MỤC LỤC
Lời cam đoan của sinh viên thực hiện chuyên đề Trang
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ
Lời mở đầu ……………………………………………………….…………8
Phần I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ………….…9
1. Khái niệm về xuất khẩu lao động…………………………………….9
2. Phân loại xuất khẩu lao động ……………………………………….10
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động …………………… 15
3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến bên cung ứng lao động … ……….15
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng của bên tiếp nhận lao động
…………….20
4. Quy trình tổ chức xuất khẩu lao động …………………………….23
5. Hiệu quả của xuất khẩu lao động ………………………………… 26
6. Sự cần thiết phải xuất khẩu lao động ……………………………….27
Phần II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở
HUYỆN LẬP THẠCH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2002 – 2007 …29
I. Các đặc điểm của huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc có ảnh
hưởng đến xuất khẩu lao động ……… …………… ………29
1. Đặc điểm về tự nhiên ………………………………………29
2. Đặc điểm về kinh tế ……………………………………….30
1
3. Đặc điểm về xã hội ………………………………………….31
II. Đánh giá tình hình xuất khẩu lao động ở huyện Lập Thạch,
tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 - 2007 ………………………… 32
1. Kết quả xuất khẩu lao động ở huyện Lập Thạch
tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 - 2007 ………… …… ….32
2. Tổ chức bộ máy xuất khẩu lao động …………………… … 38
3. Hình thức và quy trình xuất khẩu lao động ……………… …41
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động ở địa phương 44
5. Đánh giá hiệu quả xuất khẩu lao động ở huyện Lập Thạch
Hoàng Văn Tú
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- LĐ-TB&XH : Lao động – Thương binh và Xã hội
- HĐLĐ : Hợp đồng lao động
- QLLĐNN : Quản lý lao động ngoài nước
- HĐND: Hội đồng nhân dân
- UBND : Uỷ ban nhân dân
- BCĐ : Ban chỉ đạo
- TW : Trung ương
- XĐGN : Xoá đói giảm nghèo
- CNH-HĐH : Công nghiệp hoá hiện đại hoá
- NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- NHNN : Ngân hàng nhà nước
- CĐ-ĐH-THCN : Cao đẳng, Đại học trung học chuyên nghiệp
- PTTH, THCS : Phổ thông trung học, trung học cơ sở
_____________________________________
4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình xuất khẩu lao động
Bảng 2.1: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động
của huyện Lập Thạch qua các năm từ 2002 đến 2007
Biểu 2.2: biểu đồ về số lượng người đi xuất khẩu lao động
qua các năm từ 2002-2007 của huyện Lập Thạch
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy làm công tác xuất khẩu lao động
ở huyện Lập Thạch tỉnh V ĩnh Phúc
Bảng 2.4: Tổng hợp một số chỉ tiêu về xuất khẩu lao động
của huyện Lập Thạch từ năm 2002-2007
Bảng 2.5: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động chia theo thị tường
(nước/khu vực người lao động đang làm việc)
địa phương để từ đó có những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác
này. Chuyên đề bao gồm 3 phần:
Phần I: Sự cần thiết phải xuất khẩu lao động.
Phần II: Đánh giá tình hình xuất khẩu lao động của huyện Lập
Thạch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 – 2007.
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất
khẩu lao động ở huyện Lập Thạch trong thời gian tới.
Trong quá trình hoàn thành chuyên đề tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ tận tình về chuyên môn của Thầy giáo PGS-TS Trần Xuân Cầu Trưởng
khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
và tập thể cán bộ Phòng Nội vụ-LĐTBXH huyện Lập Thạch.
Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực mới cả về lý luận lẫn thực tiễn. Do
vậy trong chuyên đề này không thể tránh khỏi các thiếu xót rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến quý báu từ các thầy, cô và các bạn.
6
Xin chân thành cảm ơn!
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1. KHÁI NIỆM VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
Hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể, thống nhất nào về xuất khẩu lao
động, tuỳ theo hướng tiếp cận, nghiên cứu mà người ta đưa ra những khái
niệm khác nhau. Theo thuật ngữ Lao động thương binh xã hội tập I – H1999
của Bộ Lao động- TB&XH thì: “xuất khẩu lao động là việc đưa người lao
động đi làm việc thuê có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật”,
còn theo Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có
hiệu lực từ ngày 01/01/2007 thì “xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo HĐLĐ”. Như
vậy cả hai khái niệm trên đều chỉ ra rằng xuất khẩu lao động chính là việc đưa
người lao động Việt Nam có đủ tiêu chuẩn theo quy định đi làm việc ở nước
Nam làm việc ở nước ngoài, nghĩa là người lao động Việt Nam đi ra nước
ngoài để làm việc (làm việc ngoài lãnh thổ Việt Nam) theo một quy trình
thống nhất và phải theo một quy định cụ thể, hiện tại tất cả công dân Việt
Nam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tự nguyện và có đủ tiêu chuẩn,
8
điều kiện theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bên
nước ngoài thì được đi xuất khẩu lao động.
Sự khác nhau cơ bản giữa xuất khẩu lao động tại chỗ và xuất khẩu lao
động ra nước ngoài bao gồm:
Vị trí địa lý: xuất khẩu lao động tại chỗ chỉ tính trong phạm vi lãnh thổ
của Việt Nam, tức là người lao động làm việc tại Việt Nam còn xuất khẩu lao
động ra nước ngoài (lao động ngoài nước) bao gồm cả phạm vi lãnh thổ của
nước tiếp nhận lao động, tức là người lao động Việt Nam làm việc ở nước
ngoài.
Sự điều chỉnh của luật pháp: xuất khẩu lao động tại chỗ chỉ chịu sự điều
chỉnh của pháp luật Việt Nam còn xuất khẩu lao động ra nước ngoài phải chịu
sự điều chỉnh của cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao
động cũng như các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia ký kết.
2.2. Phân loại theo hình thức xuất khẩu lao động bao gồm: xuất
khẩu lao động hợp pháp và xuất khẩu lao động bất hợp pháp.
Xuất khẩu lao động hợp pháp: là việc đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng do pháp luật Việt Nam quy
định và được pháp luật bảo vệ. Hiện tại các hình thức này bao gồm: cung ứng
lao động theo các hợp đồng lao động ký với bên nước ngoài; đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; đưa
lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư tại nước ngoài; đưa lao động theo
hợp đồng nhận thầu khoán công trình ở nước ngoài và các hình thức khác
theo quy định của pháp luật. Xuất khẩu lao động hợp pháp được nhà nước bảo
hộ và khuyến khích người lao động tham gia, người lao động được hưởng các
chính sách hỗ trợ theo quy định, quyền và lợi ích hợp pháp được bảo đảm.
điểm phù hợp với lao động là người Việt Nam. Tuy nhiên trong thời gian tới
việc mở rộng thị trường ra các nước thuộc các khu vực trên là rất cần thiết để
tạo cơ hội cho người lao động Việt Nam có được thu nhập cao hơn.
2.4. Phân loại xuất khẩu lao động theo loại lao động bao gồm:
xuất khẩu lao động là chuyên gia và xuất khẩu lao động nói chung.
Xuất khẩu lao động là chuyên gia: là việc đưa người lao động Việt
Nam có trình độ cao (chuyên gia) đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn theo
HĐLĐ, tỷ lệ xuất khẩu lao động là chuyên gia rất nhỏ trong tổng số người đi
xuất khẩu lao động. Hiện tại Việt Nam chưa thể phát triển hình thức này bởi
vì trình độ của người lao động Việt Nam là chuyên gia chưa đáp ứng một
cách đại trà yêu cầu của thị trường khu vực và thế giới. Mặt khác không thuộc
phạm vi nghiên cứu của chuyên đề.
Xuất khẩu lao động nói chung: ở đây muốn nói đến người lao động ở
khía cạnh về trình độ chuyên môn và trình độ văn hoá.
Phân loại xuất khẩu lao động theo trình độ chuyên môn: người đi xuất
khẩu lao động đã qua đào tạo CĐ-ĐH, TH chuyên nghiệp, dạy nghề (loại lao
động đã qua đào tạo) và loại lao động chưa qua đào tạo tức là chưa qua
trường lớp đào tạo nào (lao động phổ thông).
Phân loại xuất khẩu lao động theo trình độ văn hoá: tức là phân loại người
lao động theo cấp học như đã tốt nghiệp THPT, THCS, tiểu học hay chưa
hoặc có biết đọc, biết viết hay không.
11
Hiện nay số người tham gia xuất khẩu lao động chưa qua đào tạo đang
chiếm số đông chủ yếu là lao động phổ thông, trong tương lai sẽ tăng dần tỷ
trọng lao động qua đào tạo nghề đi xuất khẩu lao động.
2.5. Phân loại xuất khẩu lao động theo ngành nghề.
Là việc phân loại xuất khẩu lao động theo ngành nghề hoặc công việc mà
người tham gia xuất khẩu lao động sẽ làm. Căn cứ vào thông tin tuyển chọn
của các doanh nghiệp được phép tham gia hoạt động xuất khẩu lao động và
Website của Bộ Lao động-TB&XH tại địa chỉ WWW.Molisa.gov.vn/xuất
hay không được thực hiện. Mặt khác nó còn giúp cho hoạt động xuất khẩu lao
động theo đúng pháp luật và các điều ước quốc tế, ngoài ra nó còn bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người đi xuất khẩu lao động.
Sự tác động của cơ chế, chính sách đến hoạt động xuất khẩu lao động
được xem xét ở hai khía cạnh sau:
Có tác động tích cực: nhờ sự quy định cụ thể, rõ ràng đã giúp cho hoạt
động xuất khẩu lao động được thực hiện thống nhất, có tư cách pháp nhân và
được pháp luật bảo vệ, người lao động có điều kiện đi xuất khẩu lao động nhờ
13
các chính sách hỗ trợ kịp thời, nói chung là tạo điều kiện thuận lợi nhất để
hoạt động xuất khẩu lao động được diễn ra bình thường, có hiệu quả nhất.
Hạn chế: nếu cơ chế, chính sách quy định chung chung thiếu sự thống
nhất, không đầy đủ, không rõ ràng có sự chồng chéo và bộc lộ sự quan liêu,
không phù hợp với tình hình thực tế hiện tại, không cập nhật thì nó có tác
động làm kìm hãm, hạn chế đến kết quả hoạt động xuất khẩu lao động, từ đó
nó tạo kẽ hở cho hoạt động xuất khẩu lao động bất hợp pháp phát triển làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người lao động, cũng
như ý nghĩa chính trị quốc gia. Để khắc phục hạn chế trên hiện tại từ ngày 01
tháng 01 năm 2007 người đi xuất khẩu lao động sẽ chịu sự điều chỉnh của
“Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”, đây
là cơ sở pháp lý duy nhất điều chỉnh mọi hoạt động xuất khẩu lao động hiện
tại ở Việt Nam.
3.1.2. Các yếu tố thuộc về tổ chức xuất khẩu lao động.
Theo Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tham gia vào hoạt động xuất
khẩu lao động bao gồm các tổ chức:
Các cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động gồm các Bộ, ngành,
UBND các cấp và BCĐ xuất khẩu lao động các cấp.
Các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu lao động.
lòng tin cho người lao động dẫn đến hoạt động xuất khẩu lao động kém hiệu
quả gây thiệt hại về kinh tế và tổn hại về mặt xã hội. Hiện tại việc cử cán bộ
quản lý tại các nước, khu vực mà doanh nghiệp xuất khẩu lao động đưa người
lao động sang làm việc trong việc giám sát theo dõi thực hiện HĐLĐ, giải
quyết kịp thời các phát sinh vượt quá khả năng tự giải quyết của người lao
động hoặc khi người lao động yêu cầu trợ giúp còn rất yếu hoặc các tổ chức
này không thông tin, hoặc thông tin không đầy đủ các chính sách, các quy
định đối với người lao động gây thiệt thòi cho người lao động, điều này ảnh
hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động.
3.1.3. Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động.
Bản thân người lao động đóng vai trò quyết định đến kết quả của hoạt
động xuất khẩu lao động, ngoài việc có đủ các điều kiện theo quy định của
pháp luật Việt Nam thì người lao động còn phải có các yếu tố khác thuộc bản
thân người lao động mà các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
xuất khẩu lao động. Bao gồm:
Yếu tố thuộc về thể lực: thể lực chính là trạng thái sức khoẻ của người lao
động biểu hiện thông qua chiều cao, cân nặng và các giác quan nội tại… làm
việc trong môi trường công nghiệp tư bản đòi hỏi người lao động Việt Nam
phải có một sức khoẻ tốt, khả năng thích ứng cao nếu không sẽ không đáp
ứng được yêu cầu công việc dẫn đến hàng loạt vấn đề phát sinh gây bất lợi
cho lao động Việt Nam, đặc biệt trong việc thích nghi với môi trường sống.
Các yếu tố thuộc về trí lực:
Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn: đây là trạng thái hiểu biết của
người lao động đối với những kiến thức phổ thông và khả năng thực hành về
một chuyên môn nghề nghiệp biểu hiện qua các cấp học, qua đào tạo hoặc
16
không qua đào tạo. Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của người lao
động có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động, nếu người lao
động không có trình độ chuyên môn sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nhà
tuyển dụng từ đó dẫn đến hệ quả là người lao động thì thừa nhiều nhưng
thông do đó họ phải nhập khẩu lao động và ngược lại các nước có nền kinh tế
kém phát triển thì họ lại rất thừa lao động chủ yếu là lao động phổ thông vì
vậy cần phải xuất khẩu lao động. Mặt khác xuất khẩu lao động sang những thị
trường này cũng đem lại thu nhập rất cao cho nên sẽ thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu lao động. Bởi vì sức lao động được coi là hàng hoá cho nên nó cũng
tuân theo quy luật vận động từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao hơn,
do đó các nước có nền kinh tế phát triển sẽ thu hút được nhiều lao động có
trình độ cao hơn.
Về chính trị: người lao động Việt Nam chỉ có thể làm việc tại những nước
mà nhà nước Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao và có ký kết về việc nhập khẩu
lao động ở cấp Chính phủ thì người lao động mới có thể tham gia xuất khẩu
lao động. Đây là yếu tố quyết định có được xuất khẩu lao động hay không
được xuất khẩu lao động sang thị trường đó, mặt khác thể chế chính trị có
tương đồng với Việt Nam thì khi xảy ra tranh chấp mới có được sự ủng hộ và
giải quyết thoả đáng, đặc biệt là những nước có xung đột sắc tộc, có chiến
tranh hoặc có nguy cơ xảy ra chiến tranh mất ổn định chính trị thì pháp luật
18
Việt Nam nghiêm cấm xuất khẩu lao động sang nước đó. Vì vậy tình hình
chính trị của nước tiếp nhận lao động cũng có ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu lao động của Việt Nam.
Về xã hội: xã hội ổn định, người dân hiếu khách, tôn trọng người lao
động, phong tục tập quán không quá khắt khe, thức ăn không quá khác biệt thì
người lao động Việt Nam mới có thể sinh sống và làm việc tại đó được, nếu
không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công việc.
3.2.2. Các yếu tố thuộc về vị trí địa lý.
Tức là muốn nói đến khoảng cách giữa Việt Nam và nước tiếp nhận lao
động là gần hay xa, do đó để đạt được hiệu quả xuất khẩu lao động thì người
lao động Việt Nam phải tính đến yếu tố về vị trí địa lý bởi 3 lý do sau:
Thứ nhất chi phí về giao thông, thông tin liên lạc, dịch vụ chuyển ngoại
tệ…nếu xuất khẩu lao động đến một nước quá xa so với Việt Nam thì các chi
3.2.5. Các yếu tố khác.
Ngoài các yếu tố trên thì các yếu tố sau đây cũng ảnh hưởng đến hoạt
động xuất khẩu lao động của Việt Nam như: trình độ phát triển công nghệ
thông tin; hệ thống ngân hàng; hệ thống y tế trong việc chăm sóc sức khoẻ và
20
khống chế các dịch bệnh như cúm H5N1, HIV-AIDS, SARS; hệ thống trợ
giúp pháp lý; điều kiện ăn ở sinh hoạt, giá cả tiêu dùng, vui chơi giải trí…
4. QUY TRÌNH TỔ CHỨC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
Quy trình xuất khẩu lao động thực chất là việc thực hiện các bước của
hoạt động xuất khẩu lao động theo một thứ tự nhất định. Theo thông tin từ
Cục quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động - TB&XH tại địa chỉ
WWW .Molisa. gov.vn / xuất khẩu lao động thì tham gia vào quy trình này
gồm có:
Cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động: điều 184 Bộ luật lao
động quy định “Bộ Lao động – TB&XH thống nhất quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động, UBND tỉnh/thành phố thực hiện quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động trong phạm vi địa phương”.
Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam: đây là những doanh
nghiệp được cấp giấy phép hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động (theo quy
định tại khoản 4 điều 8 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng) là “những doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
theo Luật doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt
Nam”.
Bên nước ngoài: là đối tác trực tiếp ký HĐLĐ với người lao động Việt
Nam và ký hợp đồng tiếp nhận lao động do doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Việt Nam cung ứng. Bên nước ngoài có thể là cá nhân, tổ chức cần lao động.
Người lao động: phải là công dân Việt Nam, có đủ 18 tuổi trở lên có khả
năng lao động, tự nguyện tham gia xuất khẩu lao động theo quy định của pháp
21
luật. Tất cả đều tham gia hoạt động xuất khẩu lao động theo một quy trình
thuộc vào từng ngành nghề cụ thể có thể có hoặc không có).
Khám sức khoẻ cho người lao động: trước khi xuất cảnh người lao động
phải được khám sức khoẻ tại Bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế.
Nộp đơn đăng ký hợp đồng cá nhân cho Sở Lao động-TB&XH nơi cư trú
và nhận giấy xác nhận hợp đồng cá nhân để làm căn cứ cho các thủ tục sau
này.
Nộp lệ phí xuất khẩu lao động, làm thủ tục vay vốn ngân hàng (nếu cần).
Làm thủ tục xin cấp hộ chiếu, vi sa.
Xuất cảnh.
Ký kết HĐLĐ giữa người lao động Việt Nam và chủ sử dụng lao động
người nước ngoài, tiến hành thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp
xảy ra nếu có.
Hoàn tất xuất khẩu lao động sau khi người lao động đã thực hiện xong hợp
đồng và về nước.
23
5. HIỆU QUẢ CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
5.1. Hiệu quả kinh tế:
Xuất khẩu lao động đã được Đảng và nhà nước ta xác định là một lĩnh vực
kinh tế đối ngoại quan trọng và được Quốc hội đưa vào chỉ tiêu kế hoặch
hàng năm.
Theo thống kê của Cục quản lý lao động ngoài nước hiện tại đã có 282600
lượt người đi xuất khẩu lao động nâng tổng số lao động Việt Nam đang làm
việc tại nước ngoài lên 400.000 người hàng năm gửi về nước hàng tỷ USD.
Như vậy người đi xuất khẩu lao động có thu nhập cao hơn gấp nhiều lần so
với việc làm trong nước trong khi đó vốn đầu tư ít nhưng mang lại lợi ích
kinh tế cao, đời sống bản thân và gia đình được cải thiện đáng kể
Mặt khác trong quá trình làm việc tại nước ngoài người lao động được học
hỏi thêm về ngoại ngữ, tiếp cận với các phương pháp làm việc tiên tiến, tiếp
thu công nghệ mới, có điều kiện nâng cao tay nghề… mà không phải trả tiền
chi phí đào tạo chính điều này sẽ tạo cơ hội cho người lao động sau khi về
25