Phần I : Đặt vấn đề.
Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế, mở cửa
hội nhập mà lại dặt ra vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là thiếu
nhạy bén, không thức thời, thậm chí là bảo thủ, t duy kiểu cũ. Thế giới
bây giờ là một thị trờng thống nhất, cần thứ gì thì mua, thiếu tiền thì đi
vay, sao lại chủ trơng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ?
Hội nhập là một thực tiễn và là nhân tố khách quan cần đợc tính đến khi
xác định chiến lợc phát triển. Ngày nay, hội nhập đang trở thành một
thực tiễn sinh động trong đời sống kinh tế xã hội ở tất cả các nớc, và Việt
Nam không phải là một ngoại lệ. Vì sao chúng ta lại có nhận định nh
vậy?
Về thơng mại, thật sự đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ. Trong những
năm qua, tăng trởng thơng mại nhất là tăng trởng xuất khẩu cao trên 2 - 3
lần so với nhịp độ tăng trởng kinh tế. Năm 2000 đã đánh dấu bớc chuyển
biến mạnh mẽ trong thơng mại quốc tế của Việt Nam. Xuất khẩu đạt
14.308 triệu USD và nhập khẩu 15.200 triệu USD, nh vậy thơng mại hai
chiều đạt 29.508 triệu USD, bằng 95% GDP. Đây là một tỉ lệ rất cao so
với nhiều nớc trong khu vực. Đối với các nớc, hội nhập đã không chỉ trở
thành một thực tiễn, mà là còn một nhân tố quan trọng cho sự phát triển
kinh tế.Vấn đề lúc này đối với đất nớc chúng ta không phải là bàn xem
nên hội nhập hay không nên hội nhập, hội nhập lợi nhiều hay hại
nhiều vấn đề phải là nên lựa chọn quyết sách nh thế nào, cần phải có
những điều kiện gì để có thể thu đợc hiệu quả cao nhất khi đa đất nớc đi
vào hội nhập. Nhng suy cho cùng yếu tố quyết định thành công của hội
nhập kinh tế quốc tế là nội lực của một quốc gia, là hiệu quả và sức cạnh
tranh của bản thân nền kinh tế đó.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm,
đờng lối chính trị độc lập tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn, nhằm
1
bảo đảm độc lập tự chủ vững chắc về chính trị, bảo đảm phát triển bền
vững và có hiệu quả ngay cho chính nền kinh tế, cho việc mở cửa, hội
của phép biện chứng duy vật. Khái niệm biện chứng dùng để chỉ sự tác
động, liên hệ, ràng buộc và chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố
trong một sự vật, hiện tợng hoặc giữa các sự vật hiện tợng với nhau.
Mọi sự vật, hiện tợng đều tồn tại trong những mối liên hệ, tác động và
không loại trừ một lĩnh vực nào. Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động
và do đó, mới có sự tồn tại của vật chất, hay nói cách khác mối liên hệ
phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tợng, thể hiện
tính khác quan, tính thống nhất vật chất của thế giới.
Các sự vật hiện tợng trong thế giới rất đa dạng nên mối liên hệ giữa
chúng cũng rất đa dạng, phổ biến nhng đều mang tính khách quan chứ
không phải là thần linh, thợng đế hay ý niệm tuyệt đối nào sinh ra cả,
có mối liên hệ giữa các hiện tợng vật chất, các hiện tợng tinh thần và
giữa các hiện tợng vật chất với hiện tợng tinh thần, song những mối liên
hệ tinh thần chỉ là sự phản ánh và là sản phẩm của các mối liên hệ vật
chất.
Trong thế giới vô cùng, vô tận này không có bất cứ một sự vất hiện tợng
nào tồn tại bên ngoài mối liên hệ vơí sự vật hiện, tợng khác. Các mối liên
hệ đó căn cứ vào tính chất phạm vi, trình độ có thể phân biệt đợc thành
cấc loại nh sau: Liên hệ bên trong và bên ngoài, chung và riêng, cơ bản
và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian, trực tiếp
và gián tiếp Tuy nhiên sự phân loại này là tơng đối vì mối liên hệ đó chỉ
là bộ phận trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung, và khi cần phân
tích mối liên hệ phổ biến giữa những sự vật hiện tợng với nhau ta chỉ
nghiên cứu những liên hệ đặc thù tuỳ thuộc vào tính chất và phạm vi của
3
sự vật hiện tợng đó. Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên
hệ phổ biến chung nhất và phổ biến của thế giới khác quan. Còn những
hình thức cụ thể, riêng biệt là đối tợng của các ngành khoa học cụ thể
khác nhau.
Nghiên cứu vềmối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động
liên hệ có thể có là vô cùng, ngời nghiên cứu không thể nào bao
quát hết, cho nên sai lầm vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy chân lý -
sai lầm là hai mặt cùng tồn tại của một tri thức.
- Trong khi hoạch định chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội cho đất n-
ớc phải tính đến tất cả các mối liên hệ trên các bình diện có thể có,
chẳng hạn: Tơng quan giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế các
nớc trong khu vực và quốc tế, giữa đầu t cho tơng lai với tiêu dùng
hiện tại, giữa tiêu dùng kinh tế với tiêu dùng cá nhân v.v
Một chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đợc xem xét trong tổng thể
các mối liên hệ càng rộng bao nhiêu, khả năng sai lâm càng ít bấy nhiêu,
tính hiện thực của nó cang nhiều bấy nhiêu.
- Mỗi chuyên ngành khác nhau có cách phân nhóm các mối liên hệ
theo phơng pháp khác nhau. Trên bình diện triết học ngời ta quan
tâm đến các nhóm chủ yếu sau đây:
+ Mối liên hệ bên trong - bên ngoài (mối liên hệ không gian)
+ Mối liên hệ trực tiếp - gián tiếp
+ Mối liên hệ nhân quả (mối liên hệ thời gian)
+ Mối liên hệ cái chung - cái riêng
+ v.v
5
2./ Vận dụng nguyên lý của phép biện chứng duy vật về mối liên
hệ phổ biến để phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ để hội nhập kinh tế quốc
tế có hiệu quả, đảm bảo giữ vững chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc.
1.Thế nào là một nền kinh tế độc lập tự chủ?
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc
vào nớc khác, ngời khác, hoặc một tổ chức kinh tế nào đó về đờng lối,
chính sách phát triển kinh tế, về những điều kiện kinh tế, chính trị, mà
ngời khác áp đặt với mình trong hợp tác song phơng, đa phơng hoặc
phát triển kinh tế; và hai là, phải có thực lực tiềm lực kinh tế đủ mạnh.
a. Có đờng lối, chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế - xã hội.
Độc lập tự chủ về đờng lối chính sách kinh tế có nghĩa là chúng ta tự
mình lựa chọn định hớng phát triển, tự mình xác định chủ trơng, chính
sách và mô hình kinh tế, không bị động và lệ thuộc bên ngoài, không
chịu sức ép của bất cứ ai vì mục đích không lành mạnh của họ.
b. Có thực lực kinh tế đủ mạnh.
Toàn bộ giá trị sản xuất trong nớc phải đáp ứng đợc đủ nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân và có phần tích luỹ cần thiết từ nội bộ nền kinh tế
quốc dân để tái sản xuất mở rộng nền kinh tế. Phải có thể chế kinh tế -
xã hội bền vững, có cơ cấu kinh tế gắn với cơ cấu công nghệ, phát huy đ-
ợc lợi thế so sánh, có đủ khả năng tạo ra sức cạnh tranh và hiệu quả, trả
đợc nợ, tạo đợc tích luỹ, đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng trong nớc,
chiếm lĩnh và giữ đợc thị trờng ngoài nớc, bảo đảm đợc nhịp độ tăng tr-
ởng nhanh, ổn định, bền vững. Cơ cấu kinh tế này bao gồm cơ cấu các
ngành sản xuất và dịch vụ; cơ cấu các vùng lãnh thổ; cơ cấu các thành
phần kinh tế; cơ cấu kinh tế trong nớc và kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài;
7
cơ cấu về xuất nhập khẩu; cơ cấu đầu t (ngắn hạn và dài hạn, trực tiếp và
gián tiếp).
Phải có một năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ để làm chủ
công nghệ nhập khẩu và sáng tạo công nghệ mới của Việt Nam, bảo đảm
cho sự trao đổi bình đẳng về kinh tếvà công nghệ với bên ngoài, nhất là
trong điều kiện ngày nay, khi sức cạnh tranh kinh tế ngày càng dựa vào
thế mạnh là khả năng về khoa học và công nghệ.
Phải luôn luôn giữ đợc ổn định kinh tế vĩ mô với hệ thống tài chính, tiền
tệ lành mạnh, bảo đảm giữ đợc cán cân thơng mại và cán cân thanh toán:
có dự trữ ngoai tệ cần thiết, có chiến lợc vay và trả nợ hợp lý, không để
bị động và lệ thuộc.
Phải có một số yếu tố vật chất đảm bảo an toàn và điều kiện cơ bản cho
2. Hình thức hội nhập.
Hội nhập có cả hình thức đa phơng và song phơng, hội nhập quốc tế
không chỉ có việc gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế mà việc thiết lập
quan hệ thơng mại, đầu t, khoa học - kỹ thuật với từng nớc có ý nghĩa rất
quan trọng. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, các định chế kinh tế đa
phơng, nhất là đa phơng toàn cầu có giá trị hớng dẫn, tạo khuôn khổ
khống chế các quan hệ song phơng; do đó hợp tác song phơng nhìn
chung là phải dựa theo các quy định của hợp tác đa phơng. Nếu ta không
tham gia các tổ chức đa phơng thì nớc ta rất khó mở rộng quan hệ kinh tế
với các nớc và nếu đợc quan hệ thì các nớc đó vẫn không dành cho ta
những u tiên, u đãi nh họ dành cho những đối tác khác cùng tham gia tổ
chức đa phơng với họ. Các quan hệ đa phơng không chỉ giới hạn ở các
quan hệ lợi ích kinh tế, thơng mại trực tiếp, cụ thể, mà còn có các lợi ích
khác nh liên kết các nớc đang phát triển cùng nhau đấu tranh bảo vệ lợi
9
ích chung trên các diễn đàn quốc tế, chống lại việc áp đặt không công
bằng, không bình đẳng của các nớc phát triển.
3. T tởng chỉ đạo trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Để đảm bảo cho hội nhập kinh tế quốc tế thắng lợi, thực sự đáp ứng yêu
cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, cần thấu suốt và quán triệt các nguyên tắc và phơng châm sau:
Nguyên tắc cơ bản và bao trùm là chủ động hội nhập trên cơ sở bảo
đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Giữ vững
độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập đợc thể hiện trớc hết trong quyết
sách hội nhập nhằm khai thác tối đa các lợi thế, đồng thời đối phó thắng
lợi với các cách thức trong quá trình hội nhập. Sự chủ động cần đợc thể
hiện trong việc lựa chọn tham gia, các đối tác ta có quan hệ và thời điểm
tham gia. Tính chủ động còn đợc thể hiện qua việc chủ động xây dựng lộ
trình hội nhập hợp lý trong khuôn khổ qui định chung, chủ động điều
vững độc lập tự chủ, sự cân bằng trong các mối quan hệ quốc tế, tránh lệ
thuộc một chiều vào một hoặc một số đối tác. Trong những hoạt động th-
ơng mại, không thể để cho một tập đoàn nớc ngoài nào độc quyền kinh
doanh trên đất nớc ta, tạo điều kiện cho họ chi phối, thao túng kinh tế
của ta. Bằng mọi cách, tạo ra sự cạnh tranh giữa các đối tác nớc ngoài
trong làm ăn với Việt Nam, nhằm tạo lợi thế, giúp các doanh nghiệp nớc
ta vơn lên.
Luôn luôn đề cao cảnh giác, không mơ hồ trớc âm mu đen tối của các
thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế thơng mại để xâm nhập, thực
hiện diễn biến hoà bình, phá hoại, lật đổ chế độ ta. Thực tiễn nớc ta cho
thấy, điều cơ bản có tính quyết định để bảo đảm an ninh quốc gia là phải
đặc biệt chăm lo xây dựng, củng cố niềm tin, sự ủng hộ và gắn bó của
11
nhân dân với chế độ, với Đảng và Nhà nớc. Mặt khác, quan hệ tuỳ thuộc
lẫn nhau, sự đan xen lợi ích giữa nớc ta với các nớc tuy có mặt phức tạp
nhng chính sách đa phơng hoá quan hệ đối ngoại là một yếu tố quan
trọng góp phần bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia trong bối cảnh
toàn cầu hoá hiện nay.
12
Phần III : Kết luận.
Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến chỉ ra rằng các sự vật hiện và
bản thân các yếu tố, các mặt, các quá trình của chúng trong thế giới
không có cái nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể
thống nhất, tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc nhau, quy
định và chuyển hoá lẫn nhau.
Mối liên hệ của sự vật, hiện tợng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ:
có mối liên hệ bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và
không cơ bản, v.v
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm
toàn diện khi nghiên cứu sự vật, hiện tợng, tức là khi xem xét phải đặt nó