mô hình minh hoạ hiệu quả của thông tin tín dụng ngân hàng ở việt nam - Pdf 10

CHUYấN TT NGHI P
Mở đầu
Nm 1996, nh bỏo Thomas Friedman ó phỏt biu trờn truyn hỡnh M
Theo tụi, hin nay trờn th gii cú hai siờu cng, ú l nc M v cụng ty
xp loi Moodys. Nc M cú th hu dit bn bng bom n, cũn cụng ty
Moodys cú th hu dit bn bng cỏch h xp hng ca bn v tụi tin rng
khú cú th bit ai l ngi mnh hn
(1)
. V ngay sau khng hong kinh t
chõu nm 1997, WB v cỏc cụng ty ti chớnh quc t nh IFC, IMF,
ADB cựng Ngõn hng trung ng cỏc nc ó n lc nghiờn cu, tng kt
kinh nghim v tỡm cỏc bin phỏp thỳc y phỏt trin hot ng thụng tin tớn
dng trờn ton cu vi hy vng to thờm nhng lỏ chn hu hiu hn vi
nguy c khng hong kinh t trong tng lai.
Cựng vi nhng n lc chung ca cng ng ti chớnh quc t, ngõn
hng nh nc Vit Nam ó cú nhiu c gng trong vic y mnh hot ng
ca h thng thụng tin tớn dng ngõn hng nhm ngn nga, hn ch ri ro tớn
dng v m bo an ton, phỏt trin bn vng h thng Ngõn hng nh nc,
m ca v hi nhp quc t.
Do ũi hi bc xỳc ca thc t hot ng thụng tin tớn dng, a
t nc ngy cng phỏt trin Trung tõm thụng tin tớn dng thuc Ngõn hng
Nh nc ra i nhm gii quyt vn ny, hiu rừ hn v tỏc dng v
li ớch ca hot ng thụng tin tớn dng, c bit thụng qua cụng c toỏn em
xin xut ti nghiờn cu cho chuyờn thc tp tt nghip cu mỡnh
Mụ hỡnh minh ho hiu qu ca Thụng tin tớn dng Ngõn hng Vit Nam
T nghiờn cu ny chuyờn ó ch ra nhng li ớch to ln ca Thụng tin tớn
dng i vi hot ng tớn dng ngõn hng.
Em xin chõn thnh cỏm n thy giỏo PGS.TS. Nguyn Quang Dong ó
tn tỡnh giỳp em hon thnh chuyờn thc tp tt nghip ny.
Em xin chõn thnh cm n!
NGUYN VN V TON TI CHNH K45

b). Thời kỳ 1993-1995
Đây là thời kỳ các NHTM mới bước vào hoạt động theo cơ chế thị
trường, thuận lợi cơ bản là đã chặn được lạm phát phi mã, bắt đầu thực hiện
lãi suất thực dương, nhưng rủi ro tín dụng xảy ra rất nghiêm trọng, điển hình
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 3
3 -
- 3 -
là vụ Epco- Minh Phụng, đã gây nhiều thiệt hại cho các ngân hàng. Vì vậy từ
năm 1993, hoạt động TTTD đã được triển khai đến tất cả các chi nhánh
NHNN tỉnh, thành phố trong cả nước, đồng thời tuyên truyền, vận động các
TCTD thực hiện. Ngày 24/7/1993 Thống đốc NHNN ký Quyết định số
140/QĐ-NH14 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động thông tin phòng
ngừa rủi ro. Đây là văn bản đầu tiên tạo hành lang pháp lý cho hoạt động
TTTD trong ngành ngân hàng.
Thời kỳ này, NHNN đã xây dựng được mạng lưới thu thập và cung cấp
thông tin phòng ngừa rủi ro (viết tắt là TPR). Hệ thống bao gồm Trung tâm
TPR Trung ương, Trung tâm TPR của chi nhánh NHNN Hà nội, TP Hồ Chí
Minh và bộ phận TPR ở các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, đồng thời tiến
hành đào tạo, tập huấn nghiệp vụ và kỹ thuật tin học cho các cán bộ vận hành
trong hệ thống TPR; xây dựng các chỉ tiêu thu thập và cung cấp TTTD; xây
dựng hệ thống mã số doanh nghiệp, mã số TCTD, mã số địa phương theo địa
giới hành chính và phối hợp với Cục Công nghệ Tin học Ngân hàng để xây
dựng chương trình phần mềm TPR phục vụ việc thu thập và cung cấp thông
tin từ các chi nhánh TCTD, TCTD về chi nhánh NHNN và về Ngân hàng
Trung ương.
Đến cuối tháng 6/1995, TPR trung ương đã thu thập, lưu trữ và cấp mã
số cho 14.233 hồ sơ doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tại các NHTM. Một
số kết quả chính là: thu thập được 9.900 hồ sơ doanh nghiệp có mức dư nợ 20
triệu đồng trở lên, với tổng dư nợ 10.950 tỷ đồng và 594,8 triệu USD, trong

Nam bị ảnh hưởng không lớn nhưng do các luồng vốn đầu tư nước ngoài
chựng lại nên tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm so với thời kỳ trước đó. Các
NHTM bắt đầu tiến hành các chương trình hiện đại hoá, chú trọng nâng cao
năng lực quản trị rủi ro tín dụng và cho vay thận trọng để đối phó với những
rủi ro tiềm ẩn. Đồng thời ngân hàng các nước trên thế giới cũng đẩy mạnh
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 5
5 -
- 5 -
hoạt động TTTD để ngăn ngừa hạn chế rủi ro. Trong bối cảnh đó, hệ thống
TTTD ngân hàng Việt Nam đã được củng cố mạnh mãe, hình thành Trung
tâm TTTD độc lập, trực thuộc Thống đốc, việc tham gia hoạt động TTTD
của các TCTD từ tự nguyện chuyển sang bắt buộc vì mục tiêu an toàn hệ
thống.
Thực hiện Nghị định 88/1998/NĐ-CP ngày 2/11/1998 của Chính phủ
quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của NHNN, ngày
27/2/1999 Thống đốc ký Quyết định số 68/1999/QĐ-NHNN9 thành lập Trung
tâm TTTD thuộc NHNN, trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm TTTD thuộc Vụ
Tín dụng. Đồng thời Thống đốc đã ký Quyết định số 162/1999/QĐ-NHNN9
ngày 8/5/1999 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm TTTD.
Theo Quy chế này, CIC là một đơn vị , có chức năng thu nhận, phân tích, dự
báo và cung cấp thông tin doanh nghiệp và các thông tin khác có liên quan
đến tiền tệ và hoạt động ngân hàng cho NHNN và các TCTD.
Trong năm 2006, CIC đã chủ trì soạn thảo, trình Thống đốc ban hành
các văn bản pháp quy theo chương trình, kế hoạch đã đăng ký như: Quyết
định số 46/2006/QĐ-NHNN ngày 15/9/2006 của Thống đốc NHNN về việc
sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của CIC ban hành kèm theo Quyết định
số 508/2004/QĐ-NHNN ngày 11/5/2004; Quyết định số 50/2006/QĐ-NHNN
ngày 12/10/2006 của Thống đốc NHNN về việc bổ sung, thay thế biểu thu
thập thông tin và Phụ lục phân loại dư nợ trong Quy chế hoạt động TTTD ban

Thành phố Hồ Chí Minh (1994) do Trần Xuân Hoa là giám đốc; vụ công ty
Minh Phụng, công ty Epco; vụ công ty xuất nhập khẩu Tân Bình (Tamexco);
vụ Tổng công ty Dâu tằm tơ; dệt Nam Định; Thủy cung Thăng Long;… đã
gây tổn thất đáng kể cho các NHTM.
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 7
7 -
- 7 -
Bảng 1.1 - Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ qua các năm
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tỷ lệ NQH 15,1 13,7 10,7 8,4 7,1 6,5 6,2 5,7 5,5
Nguồn NHNN
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động của
NHTM Việt Nam, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do ngân hàng không có
được thông tin đầy đủ về khách hàng để phục vụ việc xem xét quyết định cấp
tín dụng. Vì vậy để có thể ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng trong tương lai
thì lại cần phải nhấn mạnh đến vấn đề phát triển hệ thống TTTD Ngân hàng
Việt Nam. Hoạt động TTTD ngân hàng Việt Nam bắt đầu hình thành từ 1992,
do đòi hỏi thực tiễn bức xúc của rủi ro tín dụng ngân hàng khi các NHTM
mới bắt đầu hình thành và bước vào kinh doanh theo cơ chế kinh tế thị
trường. Thời kỳ những năm đầu 1990, do khủng hoảng kinh tế, lạm phát phi
mã, đổ vỡ các quỹ tín dụng, làm cho hoạt động tín dụng gặp muôn vàn khó
khăn, rủi ro tín dụng tưởng như không ngăn chặn được, những vụ đổ vỡ gây
rủi ro tín dụng nghiêm trọng như: Epco- Minh Phụng, Nước hoa Thanh
Hương, … đã buộc ngành ngân hàng phải đưa ra mọi giải pháp để phòng
ngừa rủi ro và việc hình thành hoạt động TTTD ngân hàng Việt Nam chính là
một trong trong những giải pháp đó.
1.2. Thực trạng hệ thống TTTD Ngân hàng Việt Nam
1.2.1. Trung tâm TTTD
1.2.1.1. Kết quả tổ chức thực hiện

Tổ chức bộ máy của Trung tâm TTTD hiện nay gồm các phòng: Thu
thập, xử lý thông tin; Phân tích, XLTD doanh nghiệp; Kỹ thuật và quản trị
mạng; Tài vụ; Tổng hợp - Hành chính và Dịch vụ thông tin và Bản tin TTTD.
Trung tâm TTTD đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan triển
khai tổ chức bộ máy, xây dựng các văn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạt
động TTTD, chuẩn hoá thông tin, xây dựng phần mềm, cơ sở dữ liệu, nối
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 9
9 -
- 9 -
mạng đảm bảo thông suốt đến các chi nhánh NHNN và các NHTM; làm đầu
mối đôn đốc hướng dẫn các NHTM xây dựng và thực hiện thống nhất nghiệp
vụ TTTD; cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho Ban lãnh đạo NHNN và
các NHTM. Đồng thời thường xuyên tổ chức họp giao ban, theo dõi tình hình
thực hiện, đi sát thực tế nắm bắt những khó khăn vướng mắc và phối hợp hỗ
trợ giải quyết kịp thời để thúc đẩy hoạt động TTTD trong toàn hệ thống.
1.2.1.2. Tồn tại và nguyên nhân
 Tồn tại
- Chất lượng thông tin cung cấp ra đôi khi chưa thật đảm bảo, có trường
hợp thông tin dư nợ của CIC còn thấp hơn so với số dư thực tế, do chưa thu
thập được hết các khoản vay của một khách hàng tại nhiều NHTM khác nhau.
Thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yếu mới có được đối với
3500 doanh nghiệp mà CIC đã mua từ Tổng cục thống kê, còn lại hầu như
chưa có, thông tin về tài sản bảo đảm tiền vay cũng còn chưa đầy đủ.
- Thông tin tổng hợp theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế chưa có.
- Việc mua thông tin ngoài ngành chưa thường xuyên nên chưa có đủ
các thông tin về tài chính của doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài; thông tin về doanh nghiệp nhà nước giải thể, sát
nhập, cổ phần hoá; thông tin về doanh nghiệp có vấn đề; thông tin kinh tế
khác và phân tích về đầu tư theo ngành nghề, vùng, miền

được quy định chi tiết tại Quy chế hoạt động TTTD ban hành theo Quyết định
số 1117/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN.
Chi nhánh NHNN có trách nhiệm: Bố trí tổ chức, nhân sự và các điều
kiện liên quan để thực hiện nghiệp vụ TTTD tại chi nhánh. Phối hợp với CIC
để đôn đốc, kiểm tra các TCTD, chi nhánh TCTD trên địa bàn thực hiện Quy
chế hoạt động TTTD và trao đổi TTTD với CIC.
Chi nhánh NHNN có quyền: khai thác TTTD phục vụ nhiệm vụ quản
lý của NHNN và cung cấp cho các TCTD, chi nhánh TCTD trên địa bàn.
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 11
- 11 -
- 11 -
Về thực hiện: Hầu hết các chi nhánh NHNN đã bố trí cán bộ (hoặc
kiêm nhiệm đối với chi nhánh thiếu cán bộ) và trang bị máy tính kết nối
Internet với CIC qua trang Web-CIC. Hầu hết các chi nhánh NHNN đã có
phiếu đăng ký truy cập Web-CIC, trong đó không chỉ cán bộ nghiệp vụ TTTD
mà còn có danh sách của cán bộ lãnh đạo và một số phòng ban liên quan đăng
ký truy cập Web-CIC. Đến nay 64/64 chi nhánh NHNN đăng ký truy cập và
đã được cấp quyền truy cập cho 246 người sử dụng tại các chi nhánh NHNN.
Nhìn chung các chi nhánh NHNN đã chú trọng đôn đốc, kiểm tra các TCTD,
chi nhánh TCTD trên địa bàn thực hiện việc báo cáo thông tin, phối hợp với
CIC kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo tính chân thực, đúng đắn của thông tin.
1.2.2.2. Tồn tại và nguyên nhân
 Tồn tại
- Một số nơi lãnh đạo chi nhánh NHNN chưa thực sự quan tâm, chưa
coi trọng thông tin và thiếu chỉ đạo thường xuyên kiểm tra đôn đốc thực hiện
nghiệp vụ TTTD đối với các NHTM, chi nhánh NHTM trên địa bàn.
- Cán bộ TTTD chưa thường xuyên chủ động tiến hành kiểm tra đối
chiếu số liệu do CIC truyền về với số liệu thực tế trên địa bàn.
- Việc thu thập thông tin có liên quan đến hoạt động tín dụng từ các cơ

- Xây dựng chương trình phần mềm TTTD, chỉ đạo, hướng dẫn, triển
khai, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện hoạt động TTTD tới các sở giao dịch,
chi nhánh, đơn vị trực thuộc.
- Thu thập, tập hợp, kiểm soát thông tin từ các sở giao dịch, chi nhánh,
đơn vị trực thuộc và báo cáo đầy đủ, trung thực, đúng thời hạn theo các mẫu
biểu báo cáo đã quy định về CIC.
- Nghiên cứu, ứng dụng, triển khai các nghiệp vụ quản trị rủi ro tín
dụng; phải khai thác, sử dụng TTTD nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong
hoạt động tín dụng.
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 13
- 13 -
- 13 -
- Xây dựng quy trình kỹ thuật, bảo mật, mã số khách hàng, tuân thủ các
chuẩn chung liên quan đến hoạt động TTTD do CIC hướng dẫn để thực hiện
thống nhất, an toàn.
- Tổng giám đốc (giám đốc) TCTD chịu trách nhiệm về tính đầy đủ,
trung thực, đúng hạn của TTTD đã báo cáo cho NHNN.
Quyền của TCTD trong hoạt động TTTD: Được quyền khai thác sử
dụng TTTD. Được quyền đề nghị CIC kiểm tra về tính chính xác, kịp thời của
TTTD do CIC cung cấp. Được CIC hỗ trợ đào tạo, hướng dẫn cán bộ làm
nghiệp vụ TTTD.
Về tổ chức thực hiện TTTD: Có bốn NHTM nhà nước đã thành lập
phòng nghiệp vụ TTTD (dưới các tên gọi khác nhau), đã chú trọng đầu tư
nhân lực, trang thiết bị để thực hiện nghiệp vụ TTTD gắn với việc giám sát,
xử lý rủi ro tín dụng. Cụ thể, Ngân hàng ngoại thương có Phòng TTTD; Ngân
hàng công thương có Phòng Thông tin kinh tế, tài chính, ngân hàng; Ngân
hàng đầu tư có Phòng Thông tin kinh tế; Ngân hàng nông nghiệp có Trung
tâm phòng ngừa và xử lý rủi ro; Ngân hàng Nhà đồng bằng Sông cửu long
chưa có cơ cấu tổ chức riêng, nghiệp vụ TTTD do Phòng tín dụng kiêm

trở nên cần thiết đối với các NHTM trong hoạt động kinh doanh, là một yếu
tố đầu vào quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng tín dụng. Chuyên đề
sẽ trình bày chi tiết hơn trong phần cung cấp thông tin ra của CIC.
Nói chung, các NHTM đã chuyển biến cơ bản về nhận thức, thấy được
trách nhiệm, tầm quan trọng và lợi ích thiết thực của TTTD trong việc quản
lý, ngăn ngừa hạn chế rủi ro tín dụng và góp phần củng bảo đảm an toàn hệ
thống ngân hàng. Vì vậy, đến nay việc thực hiện nghiệp vụ TTTD tại hầu hết
các NHTM đã đi vào nề nếp. Trước đây các NHTM thực hiện một cách thụ
động, có tư tưởng cho rằng đây là việc của NHNN, NHTM phải tham gia chủ
yếu là vì phải báo cáo thông tin cho NHNN, nên phụ thuộc vào NHNN về
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 15
- 15 -
- 15 -
phương thức thực hiện và chương trình phần mềm, nay đã chuyển sang chủ
động, có sự phối hợp chặt chẽ với NHNN.
1.2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân
 Tồn tại
- Một số NHTMCP có chi nhánh ở nhiều địa bàn, nhưng chưa thực hiện
tốt vai trò đầu mối chỉ đạo thực hiện TTTD, nên các chi nhánh tự thực hiện,
chưa đảm bảo được yêu cầu báo cáo thông tin của NHNN. Một số ngân hàng
(chi nhánh, đơn vị trực thuộc) đã báo cáo nhưng chưa gửi hết hồ sơ khách
hàng đang có dư nợ. Có một số ngân hàng mới chỉ báo cáo những khách hàng
là doanh nghiệp, chưa báo cáo khách hàng tư nhân, cá thể.
- Về thời gian báo cáo thông tin còn chưa đều, hầu hết các ngân hàng
mới thực hiện báo cáo dư nợ (Biểu K03) theo tuần (trừ 4 NHTM nhà nước:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương; Đầu tư và phát triển;
Ngoại thương), chưa thực hiện đúng qui định là phải báo cáo chậm nhất sau 3
ngày làm việc khi có phát sinh quan hệ tín dụng.
- Về thực hiện số lượng các biểu báo cáo mới đạt yêu cầu đối với biểu

các biểu báo cáo về tài sản thế chấp.
- Các NHTM chưa nghiêm túc thực hiện các chuẩn thông tin (số hiệu
và tên cơ quan chủ quản, số hiệu và tên ngành kinh tế).
- Chưa chủ động triển khai thực hiện và phản ánh thường xuyên những
khó khăn vướng mắc với lãnh đạo ngân hàng, với CIC để khắc phục kịp thời.
- Một số ngân hàng còn có tâm lý chưa coi trọng thông tin, chưa thực
sự coi thông tin là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động tín dụng.
Thậm chí có nơi vẫn chưa thực sự coi trọng chất lượng tín dụng, họ chỉ chú
trọng hoàn thiện hồ sơ thủ tục tín dụng để an toàn cho cá nhân nên không
muốn hỏi thông tin từ CIC.
- Một số NHTM vì đảm bảo an toàn hệ thống mạng nội bộ nên quy
định không cho các chi nhánh kết nối vào mạng internet, hoặc chỉ cho 1 máy
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 17
- 17 -
- 17 -
tách rời khỏi mạng được truy cập Internet nhưng do thiếu máy tính nên qui
định này đã gây nhiều khó khăn cho các chi nhánh TCTD trong việc truy cập
internet vào WebCIC để báo cáo và khai thác thông tin.
- Việc cổ phần hoá các NHTM Nhà nước diễn ra chậm cũng ảnh hưởng
không nhỏ tới việc thực hiện TTTD, vì sở hữu chung nên ý thức phòng ngừa
rủi ro cũng có nơi chưa tốt.
1.2.4. Thực trạng các nghiệp vụ TTTD ngân hàng Việt Nam
1.2.4.1. Nghiệp vụ báo cáo TTTD
a) Tình hình thực hiện
Nghiệp vụ báo cáo TTTD của hệ thống TTTD ngân hàng Việt Nam
đang thực hiện tại tất cả ba nhóm tham gia hệ thống là CIC, các chi nhánh
NHNN và các TCTD. Nhưng để thấy rõ nội dung thực hiện một cách đầy đủ
nhất, chuyên đề sẽ trình bày nội dung nghiệp vụ này đang thực hiện tại CIC
với các mục chính là: thu thập thông tin; lưu trữ và xử lý thông tin; cung cấp

trong kỳ, thông tin cảnh báo, tin về các doanh nghiệp mới thành lập, giải thể,
sát nhập
Các chỉ tiêu thu thập tin: Hiện nay các chỉ tiêu thu thập thông tin của
CIC đã được chỉnh sửa phù hợp với chế độ kế toán mới của các doanh nghiệp
và tương đối phù hợp với yêu cầu thông tin của NHTM. Hệ thống mẫu biểu
thu thập thông tin về khách hàng vay từ các NHTM bao gồm 9 biểu (K1A,
K1B, K3, K4A, K4B, K6, K7, K8, K9).
(2) Lưu trữ và xử lý thông tin
CIC đã chú trọng tới việc lưu trữ thông tin để tạo dựng kho dữ liệu của
hệ thống TTTD ngân hàng. Tại đây hồ sơ khách hàng gồm hồ sơ pháp lý, tình
hình tài chính, tình hình hoạt động, quan hệ tín dụng và thường xuyên được
cập nhật bổ sung , lưu trữ theo mã số. Do thay đổi qui trình thu thập thông tin,
nhận tin thông qua hội sở chính của NHTM, thay vì nhận tin trực tiếp từ các
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 19
- 19 -
- 19 -
chi nhánh NHTM, đã nâng cao vai trò, trách nhiệm của NHTM. Mặt khác
cũng do việc cải tiến file dạng text đối với các biểu báo cáo thông tin, tạo điều
kiện cho việc báo cáo của các NHTM được thuận tiện, nên kết quả thu thập
thông tin tại CIC đã có bước chuyển biến tích cực. Lượng thông tin thu thập
được hàng năm tăng lên rõ rệt. Đến năm 2006, CIC đã thu thập được
5.443.663 hồ sơ khách hàng, tăng 3.969.412 HSKH so với cuối năm 2005
(tăng trưởng 269%), vượt 217,7% so với kế hoạch năm 2006, với tổng dư nợ
là 443.227 tỷ VND và 9.203 triệu USD, tăng so với năm 2005 là 121.498 tỷ
VND và 903 triệu USD
Bảng 1.2 – Kho dữ liệu TTTD
Đơn vị tính: Tỷ VNĐ và Triệu USD
Năm
Số hồ sơ

752 321.729 8.300
2006 5.443.663
910 (≥5)
618 443.227 9.203
Nguồn : Trung tâm thông tin tín dụng
Chất lượng thông tin cũng tăng lên do các NHTM đã áp dụng kỹ thuật
tin học báo cáo thông tin bằng file, chiết xuất số liệu trực tiếp từ dữ liệu kế
toán giao dịch, hạn chế việc báo cáo thủ công nên đã tránh được nhiều sai sót.
Ngoài việc thu thập thông tin từ NHTM, CIC còn thu thập thêm thông tin từ
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 20
- 20 -
- 20 -
các nguồn khác, như thông tin về báo cáo tài chính doanh nghiệp liên tục các
năm từ 1998 đến 2004 của 3500 doanh nghiệp nhà nước. Kho TTTD ngân
hàng VN thực sự đang là một cơ sở dữ liệu lớn trong hệ thống ngân hàng và
có thông tin sẵn sàng để cung cấp các báo cáo thông tin theo yêu cầu.
Xử lý, phân tích thông tin. Mới chỉ xử lý kiểm tra trước khi nạp thông
tin vào máy tính và tổng hợp theo một số tiêu thức, xử lý tập hợp thông tin
theo đúng mã khách hàng, theo mã TCTD (hoặc chi nhánh TCTD). Việc phân
tích thông tin chưa được đẩy mạnh, nên thông tin cung cấp ra chưa phong
phú, chưa thực sự hấp dẫn đối với người sử dụng tin.
(3) Cung cấp thông tin
Đối tượng được sử dụng thông tin. Theo quy định hiện nay, đối
tượng được sử dụng thông tin của hệ thống TTTD ngân hàng bao gồm: Ban
lãnh đạo NHNN, vụ, cục, đơn vị thuộc, các chi nhánh NHNN. TCTD và chi
nhánh TCTD. Tổ chức và cá nhân khác.
Quy định tra cứu và trả lời thông tin. Việc tra cứu thông tin chủ yếu
thực hiện trên WebCIC. Các đơn vị được sử dụng thông tin phải có bản đăng
ký danh sách người truy cập, được CIC cấp quyền truy cập, cấp mã số truy

- Diễn biến giá vàng;
- Diễn biến tỷ giá;
- Diễn biến lãi suất huy động;
- Diễn biến lãi suất cho vay;
- Thông tin về một số doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam;
- Danh sách doanh nghiệp đã XLTD trong từng kỳ;
Những thông tin khai thác từng lần, gồm 5 loại như sau:
(i) Bản thông tin tổng hợp theo một số tiêu thức, gồm:
- Bản trả lời tin tổng hợp về khách hàng doanh nghiệp;
- Bản trả lời tin tổng hợp về khách hàng cá nhân;
- Bản trả lời tin về tài sản đảm bảo tiền vay;
(ii) Bản thông tin phân tích, XLTD doanh nghiệp;
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 22
- 22 -
- 22 -
(iii) Bản thông tin tài chính doanh nghiệp;
(iv) Bản tin CIC thường kỳ, phát hành 2 số/tháng;
(v) Bản báo cáo thông tin về doanh nghiệp nước ngoài;
(4) Về thông tin nước ngoài
Bên cạnh các nguồn tin trong nước, CIC chú trọng việc tăng cường hợp
tác, mở rộng mối quan hệ với các cơ quan thông tin quốc tế. Hàng năm, CIC
đều ký hợp đồng với D&B để thu thập thông tin về các doanh nghiệp nước
ngoài có ý định quan hệ kinh tế với doanh nghiệp của Việt Nam hoặc chào
cho vay những khoản ngoại tệ lớn.
Qua thực hiện thấy rằng, việc ký kết hợp đồng thu thập thông tin với
nước ngoài đã mở ra cho CIC có thêm nguồn thông tin đáng tin cậy, thông tin
thu thập được đã phản ánh phần nào sự thật về hoạt động và thực trạng tài
chính của doanh nghiệp nước ngoài có ý định vào hợp tác kinh doanh với
Việt Nam, hoặc chào mời cho vay vốn, chào bán hàng hoá.

cáo và khai thác sử dụng thông tin; (iii) Do là hệ thống riêng của ngành ngân
hàng, có tính bảo mật cao nên trong những trường hợp cần thiết NHNN có thể
sử dụng công cụ này để thực hiện những cuộc điều tra khảo sát hoặc thực hiện
những nhiệm vụ khác như: Thu thập báo cáo những khoản vay vượt quá 5%,
15% vốn tự có của từng TCTD giúp Thanh tra NHNN; Thu thập, lưu trữ,
thông báo việc phát hành séc quá số dư, séc giả, séc khống ; Thu thập điều
tra thông tin về doanh nghiệp nước ngoài phục vụ cho việc quản lý nhà nước;
Điều tra đột xuất về rủi ro tín dụng; Khảo sát thông tin về các doanh nghiệp
lớn của Việt Nam. Sau đây là tóm tắt một số nét về kết quả đã đạt được của
nghiệp vụ báo cáo TTTD:
Thứ nhất, thông tin chia sẻ gồm cả thông tin tích cực và thông tin tiêu
cực, là nguồn thông tin rất quan trọng đối với NHNN đã giúp ích rất nhiều
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHI ỆP 24
- 24 -
- 24 -
trong quản lý vĩ mô, giám sát hoạt động của TCTD và việc hoạch định, thực
thi chính sách tiền tệ. Đối với TCTD nó một mặt góp phần ngăn ngừa hạn chế
rủi ro tín dụng nhằm đảo bảo an toàn hệ thống, mặt khác với thông tin tích
cực nó góp phần mở rộng thị phần, lựa chọn khách hàng tốt, giảm chi phí điều
tra thông tin, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng tín dụng. Có thể
nói đến nay không còn hiện tượng khách hàng có vấn đề nhưng vẫn đi vay ở
nhiều ngân hàng cùng một lúc với số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng như
trường hợp Epco - Minh Phụng năm 1994.
Thứ hai, đối tượng thu thập thông tin mở rộng ra khách hàng cá nhân,
góp phần mở rộng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân bổ nguồn tín dụng
một cách công bằng và hợp lý. Đây là một mảng thị trường đầy tiềm năng đối
với các TCTD mà trước đây vốn bị bỏ ngỏ. Từ đó góp phần mở rộng thị
trường tín dụng chính thức và thu hẹp thị trường tín dụng không chính thức
(tín dụng chợ đen, cho vay nặng lãi…) mang lại lợi ích cho người tiêu dùng.

Thứ sáu, chất lượng thông tin ngày càng được nâng cao. Năm 2006 hoạt
động cung cấp thông tin của CIC đã được đẩy mạnh, bình quân hàng ngày
CIC trả lời khoảng 400 lượt thông tin. Chất lượng các bản trả lời thông tin
ngày càng tăng, thông tin phong phú hơn, số liệu chính xác hơn, thời gian
cung cấp nhanh hơn. Đồng thời định kỳ (5ngày/lần) CIC báo cáo Thống đốc
và cung cấp cho Thanh tra NHNN thông tin về doanh nghiệp có tổng dư nợ
lớn hơn 5% và 15% vốn tự có của TCTD. CIC đã chú trọng áp dụng công
nghệ trong trả lời tin thông qua Web-CIC, trong đó có áp dụng hình thức trả
lời tin tự động, do đó tiết kiệm được thời gian, chi phí cho các TCTD. Năm
2006, CIC đã cung cấp 104.121 bản trả lời tin cho các TCTD, tăng 69% so
với cùng kỳ năm 2005, tăng 44% so với kế hoạch năm 2006.
Bảng 1.3 - Kết quả cung cấp thông tin năm 2006
Đơn vị tính: lượt bản tin
NGUYỄN VĂN VỸ TOÁN TÀI CHÍNH K45

Trích đoạn Tình hình thực hiện tại Trung tâm thông tin tín dụng Giả thiết mô hình bài toán Kết quả khảo sát thực tế của WB về vai trò, lợi ích của TTTD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status