Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
Lời nói đầu
Chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp (sau đây đợc gọi tắt là chỉ số
khối lơng sản phẩm) là số tơng đối phản ánh sự biến động về khối lợng sản
phẩm công nghiệp đợc sản xuất ra qua các thời kỳ và là chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá tốc độ tăng trởng của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của từng doanh nghiệp cũng nh của mổi ngành công nghiệp riêng biệt hay
của toàn bộ nền công nghiệp của từng vùng hoặc toàn công nghiệp của cả
quốc gia nói chung.
Chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp có thể đợc tính trên cơ sở các
chỉ tiêu giá trị khác nhau. Song ở nớc ta chủ yếu vẫn tính dựa trên chỉ tiêu
giá trị tổng sản lợng nh đã áp dụng trớc đây hay chỉ tiêu giá trị sản xuất nh
hiện nay để tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp qua các thời kỳ.
Điểm mấu chốt khi tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trên
cơ sở so sánh các chỉ tiêu giá trị tổng sản lợng hoặc chỉ tiêu giá trị sản xuất
giữa hai thời kỳ với nhau là phải loại trừ đợc ảnh hởng biến động của nhân
tố giá tới sự biến động của nhân tố khối lợng sản phẩm bằng cách cố định
đơn giá sản phẩm ở tử số và mẫu số của chỉ số vào cùng một thời kỳ nào
đó đợc chọn làm gốc.
ở nớc ta, từ nhiều năm nay trong ngành công nghiệp, khi tính chỉ số
khối lợng sản phẩm (dựa trên cơ sở chỉ tiêu gia trị tổng sản lợng nh trớc
đây hoặc chỉ tiêu giá trị sản xuất nh hiện nay) đều lấy quyền số của chỉ số
là giá cố định.
Ngày nay, khi nền kinh tế chuyển sang phát triển theo cơ chế thị tr-
ờng, sản xuất ngày càng phát triển mạnh mẽ, cơ cấu và chủng loại sản
phẩm cũng thay đổi nhanh chóng theo thị hiếu của ngời tiêu dùng, các sản
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
40b - đhktqd
pháp tính toán chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp mới phù hợp hơn với
yêu cầu thực tế hiện nay của nớc nhà.
Để đợc hoà mình vào cùng với mọi ngời em quyết định lựa chọn đề
tài nghiên cứu tốt nghiệp của mình là Ph ơng pháp tính chỉ số khối lợng
sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng . Vì kiến thức và kinh
nghiệm thực tế còn có những hạn chế nên trong quá trình lập luận và lý
giải của mình em khó có thể tránh hết đợc những thiếu sót nhất định. Nên
em rất mong đợc sự giúp đỡ tiếp tục của các thầy cô giáo để em hoàn thành
tốt đề tài tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
3
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
Ch ơng I
Một số vấn đề lý luận chung về phơng pháp
chỉ số và chỉ số khối lợng sản phẩm
I. Vai trò của phơng pháp chỉ số trong phân tích kinh tế
Muốn so sánh hai đại lợng nào đó với nhau, trớc hết chúng phải là
những đại lợng mà chúng ta có thể đo lờng đợc. Và thật dễ dàng nói đợc,
chiếc Mezcedezs Benz đắt hơn chiếc Matiz, nếu chúng ta biết đợc giá của
chúng. Nhng không phải lúc nào hai đại lợng mà chúng ta đem ra so sánh
với nhau đều có thể dễ dàng đo lờng đợc, mà trong thực tế có những trờng
hợp các đại lợng cần đem ra so sánh với nhau lại rất khó đo lờng. Ngời ta
thờng nói anh A thông minh hơn anh B, mặc dù không có cách nào có
thể dễ giàng đo đợc sự thông minh của họ (chỉ số IQ mà chúng ta đang sử
dụng để đo sự thông minh hiện nay còn khá thô- cha thể phản ánh đầy đủ
và trung thực trí óc của con ngời). Do đó, trong thực tế chúng ta vẫn thờng
gặp nhiều trờng hợp không dễ gì đo lờng đợc và tất nhiên sẽ rất khó khi
giúp chúng ta đánh giá đợc sự biến động từng mặt của các hiện tợng kinh
tế cần nghiên cứu, mà còn có thể giúp chúng ta nghiên cứu đợc những biến
động phức tạp chung, nhiều mặt của cùng một hiện tợng kinh tế. Hơn nữa
nó còn có khả năng phân tích đợc tác động tổng hợp của các nhân tố khác
đến sự biến dộng của chỉ tiêu chung. Do đó, bằng phơng pháp chỉ số chúng
ta có thể nghiên cứu đợc biến động của các hiện tợng kinh tế phức tạp qua
thời gian hoặc không gian khác nhau một cách cụ thể và chúng ta còn có
thể dự đoán đợc xu hớng biến động của các hiện tợng nghiên cứu diễn ra
trong tơng lai.
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
5
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
II. Giới thiệu chung về phơng pháp chỉ số
1. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của chỉ số
1.1. Khái niệm về chỉ số
Chỉ số là một số tơng đối có đơn vị đo là lần hoặc phần trăm (%), biểu
hiện mối quan hệ so sánh giữa các mức độ khác nhau trong cùng một hiện
tợng kinh tế. Chỉ số tính đợc bằng cách so sánh hai mức độ của hiện tợng ở
hai thời gian hoặc địa điểm khác nhau, nhằm nêu lên sự biến động của hiện
tợng qua thời gian hoặc không gian.
1.2. Nội dung của chỉ số
Từ khái niệm chung về chỉ số ta thấy: Chỉ số là một chỉ tiêu tơng đối
đợc thể hiện bằng đơn vị đo là lần hoặc phần trăm, biểu hiện mối quan hệ
so sánh nhất định giữa các mức độ lợng hoá đợc của cùng một hiện tợng
kinh tế đồng chất ở hai thời gian hoặc địa điểm khác nhau. Chỉ số phản ánh
mối quan hệ hơn kém, tăng giảm của hiện tợng nghiên cứu qua thời gian
hoặc không gian.
Ví dụ: Có số liệu về sản lợng hàng hoá tiêu thụ một mặt hàng của
doanh nghiệp A nh sau.
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
Kết luận: Sản lợng hàng hoá A tiêu thụ năm 2001 so với năm 2000
bằng 1,2 lần hoặc bằng 120% tức tăng 20% so với năm 2000.
1.3. ý nghĩa của chỉ số
Thực tế cho thấy, chỉ số có một ý nghĩa rất quan trọng không những
đối với công tác nghiên cứu và phân tích kinh tế, mà còn có ý nghĩa rất lớn
trong quá trình nhận thức, đánh giá các quá trình kinh tế- xã hội của mỗi
ngời. Chúng ta không thể nói một cách đủ sức thuyết phục rằng: Tăng tr-
ởng kinh tế của nớc ta năm 2001 cao hơn so với năm 2000, nếu chúng
không đợc thể hiện bằng những con số cụ thể. ở mọi lúc, mọi nơi trong
cuộc sống hàng ngày chúng ta luôn phải dùng đến chỉ số, đặc biệt là trong
các mối quan hệ so sánh.
*Trong phân tích thống kê chỉ số đợc dùng để:
- Nghiên cứu sự biến động về mức độ của các hiện tợng kinh tế qua
thời gian hoặc không gian hay so sánh mức độ chênh lệch của các hiện t-
ợng qua không gian. Ví dụ: Nghiên cứu về sự biến động của giá cả, giá
thành, năng suất lao động, khối lợng sản phẩm, vv hay sự chênh lệch về
giá cả, khối lợng hàng hoá tiêu thụ giữa hai thị trờng, giữa hai địa phơng
với nhau, vv
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch về các chỉ tiêu kinh tế đã lập
ra qua thời gian hoặc không gian của các đơn vị, các ngành hay của cả
quốc gia vv
- Xác định vai trò và ảnh hởng biến động của các nhân tố khác nhau
đối với sự biến động chung của một hiện tợng kinh tế phức tạp (chỉ tiêu
chung) nh thế nào?
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
7
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
năm báo cáo (năm 2001) và năm gốc so sánh (năm 2000).
Ta thấy chỉ số đơn phản ánh hiện tợng nghiên cứu mang tính chất đơn
lẻ, từng mặt chứ không phản ánh đợc sự biến động phức tạp có tính tổng
hợp chung của các hiện tợng kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế chỉ số đơn
cũng có những công dụng rất thú vị mà các chỉ số tổng hợp không có đợc.
Các chỉ số đơn có công dụng rất lớn trong việc phản ánh sự biến động
của các hiện tợng đơn giản, từng mặt của các hiện tợng kinh tế đồng chất
với nhau. Ngoài ra chúng còn quan trọng hơn do tác dụng hổ trợ cho việc
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
8
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
tính toán các chỉ số tổng hợp khi các chỉ số này không thể tính trực tiếp đ-
ợc từ các dữ liệu đã có. Tuy nhiên trong thực tế những hiện tợng cần
nghiên cứu thờng chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau, do
vậy chỉ số đơn trong những truờng hợp này trở nên bị hạn chế rất nhiều, lúc
này để tiến hành phân tích và đánh giá đợc các hiện tợng kinh tế phức tạp
chúng ta cần phải dùng đến chỉ số tổng hợp khối lợng sản phẩm.
2.2. Chỉ số tổng hợp khối l ợng sản phẩm
Chỉ số tổng hợp khối lợng sản phẩm công nghiệp (ký hiệu là
q
I
) là
chỉ số phản ánh sự biến động tổng hợp về lợng của một hiện tợng kinh tế
phức tạp qua thời gian hoặc không gian, nó giải quyết đúng đắn vấn đề
tổng hợp các phần tử vốn không thể trực tiếp cộng lại đợc với nhau thành
những đại lợng có thể cộng trực tiếp đợc với nhau bằng cách sử dụng các
nhân tố có liên quan làm quyền số. Tử số và mẫu số đều là tổng của các
tích giữa các đại lợng chỉ số hoá ở hai thời kỳ so sánh với quyền số cố định
ở một kỳ nào đó.
).
Công thức tính chỉ số tổng hợp khối lợng sản phẩm công nghiệp th-
ờng đợc sử dụng nhiều nhất trong khi tính toán các chỉ số chung. Tử số và
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
9
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
mẩu số của chỉ số thể hiện một cách rõ nét sự so sánh giữa hai mức độ của
hiện tợng có sự thay đổi qua thời gian hoặc không gian. Vì vậy, ngoài việc
tính chỉ số tơng đối (I
q
), chúng ta còn có thể tính đợc cả các số tuyệt đối (
0010
qpqp
) - nói lên hiệu quả kinh tế do sự biến động về lợng của
hiện tợng kinh tế mà chúng ta đang nghiên cứu. Các công thức tính chỉ số
tổng hợp còn có thể đợc dùng để tính các chỉ số bình quân. Vì các lý do
trên đây mà chỉ số tổng hợp đợc coi là hình thức cơ bản của chỉ số chung.
Vai trò của các chỉ số tổng hợp rất quan trọng trong nghiên cứu và
phân tích các hiện tợng kinh tế, nó không những cho chúng ta biết đợc biến
động của hiện tợng kinh tế qua thời gian hoặc không gian mà còn giúp cho
chúng ta có thể dự đoán đợc xu thế biến động của hiện tợng sẽ xãy ra trong
tơng lai. Nhng vấn đề ở đây chúng ta cần làm rõ để tiện cho việc nghiên
cứu tiếp theo về phơng pháp tính chỉ số tổng hợp khối lợng sản phẩm công
nghiệp là quyền số của chỉ số.
*Quyền số của chỉ số: Đại lợng đợc dùng trong công thức tính chỉ
số tổng hợp khối lợng sản phẩm công nghiệp bên cạnh các đại lợng chỉ số
hoá, đợc cố định ở cả tử số và mẩu số của chỉ số đợc gọi là quyền số của
hoá. Quyền số của chỉ số có thể đợc chọn ở các kỳ khac nhau (kỳ gốc, kỳ
báo cáo, hoặc một kỳ nào đó thích hợp) tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu
cụ thể. Thời kỳ của quyền số có ảnh hởng lớn đến trị số và ý nghĩa của chỉ
số. Do vậy việc chọn thời kỳ của quyền số có ý nghĩa rất quan trong và
phải đợc dựa trên cơ sở của sự phân tích kinh tế.
Nh vậy đến đây chúng ta đã nắm đợc một cách hệ thống về cách tính
của các chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp.
3. Đặc điểm và điều kiện áp dụng của chỉ số
Phơng pháp chỉ số là phơng pháp phân tích thống kê, nghiên cứu sự
biến động của những hiện tợng kinh tế kể cả các hiện tợng kinh tế đơn giản
đến các hiện tợng kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều phần tử mà các đại lợng
biểu hiện không thể trực tiếp cộng lại đợc với nhau.
Đặc điểm của phơng pháp chỉ số khối lợng sản phẩm là: chỉ số khối l-
ợng sản phẩm công nghiệp biểu hiện sự biến động về lợng của các phần tử
khác nhau trong cùng một hiện tợng kinh tế phức tạp vốn không trực tiếp
cộng đợc với nhau, chuyển về dạng chung có thể trực tiếp cộng đợc với
nhau dựa trên cơ sở của các mối quan hệ giữa các nhân tố nghiên cứu với
các nhân tô khác.
Ví dụ: Khối lợng hàng hoá các loại đợc sản xuất ra trong một doanh
nghiệp, vốn không cộng trực tiếp đợc với nhau, nhng khi chuyển về dạng
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
11
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
giá trị bằng cách sử dụng nhân tố giá có liên quan thì chúng ta có thể cộng
chúng lại đợc với nhau.
Mặt khác, khi nghiên cứu sự biến động của một nhân tố bằng cách giả
định các nhân tố khác của hiện tợng phức tạp không thay đổi, phơng pháp
chỉ số tạo khả năng loại trừ ảnh hởng biến động của các nhân tố này để
khảo sát riêng sự biến động riêng của các nhân tố cần nghiên cứu.
=
00
11
qp
qp
10
11
qp
qp
00
10
qp
qp
(1)
Hoặc:
qppq
III
=
Trong đó: - p
1
, p
0
-
q
I
- Là chỉ số khối lợng hàng hoá, phản ánh biến động riêng của yếu tố
khối lợng sản phẩm.
Hệ thống chỉ số (1) phản ánh mối quan hệ tác động qua lại giữa yếu
tố giá và yếu tố khối lợng của hiện tợng kinh tế đến chỉ tiêu chung (
pq
I
).
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
13
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
Từ hệ thống chỉ số trên ta thấy: Việc tính chỉ số khối lợng sản phẩm
công nghiệp (
q
I
) có thể đợc tính theo các cách tính sau đây.
1. Tính trực tiếp chỉ số khối l ợng sản phẩm công nghiệp
Công thức tính trực tiếp chỉ số tổng hợp khối lợng sản phẩm công
nghiệp có dạng:
q
I
=
00
10
giá
Từ hệ thống chỉ số (1) ta thấy:
pq
I
=
qp
II
.
Suy ra, ta có công thức tính gián tiếp chỉ số tổng hợp khối lợng sản
phẩm công nghiệp:
q
I
=
pq
I
:
p
I
(1b)
Trong đó:
pq
I
,
p
I
- đã đợc chú thích ở trên.
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
14
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
00
00
10
qp
q
q
qp
I
qp
qp
q
.
Với:
0
1
q
q
i
q
=
thay vào công thức trên ta có:
=
=
=
- Chỉ số đơn khối lợng sản phẩm, đợc xem là lợng biến
hay tiêu thức bình quân hoá của chỉ số.
Ví dụ: Có số liệu giả định về kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Aqua hai năm 2000 và 2001 ở bảng 1 nh sau:
Bảng 1: Đơn giá và khối lợng sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp
A.
Tên sản
phẩm
Đơn vị
tính
Đơn giá sản phẩm.
(1000
đ
)
Khối lợng sản phẩm
Năm2000.
(
0
p
)
Năm2001
(
1
p
)
Năm2000
(
0
q
qp
(ngđ).
Từ đó ta tính đợc:
+ Chỉ số chung:
034,1
5640000
5832000
00
11
===
qp
qp
I
pq
lần hoặc 103,4%.
+Chỉ số giá:
9649,0
6044000
5832000
10
11
===
qp
qp
I
-Tính với quyền số là tỷ trọng giá trị sản phẩm (
0
d
):
0716,1
)433,0567,0(
)433,01,1567,005,1(
0
0
=
+
+
==
d
id
I
q
q
lần hoặc 107,16%.
Kết luận: Với số liệu ở bảng 1, áp dụng tính chỉ số khối lợng sản
phẩm công nghiệp cho doanh nghiệp theo cả ba cách tính trên đều cho
chúng ta cùng một kết quả nh nhau, đều bằng 107,16%: Nh vậy ta có chỉ
số khối lợng sản phẩm công nghiệp của doanh nghiệp X năm 2001 so
với năm 2000 bằng 1,0716 (lần) hoặc bằng 107,16 (%) tức là tăng 7,16%
so với năm 2000.
Tuy nhiên trên đây chỉ là một ví dụ giả định đơn giản với giả thiết chỉ
có hai loại sản phẩm cùng đợc sản xuất ở năm 2000 (năm gốc ) và
2001(năm báo cáo) và hơn nữa nó có đủ số liệu về đơn giá của từng loại
- Là giá cả kỳ gốc đợc chọn làm quyền số của chỉ số.
1
q
,
0
q
- Là khối lợng sản phẩm kỳ nghiên cứu và khối lợng sản phẩm
kỳ gốc.
Chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp với quyền số là giá cả kỳ gốc
(
0
p
) và đợc gọi là quyền số khả biến của chỉ số (vì cứ sau mỗi một cặp
năm so sánh thì quyền số của chỉ số lại thay đổi một lần). Chúng ta tạm gọi
đây là dạng cơ bản của chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp. Trở lại ví
dụ ở bảng 1, ta thấy điều kiện để áp dụng đợc công thức (2) là:
- Các mặt hàng đợc sản xuất ra qua các thời kỳ phải ổn định, nghĩa là
giữa kỳ báo cáo và kỳ gốc so sánh các doanh ngiệp, các nghành công
nghiệp phải cùng sản xuất ra những loại sản phẩm nh nhau, hay nói cách
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
17
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
khác giữa kỳ báo cáo và kỳ gốc so sánh không có sản xuất ra các sản phẩm
mới hoặc ngừng sản xuất những sản phẩm cũ.
- Trong mỗi kỳ nghiên cứu chúng ta đều phải xác định đợc đơn giá
của từng loại sản phẩm (p) để có cơ sở tính các đại lợng (
10
p
), và nh vậy
chúng ta sẽ không tính đợc các đại lợng
10
qp
của những loại sản phẩm này.
Một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp trong
nền kinh tế thị trờng thờng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau và
việc tính chỉ tiêu giá trị tổng sản lợng theo giá bán buôn xí nghiệp nh trớc
đây, cũng nh chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá cơ bản nh hiện nay. Thực tế
không tách riêng từng loại sản phẩm rồi tổng hợp lại, nên việc xác định giá
bán buôn xí nghiệp hoặc giá cơ bản thực tế của mỗi kỳ cho từng loại sản
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
18
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
phẩm riêng biệt gặp nhiều khó khăn. Vì vậy chúng ta khó có thể có đợc
đơn giá (
0
p
) của tất cả các loại sản phẩm đợc sản xuất ra để tính các đại l-
ợng
10
qp
cũng nh
10
qp
. Tuy nhiên khi chỉ tiêu giá trị sản xuất tính theo
giá sản xuất thì việc xác định đơn giá sản phẩm ở các doanh nghiệp có
cấp III, từ các ngành cấp III lại đợc chia thành các ngành cấp IV.
Nh vậy chúng ta thấy về nguyên tắc, việc tính chỉ số khối lợng sản
phẩm công nghiệp phải lần lợt tính từ doanh nghiệp rồi tính lên cho các
ngành cấp IV, III, II, cấp I và sau cùng là tính cho toàn bộ nền công nghiệp
của cả nớc. Song để đơn giản, dễ theo dõi và phù hợp với điều kiện thực tế
hiện nay của nền kinh tế thị trờng, trên góc độ nghiên cứu, công thức tính
chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp ở đây sẽ đợc khái quát lại và trình
bày ở ba dạng tơng ứng với ba cấp tính toán đó là: Công thức tính chỉ số
khối lợng sản phẩm công nghiệp áp dụng cho phạm vi từng doanh nghiệp,
công thức tính áp dụng cho phạm vi từng ngành công nghiệp riêng biệt và
công thức tính áp dụng cho phạm vi toàn bộ nền công nghiệp.
Sau đây chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu từng phơng pháp tính chỉ số
khối lợng sản phẩm công nghiệp cụ thể, cũng nh đánh giá những u và nhợc
điểm của từng phơng pháp tính toán trong nền kinh tế thị trờng hiện nay.
C h ơng II
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
20
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
Thực trạng việc tính chỉ số khối lợng sản
phẩm công nghiệp ở nớc ta hiện nay
ở nớc ta từ trớc đến nay, việc tính chỉ số khối lợng sản phẩm công
nghiệp vẫn tính theo cách truyền thống là Ph ơng pháp tính chỉ số khối l-
ợng sản phẩm với quyền số là giá cố định .
1. Nội dung của ph ơng pháp tính chỉ số khối l ợng sản phẩm công
nghiệp với quyền số là giá cố định
Cách tính chỉ số khối lợng sản phẩm với quyền số là giá cố định là
việc tính toán chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp bằng cách thay
quyền số của chỉ số trong công thức chung (
Trong đó:
q
I
- Là chỉ số khối lợng sản phẩm.
p
c
Là giá cố định ở một kỳ cố định nào đó đợc chọn làm quyền số của
chỉ số.
q
1
, q
0
- Là khối lợng sản phẩm kỳ nghiên cứu và kỳ gốc.
Với giá cố định (p
c
) là giá bình quân giữa các khu vực và giữa các
thời gian khác nhau trong năm của một năm nào đó có điều kiện sản xuất
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
21
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
ổn định đợc chọn làm gốc và đợc cơ quan thống kê lập thành bảng giá cố
định rồi ban hành và sử dụng thống nhất trong tất cả các đơn vị sản xuất
công nghiệp trong phạm vi cả nớc liên tục trong nhiều năm.
ở Việt Nam, chúng ta đã từng xây dựng bảng giá cố định trong năm
1959 áp dụng đến năm 1969 (sử dụng trong 11 năm), bảng giá cố định
năm 1970 và áp dụng đến năm 1981 (sử dụng trong 12 năm), bảng giá năm
1982 áp dụng đến năm 1988 (áp dụng trong 7 năm), bảng giá cố định năm
1989 áp dụng đến năm 1993 (sử dụng trong 5 năm) và bảng giá cố định đ-
ợc xây dung gần đây nhất là bảng giá năm 1994 và sử dụng cho đến nay
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
Nh vậy thực chất của việc tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghệp
với quyền số là giá cố định là sự thay thế quyền số của chỉ số theo giá từng
năm (p
0
- quyền số khả biến) bằng giá cố định (p
c
- quyền số bất biến) cho
nhiều năm.
Với cách tính giá cố định (p
c
) nh trên, việc xây dựng bảng giá cố định
là một công việc phức tạp, tốn nhiều thời gian, công sức, tiền của và phải
đợc chuẩn bị thật công phu với sự phối hợp tham gia của nhiều cấp bộ
ngành có liên quan. Song vì trong nhiều năm sử dụng bảng giá cố định
chúng ta mới phải thay đổi bảng giá một lần cho nên vẫn có thời gian và
điều kiện để thực hiện việc xây dựng nên một bảng giá cố định mới đầy đủ
để thay thế bảng giá cố định cũ. Với lợi thế đó của bảng giá cố định mà ở
nớc ta gần 45 năm qua cũng nh nhiều nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây đã áp
dụng bảng giá cố định để tính giá trị sản lợng, nay thay bằng giá trị sản
xuất theo giá cố định và trên cơ sở đó để tính chỉ số khối lợng sản phẩm
qua các năm để nghiên cứu biến động cũng nh đánh gía sự tăng trởng của
sản xuất công nghiệp qua các thời kỳ với nhau.
Theo phơng pháp này, việc tính chỉ số khối lợng sản phẩm công
nghiệp với quyền số là giá cố định nh công tức (3) thì chỉ số khối lợng sản
phẩm công nghiệp đợc xác định bằng cách so sánh giá trị sản xuất theo giá
cố định giữa hai thời kỳ (kỳ báo cáo và kỳ gốc) với nhau.
Do vậy việc tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp theo phơng
pháp này, vấn đề cốt lõi của nó là việc tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất
Nhng đối với những sản phẩm mới đợc sản xuất ra (những sản phẩm
sản xuất ra sau khi xây dựng bảng giá cố định) cha có giá cố định trong
bảng giá cố định và những loại sản phẩm dịch vụ ở dạng công việc có tính
chất công nghiệp nh: giá trị sữa chữa, sơn mạ đánh bóng, vv, thì chúng ta
chỉ xác định đợc giá trị sản xuất theo giá thực tế của chúng chứ không có
khối lợng hiện vật cũng nh đơn giá (những sản phẩm này chúng ta gọi
chung là những sản phẩm cha có giá cố định) thì khi tính toán giá trị sản
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
24
Luận văn tốt nghiệp bùi sỹ hùng tk
40b - đhktqd
xuất (GTSX) theo giá cố định (GCĐ) cho những sản phẩm này, chúng ta
phải chuyển đổi giá trị của chúng từ giá trị thực tế (GTT) về giá cố định.
Cách chuyển đổi về giá cố định của những sản phẩm mới cha có giá
cố định nh sau:
GTSX theo
GCĐ của những
sản phẩm cha có
GCĐ
=
GTSX theo GTT
của những sản
phẩm cha có
GCĐ
*
Hệ số
tính đổi (4a)
Trong đó:
Hệ số
1000 1438 994
3.Sản phẩm 3 1000
v
420 78 88
4.Sản phẩm 4 1000
v
210 486 246
5.sản phẩm 5 1000
v
34 24
6.Sản phẩm 6 1000
v
600 - 1000
7.Sảnphẩm7(tính
bằng giá trị)
1000
đ
- 50000 -
Phơng pháp tính chỉ số khối lợng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
25