
"Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việc thành lập các xí nghiệp liên
doanh với nước ngoài trong công nghiệp Việt Nam", luận án phó tiến sĩ của
nghiên cứu sinh Nguyễn Thường Lạng, "Liên doanh với nước ngoài và đầu tư
tại Việt Nam" của Hà Thị Ngọc Oanh, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội - 1998
Các nghiên cứu và sách báo trên đã quan tâm đến vấn đề LDVNN trên
tất cả mọi lĩnh vực kinh tế. Việc nghiên cứu vấn đề phát triển các hình thức
LDVNN trong SXHXK vẫn hoàn toàn mới mẻ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của luận án:
4
5
Trên cơ sở hệ thống và khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
các hình thức LD, luận án đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu

LD, luận án đưa ra khái niệm mới có tính chất tổng hợp và phù hợp với xu thế
hiện nay, đồng thời chọn lọc một số kinh nghiệm có thể vận dụng cho điều
kiện Việt Nam hiện nay như kinh nghiệm đa dạng hóa các hình thức LD, kinh
nghiệm phát triển các doanh nghiệp liên doanh SXHXK vừa và nhỏ ở Hàn
Quốc và Malaixia, kinh nghiệm về lựa chọn cơ hội LD, đánh giá hoạt động
của LD và cách thức giải quyết những mối bất đồng trong LD.
- Qua việc khảo sát tiềm năng phát triển SXHXK và thực trạng thành
lập, hoạt động của các dự án LDVNN, luận án đã phân tích những mâu thuẫn
và hạn chế cần khắc phục, đặc biệt là mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển và cơ
cấu đầu tư, mâu thuẫn giữa trình độ của công nghệ sản xuất và chế biến hàng
xuất khẩu hiện nay với thực trạng kém phát triển của các doanh nghiệp
SXHXK ở Nghệ An, mâu thuẫn giữa yêu cầu về khả năng cạnh tranh của
hàng xuất khẩu với giá thành sản phẩm trong các LD hiện nay ở Nghệ An.
- Cuối cùng luận án đưa ra được những quan điểm và giải pháp phát
triển đáp ứng với yêu cầu thực tiễn ở Nghệ An và phù hợp với điều kiện sản
xuất và chế biến hàng nông sản, hải sản xuất khẩu hiện nay ở trên phạm vi cả
nước. Đó là các giải pháp tạo ra môi trường và động lực thúc đẩy đầu tư cho
sản xuất hàng nông sản hải sản xuất khẩu trên cơ sở khai thác tối đa các tiềm
năng và lợi thế so sánh của địa phương và của đất nước trong quá trình toàn
cầu hóa thương mại hiện nay. Giải pháp phát triển các doanh nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu có hiệu quả của địa phương từ đó làm nảy sinh ra các nhu cầu
mở rộng đầu tư và LD với nước ngoài
7. Kết cấu của luận án
6
7
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án được chia thành 3 chương, 10 tiết.
7
8
Chương 1

những ngành công nghiệp và thương mại nhất định" [46, tr. 450].
Ở đây, C. Mác luận giải con đường hình thành công ty cổ phần.
Nhưng thực tế có những công ty cổ phần lại là doanh nghiệp LD bởi vì con
đường của công ty này chỉ bao gồm một số các chủ tư bản, các chủ này không
chỉ góp vốn mà còn cùng nhau tổ chức hoạt động kinh doanh ở công ty.
Phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư, C. Mác cho rằng đó là
động lực mạnh mẽ trong quá trình hoạt động kinh doanh của tất cả các nhà tư
bản. Do theo đuổi sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản
buộc phải mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao sức sản xuất của lao động.
Trong các phương pháp để mở rộng quy mô sản xuất mà các nhà tư bản đã áp
dụng là tích lũy tư bản. Nhưng đây là "phương pháp hết sức chậm chạp"
không thể thỏa mãn khát vọng của các nhà tư bản. Hơn nữa các nhà tư bản lại
phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên thị trường, cạnh tranh giữa các nhà tư
bản với nhau. Bởi vậy quá trình tập trung tư bản đã diễn ra [46, tr. 884].
Tập trung tư bản là quá trình làm tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng
cách sát nhập các tư bản cá biệt nhỏ thành tư bản mới. So với tích lũy tư bản,
thì đây là phương pháp tăng quy mô của xí nghiệp tư bản nhanh hơn nhiều, do
đó mức độ bóc lột giá trị thặng dư cũng lớn hơn nhiều. Có hai con đường để
tập trung tư bản: 1) Nhà tư bản lớn dùng sức mạnh kinh tế thôn tính và thu hút
tư bản của các nhà tư bản nhỏ theo nguyên tắc "cá lớn nuốt cá bé"; 2) Các nhà
tư bản " hợp tác" với nhau thông qua hợp nhất xí nghiệp của mình để thành
lập xí nghiệp mới. Trong thực tế không phải khi nào tập trung tư bản cũng
được thực hiện bằng con đường thứ nhất. Sự thành lập xí nghiệp mới bằng
con đường thứ hai tất yếu sẽ là công ty cổ phần hay công ty LD. Và như vậy,
cũng như sự ra đời của công ty cổ phần, sự ra đời của công ty LD là kết quả
của
một quá trình kinh tế khách quan do tác động bởi các quy luật kinh tế thị
9
10
trường được thúc đẩy bởi việc theo đuổi sản xuất giá trị thặng dư mà nguyên

hạn, khi xem xét hình thức xanh-đi-ca, ta cũng có thể nói rằng đây là một kiểu
LD mà các chủ doanh nghiệp chỉ tham gia một phần tư bản cùng quản lý và
điều tiết lĩnh vực thương mại của các doanh nghiệp tham gia xanh-đi-ca.
Hoạt động trong cơ chế cạnh tranh và do tác động bởi quy luật lợi
nhuận độc quyền cao, nên quá trình tập trung tư bản càng được đẩy mạnh,
làm cho quy mô của các xí nghiệp độc quyền càng lớn nhanh vượt ra khỏi
dung lượng thị trường trong nước. Thêm vào đó là tác động của cuộc cách
mạng công nghiệp làm xuất hiện các lĩnh vực kinh doanh mới. Do sự phân bố
không đồng đều về các nguồn lực sản xuất giữa các quốc gia làm xuất hiện lợi
thế so sánh. Đây là những cơ sở làm xuất hiện quan hệ kinh tế quốc tế của các
tổ chức độc quyền, thúc đẩy xuất khẩu tư bản.
Xuất khẩu tư bản là đưa tư bản ra nước ngoài nhằm chiếm đoạt giá trị
thặng dư và các nguồn lợi khác ở nước nhập khẩu tư bản. So với đầu tư trong
nước, việc xuất khẩu tư bản có thể thu được lợi ích nhiều hơn, chẳng hạn tỷ
suất lợi nhuận cao hơn, tìm kiếm và khai thác được nguyên liệu với giá rẻ
hơn, thị trường được mở rộng Một trong các hình thức xuất khẩu tư bản là
các nhà tư bản sử dụng các chi nhánh của mình hợp tác với các cơ sở sản xuất
của nơi nhập khẩu tư bản để xây dựng doanh nghiệp chung, cùng sản xuất
kinh doanh, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận. Đây chính là cơ sở ra đời của
các LD quốc tế.
Trong những thập niên gần đây, sự thành lập các LD với nước ngoài
được phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế học tư sản. Cho
đến nay đã có những giải thích về sự xuất hiện hiện tượng kinh tế này, phân
tích bản chất của nó dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Dưới đây là một số
quan điểm giải thích về bản chất và một số quan niệm về các hình thức LD
trong nền kinh tế thị trường.
11
12
- Quan điểm giải thích LD theo nghĩa rộng: Tức là quan điểm gắn
LD với kinh tế thị trường nói chung trong đó đối tác tham gia LD có thể

Quốc gia 1
Quốc gia 2
B
AAAeA
O
M
N
O'
C
E
D
Giá trị sản phẩm cận biên cửa tư bản
HAAeA
VMPK2
VMPK1
K
13
14

Theo tác giả, giả sử trên thế giới chỉ có hai quốc gia là quốc gia 1 và
quốc gia 2 (trên đồ thị 1.1). Tổng tư bản của cả hai quốc gia là 00', quốc gia 1
và quốc gia 2 có các đường giá trị sản phẩm cận biên của tư bản tương ứng là
VMPK1 và VMPK2. Trước khi có sự di chuyển vốn là 0'N. Lượng sản phẩm
mà quốc gia 1 tạo ra đo bằng diện tích hình OADN, trong đó lượng sản phẩm
do vốn tạo ra được đo bằng diện tích OHDN. Quốc gia 2 sản xuất được một
lượng sản phẩm đo bằng diện tích NCBO', trong đó số sản phẩm đo lượng
vốn tạo ra bằng diện tích NCKO'.
Khi có sự di chuyển vốn từ quốc gia 1 sang quốc gia 2, giả sử sự di
chuyển này đạt tới điểm cân bằng E, lượng vốn của quốc gia 1 là OM và quốc
gia 2 là O'M, thì quốc gia 1 sản xuất được một lượng sản phẩm đo bằng diện

sang nước khác hoặc về nước chủ nhà.
Giai đoạn 4 (Suy giảm và triệt tiêu) Doanh số bán hàng ở vào mức
thấp nhất. Các công ty đa quốc gia một mặt dịch chuyển sản xuất ra nước
ngoài để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm; mặt khác, đổi mới công nghệ
thông qua thành lập hoặc tìm các bạn hàng có kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm
15
16
ở nước ngoài. Từ đó xuất hiện các LD trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ
và tìm hiểu thị trường địa phương.
Đồ thị 1.2: Chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường quốc tế [100, tr. 82] Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc thành lập doanh
nghiệp LD là do các nhà đầu tư muốn khai thác tính không hoàn hảo của thị
trường để thu lợi nhuận ở nước ngoài khi ở đó có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so
với nếu đầu tư ở trong nước. Đây cũng là cơ hội để thâm nhập vào một số thị
trường vẫn còn bị bảo hộ.
Về phía các nước đang phát triển, các nước thuộc nhóm nước "đi sau"
tìm cách "nhảy vọt" và "rút ngắn thời gian đáng kể" bằng việc du nhập các
thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại từ các nước đi trước và từ các công ty
đa quốc gia để sớm có một nền công nghiệp hiện đại và khai thác tối đa các
nguồn lực trong nước. Nhưng các nước này không phải lúc nào cũng có khả
năng cân đối đủ các nguồn ngoại tệ để nhập khẩu các thiết bị máy móc và các
công nghệ cần thiết cho mình, hơn nữa trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất còn thấp chưa đủ khả năng để quản lý và sử dụng các công nghệ này một
cách có hiệu quả. Vì vậy, Chính phủ và các công ty của những quốc gia này
Doanh số

nghiệp tư bản. Ở nước Nga, đó là sự can thiệp của chính quyền Xô viết, tức là
của Nhà nước XHCN, nên nó phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. CNTB nhà nước, nếu xét về nội dung, có thể hiểu đó là các hình
thức kinh tế quá độ dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa các thành
phần kinh tế với các nhà tư bản trong và ngoài nước cũng như giữa các thành
phần kinh tế với nhau [54, tr. 68]. Công ty hợp doanh là một hình thức kinh tế
TBNN trong quan điểm của Lênin, chúng ta có thể gọi là công ty LD. Bởi vì,
đây là loại công ty được thành lập theo thể thức tiền vốn một phần của tư bản
tư nhân, một phần của tư bản nước ngoài và một phần của chính quyền xô
viết [42, tr. 336]. Những đặc tính của công ty hợp doanh trong quan điểm của
Lênin trước đây cũng chính là những đặc trưng chủ yếu của doanh nghiệp
LD mới phát triển mạnh mẽ trong vòng vài thập kỷ vừa qua mà toàn thế giới
đều biết đến.
Lê nin cho rằng:
CNTB là xấu so với CNXH, nhưng nó lại là tốt so với thời
trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình
17
18
trạng phân tán của người tiểu sản xuất gây nên. Vì chúng ta chưa có
điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên CNXH bởi
vậy trong một chừng mực nào đó, CNTB là không tránh khỏi Bởi
vậy chúng ta phải sử dụng CNTB (nhất là bằng cách hướng vào
CNTB nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và
CNXH làm phương tiện, con đường, phương thức để tăng lực lượng
sản xuất lên [40, tr. 276].
Khẳng định hơn nữa sự cần thiết phải áp dụng các hình thức kinh tế
của CNTB nhà nước, Lênin cho rằng việc áp dụng này sẽ tạo điều kiện tốt để
nâng cao trình độ quản lý của chính quyền xô viết. Lênin viết:
Không có kỹ thuật đại công nghiệp tư bản được xây dựng
trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có

thời phục hồi được giai cấp công nhân hiện đại.
Với tính tất yếu và tác dụng nhiều mặt như trên, việc sử dụng và phát
triển các hình thức kinh tế TBNN (trong đó có hình thức LD) là cần thiết để
sớm đưa nước Nga tiến lên CNXH.
Quan điểm trên của Lênin đã được áp dụng ở nước Nga trong thời kỳ
thực hiện chính sách kinh tế mới (1921 - 1928), sau đó kể từ những năm 60
được phát triển ở các nước XHCN với tên gọi: "Xí nghiệp liên doanh với
nước ngoài" và thành lập "Hội đồng tương trợ kinh tế" (khối SEP) nhằm tiến hành
phân công, hợp tác và tương trợ kinh tế lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em,
trong đó phát triển mạnh các hình thức gia công hàng xuất khẩu. Từ thập kỷ 80
trở lại đây, các hình thức LDVNN đã phát triển mạnh ở Trung Quốc và sau đó là
Việt Nam.
Như vậy, sự ra đời của các hình thức LD là kết quả tất nhiên của quá
trình tập trung hóa và hợp tác hóa sản xuất, của sự vận động dòng đầu tư
quốc tế với nguồn gốc bên trong là sự phát triển của phân công lao động
quốc tế, sự phát triển của sản xuất hàng hóa khi lực lượng sản xuất đã đạt
đến một trình độ nhất định.
19
20
Tuy nhiên cho đến nay nhận thức và khái niệm về các hình thức LD
vẫn chưa có một sự thống nhất và chuẩn hóa. Dưới đây, tác giả chỉ đề cập và
phân tích một số quan điểm về các hình thức LD của các nhà kinh tế trong
những thập niên gần đây và của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng
thời trên cơ sở nhận thức về bản chất của nó để đưa ra quan điểm của mình
làm tiền đề cho việc nghiên cứu phát triển và mở rộng các hình thức LDVNN
trong SXHXK ở Nghệ An.
1.1.2. Khái niệm về hình thức liên doanh
Cho đến nay có nhiều tác phẩm đề cập đến hình thức LD, đặc biệt là
các nhà kinh tế học tư sản. J.H.Adam trong cuốn "Từ điển tiếng Anh kinh
doanh" cho rằng:

bên, chẳng hạn đóng góp tri thức về quá trình sản xuất và đóng góp kiến thức
về thị trường" [52, tr. 8].
Quan điểm này cho rằng các bên tham gia LD có thể là các hãng, các
công ty nhưng có thể một bên là một công ty nhưng bên kia là một chính phủ
của một quốc gia. Tài sản đóng góp vào LD có thể là tiền vốn, tài sản hữu
hình nhưng cũng có thể là tài sản vô hình như tri thức, kiến thức về thị trường.
Tuy vậy, quan niệm này mới chỉ dừng lại ở LD với sự tham gia của hai bên.
Khía cạnh pháp lý của nó chưa được đề cập thích đáng. Hơn nữa LD không
chỉ dừng lại ở lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, mà còn cả trong hoạt động
nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.
Tổ chức hợp tác và phát triển của Liên hiệp quốc (OECD) cho rằng:
"Trên quan điểm cạnh tranh, LD là một hình thức nằm giữa
hợp đồng và liên minh trong đó hai hoặc nhiều công ty liên kết hoạt
động với nhau trong một hoặc hơn các lĩnh vực sau đây:
a. Tiến hành các hoạt động mua bán.
b. Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển
hoặc điều hành các hoạt động sản xuất.
21
22
c. Nghiên cứu và triển khai
d. Hoạt động chế tạo và xây dựng [102, tr. 11].
Cách hiểu này cho thấy LD không phải là một quan hệ hợp đồng đơn
giản, nó phải cao hơn quan hệ này; đồng thời LD cũng không phải là một
quan hệ có tính chất liên minh đầy đủ và chặt chẽ giữa các bên với quy mô
lớn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Do nằm giữa quan hệ hợp đồng và liên
minh nên liên doanh có thể được hình thành ở một hoặc hơn các lĩnh vực
thương mại, sản xuất, khoa học - kỹ thuật
Trong khi đó, các nhà kinh tế Mỹ thuộc Trường Đại học tổng hợp
America lại đưa ra quan niệm nêu rõ tính chất đa dạng của đối tác tham gia
LD:

xem là các hình thức LD với nước ngoài trên cơ sở pháp lý là hợp đồng LD,
hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc hiệp định ký giữa chính phủ Việt Nam và
chính phủ nước ngoài
Tóm lại, từ những luận điểm trên và qua việc nghiên cứu bản chất của
các hình thức LD có thể đưa ra một khái niệm chung về các hình thức LD như
sau: Liên doanh là một hình thức phối hợp tổ chức các hoạt động kinh tế của
hai bên hoặc nhiều bên cùng quốc tịch hoặc khác quốc tịch như tổ chức các
hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động nghiên cứu, dịch vụ,xây dựng
nhằm đưa lại lợi ích lớn hơn cho các bên trong liên doanh. Nó được hình
thành trên cơ sở sự tham gia thành lập, quản lý và sự đóng góp của các bên
về vốn, tài sản hoặc một công đoạn sản xuất kinh doanh nào đó. Lợi nhuận
rủi ro, trách nhiệm và quyền hạn của các đối tác liên doanh được phân chia
theo mức độ đóng góp, đồng thời được thống nhất và bảo đảm bằng một hợp
đồng liên doanh do các bên ký kết trên cơ sở pháp luật của quốc gia mà tại
đó hình thức liên doanh được thành lập và hoạt động.
23
24
1.1.3. Đặc trưng của hình thức liên doanh
Qua việc nghiên cứu nguồn gốc sự ra đời và khái niệm của các hình
thức LD, có thể nhận thấy các hình thức LD có những đặc trưng chủ yếu
như sau:
Một là, LD là một phạm trù kinh tế khách quan. Nó phản ánh những
mối quan hệ nội tại khách quan xuất phát từ những lợi ích kinh tế khách quan
giữa những chủ thể kinh tế. đồng thời nó phản ánh một quá trình vận động
phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ và phạm vi
của sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh.
Hai là, đặc thù của các hình thức LD là phải cùng thực hiện sản xuất
kinh doanh về một mặt hàng nào đó hoặc nghiên cứu triển khai trong một lĩnh
vực nhất định.
Ba là, trong các hình thức LD các bên phải có một trong những hình

công ty trách nhiệm vô hạn, công ty có số thành viên trách nhiệm hữu hạn và
vô hạn, quan hệ bạn hàng.
Từ thực tế có rất nhiều cách phân loại các hình thức LD nhưng về cơ
bản có thể đề cập các hình thức LD theo các cách phân loại như sau:
1.2.1. Phân loại theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh
*Có các hình thức:
Một là, LD sản xuất, chế tạo, lắp ráp sản phẩm. Hình thức này chủ
yếu được thành lập trong các ngành công nghiệp cơ khí lắp ráp các sản phẩm
như điện tử, ôtô, máy bay Nó đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn vào máy móc,
thiết bị, công nghệ, đào tạo, thời gian thu hồi vốn kéo dài và quy mô thành lập
doanh nghiệp lớn.
Hai là, LD chế biến sản phẩm. Hình thức này chủ yếu được thành lập
trong các ngành chế biến hàng nông sản và khoáng sản. Nó phụ thuộc rất lớn
vào nguồn nguyên liệu phục vụ cho hoạt động của LD. Các nước đang phát
triển thường thông qua chính sách thu hút đầu tư nước ngoài thường góp vốn,
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status