những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 10

Tiu lun kinh t chớnh tr
I. Phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta là một tất yếu khách
quan.
1.Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá.
1.1. Kinh tế tự nhiên.
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức
kinh tế xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Hai hình thức này đợc hình
thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực lợng sản xuất xã hội,
trình độ phát triển và phạm vi của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên, ngời sản xuất cũng đồng thời là ng-
ời tiêu dùng. Tự sản xuất, tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh
tế tự nhiên. Mục đích của sản xuất là tạo ra những giá trị sử dụng
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân ngời sản xuất.
Vì thế có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên chỉ gồm
hai khâu: sản xuất tiêu dùng. Các quan hệ kinh tế trong nền kinh
tế tự nhiên đều mang hình thái hiện vật.
1.2. Kinh tế hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất là trao đổi
hay là để bán. Mục đích đó đợc xác định trớc quá trình sản xuất và
có tính khách quan. Sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất đều
gắn với thị trờng.
So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá có những u thế cơ bản
sau đây:
Một là, Trong kinh tế hàng hoá do sự phát triển của sự phân
công lao động xã hội cho nên sản xuất đợc chuyên môn hoá ngày
càng cao, thị trờng ngày càng mở rộng. Điều đó tạo điều kiện phát
huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản xuất, thúc đẩy việc
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
1
Tiu lun kinh t chớnh tr
cải tiến công cụ lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng phạm

vận động và phát triển kinh tế hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự
nhiên và khẳng định mình là một kiểu tổ chức kinh tế và xã hội độc
lập.
Phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành nghề sản
xuất khác nhau. Do phân công lao động xã hội cho nên mỗi ng ời
chuyên làm một việc trong một ngành với một nghề nhất định và
chuyên sản xuất ra một hoặc một số sản phẩm nhất định. Nh ng nhu
cầu tiêu dùng của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thoả
mãn nhu cầu của mình những ngời sản xuất phải nơng tựa vào nhau,
trao đổi sản phẩm cho nhau. Phân công lao động xã hội làm nảy sinh
những quan hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất với nhau.
Trong điều kiện t hữu về t liệu sản xuất, những ngời sản xuất
độc lập với nhau và có lợi ích kinh tế khác nhau.
Do phân công lao động xã hội và sự độc lập t ơng đối về kinh tế
giữa những ngời sản xuất, cho nên quan hệ giữa những ngời sản xuất
là quan hệ mâu thuẫn : họ vừa liên hệ phụ thuộc vào nhau vừa độc
lập với nhau. Giải quyết mối quan hệ mâu thuẫn này tất yếu đòi hỏi
phải có quan hệ trao đổi dựa trên cơ sở giá trị, nghĩa là dựa trên cơ
sở trao đổi ngang giá.
Phân công lao động xã hội phát triển thì quan hệ trao đổi cũng
đợc mở rộng và ngày càng phức tạp. Phân công lao động xã hội làm
xuất hiện thủ công nghiệp và tách nó ra khỏi ngành nông nghiệp,
làm hình thành xu hớng công nghiệp thành thị dần dần tách khỏi
nông nghiệp nông thôn. Phân công lao động xã hội phát triển cũng
dẫn tới sự ra đời của ngành thơng nghiệp. Khi thơng nghiệp ra đời,
quan hệ trao đổi có sắc thái mới: ngời sản xuất và ngời tiêu dùng có
quan hệ sản xuất với nhau qua ngời thứ ba là thơng nhân. Việc mở
rộng phạm vi xã hội hoá sản xuất đồng thời cũng kéo theo việc
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
3

4
Tiu lun kinh t chớnh tr
Kinh tế thị trờng đợc hình thành với những điều kiện sau đây:
Một là, sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động và thị tr ờng sức
lao động. Trớc hết cần khẳng định sự xuất hiện của hàng hoá sức lao
động là một tiến bộ lịch sử. Ngời lao động đợc tự do, anh ta có
quyền làm chủ khả năng lao động của mình và là chủ thể bình đẳng
trong việc thơng lợng với ngời khác. Chủ nghĩa t bản đã thực hiện đ-
ợc bớc tiến bộ lịch sử trong khuôn khổ lợi dụng tính chất đặc biệt
của hàng hoá sức lao động để phuc vụ túi tiền của các nhà t bản. Vì
vậy đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa t bản với lao động làm thuê.
Trong điều kiện lịch sử mới thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
không phải mọi ngời có sức lao động đem bán đều là những ngời
vô sản. Do sự chi phối lợi ích kinh tế và của chi phí cơ hội những
ngời lao động vẫn có thể bán sức lao động của mình cho ngời khác
nếu nh họ cảm thấy việc làm này có lợi hơn so với việc tổ chức quá
trình tổ chức.
Trong lịch sử sự hoạt động của quy luật giá trị đã từng dẫn tới
sự phân hoá những ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo. Sự phân
hoá này diễn ra chậm chạp, cho nên cần phải có bạo lực của Nhà n ớc
để thúc đẩy sự phân hoá này diễn ra đợc nhanh hơn. Chính sự phân
hoá những ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo tới một giới hạn
nhất định đã làm nảy sinh hàng hoá lao động và thị trờng sức lao
động.
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế phát triển. Nó có năng suất lao
động cao. Ngoài những sản phẩm cần thiết còn có những sản phẩm
thặng d. Chính sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động đã phản ánh
điều đó. Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt. Tính chất đặc
biệt của nó đợc thể hiện tập trung ở thuộc tính giá trị sử dụng của
nó. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Sở dĩ nh vậy là vì: do

Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
6
Tiu lun kinh t chớnh tr
thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn vị sản xuất để bảo đảm
những nhu cầu cần thiết của các loại hoạt động sản xuất khác nhau.
Chỉ đẩy mạnh hoạt động sản xuất hàng hoá mới làm cho nền
kinh tế nớc ta phát triển năng động. Kinh tế tự nhiên do bản chất của
nó, chỉ duy trì tái sản xuất giản đơn. Trong cơ chế kinh tế cũ vì coi
thờng quy luật giá trị nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và
động lực để phát triển sản xuất. Sử dụng sản xuất hàng hoá là sử
dụng quy luật giá trị, quy luật này buộc mỗi ngời sản xuất tự chịu
trách nhiệm về hàng hoá do mình làm ra. Chính vì thế mà nền kinh
tế trở nên sống động. Mỗi ngời sản xuất đều chịu sức ép buộc phải
quan tâm đến sự tiêu thụ trên thị trờng, sao cho sản phẩm của mình
đợc xã hội thừa nhận và cũng từ đó họ mới có đợc thu nhập.
Phát triển kinh tế thị trờng là sự phát triển của lực lợng sản
xuất xã hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú,
đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi ngời. ở nông thôn nớc ta, sự phát
triển kinh tế hàng hoá và và việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã
làm cho tỷ lệ hàng hoá bán ra của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng
lên, đồng thời các ngành nghề ở nông thôn cũng t ơng đối phát triển,
tạo ra cho nông dân nhiều viẹc làm. Đó cũng là điều đã diễn ra ở
thành phố, đối với những ngời lao động thành thị.
Phát triển sản xuất hàng hoá có thể đào tạo ngày càng nhiều
cán bộ quản lý và lao động. Muốn thu đợc lợi nhuận họ phải vận
dụng nhiều biện pháp để quản lý kinh tế để thúc đẩy tiến bộ kỹ
thuật, hạ giá thành sản phẩm, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu
của thị trờng, nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế. Qua cuộc cạnh
tranh trên thị trờng, những nhân tài quản lý kinh tế và lao động
thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là một dấu hiệu quan

đối lập kinh tế hàng hoá và thị trờng với kinh tế kế hoạch hoá, cho
thị trờng là phạm trù riêng của chủ nghĩa t bản cho nên chúng ta chỉ
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
8
Tiu lun kinh t chớnh tr
thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hoá trong khuôn khổ của thi
đua xã hội chủ nghĩa, tách rời một cách siêu hình sản xuất hàng hoá
với thị trờng. Bởi vậy chúng ta đã không tạo đợc động lực để phát
triển sản xuất, vô tình hạn chế việc ứng dụng những tiến bộ của khoa
học kỹ thuật vào sản xuất, năng suất lao động tăng chậm, gây rối
loạn và ách tắc trong lĩnh vực phân phối, lu thông, làm cho nền kinh
tế rơi vào tình trạng kém năng động, trì trệ.
II.Bản chất, đặc điểm của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta
1. Bản chất của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta
Chuyển nền kinh tế nớc ta sang kinh tế thị trờng theo định h-
ớng XHCN là yêu cầu khách quan, nhằm phát triển lực l ợng sản xuất
xã hội. Quá trình đó phù hợp với xu thế của thời đại và phù hợp với
nguyện vọng của nhân dân ta.
Quá trình chuyển nền kinh tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng
theo định hớng XHCN tất yếu đòi hỏi phải nghiên cứu những đặc tr-
ng của mô hình kinh tế này. Trên thế giới đã có nhiều quốc gia phát
triển nền kinh tế của mình theo mô hình kinh tế thị tr ờng. Chẳng hạn
mô hình kinh tế thị trờng xã hội của Cộng hoà liên bang Đức,
kinh tế thị trờng của Thụy Điển, kinh tế thị trờng mang màu sắc
Trung Quốc Nếu gác lại những đặc điểm riêng, cá biệt của những
mô hình kể trên, chỉ tính đến những đặc tr ng duy nhất vốn có của
kinh tế thị trờng.
Kinh tế thị trờng ở Việt Nam sẽ đợc phát triển theo hớng
XHCN. Đó là sự định hớng của một xã hội mà sự hùng mạnh của nó
nhờ vào sự giàu có và hạnh phúc của dân c . Xã hội không còn chế độ

gì mâu thuẫn với định hớng XHCN. Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta
đã khẳng định : Cơ chế thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực to
lớn đến phát triển kinh tế xã hội. Nó chẵng những không đối lập mà
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
10
Tiu lun kinh t chớnh tr
còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát
triển đất nớc theo con đờng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung định hớng XHCN của kinh tế thị trờng nớc ta đã đợc
hội thảo khoa học nhiều lần. Theo ý kiến của đa số các nhà khoa học
Việt Nam, có thể quan niệm định hớng XHCN của kinh tế thị trờng ở
nớc ta có những nội dung chính nh sau:
Một là: Hai mặt kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trờng nớc
ta đợc chủ động kết hợp với nhau ngay từ đầu thông qua pháp luật,
chính sách kinh tế và chính sách xã hội trên cả tầm kinh tế vĩ mô và
vi mô. Nếu ở tầm vi mô, các chủ doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm
mục tiêu xác định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thì ở tầm
vĩ mô, Nhà nớc dùng hiệu quả kinh tế xã hội làm mục tiêu quản lý
nhằm thực hiện tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
Hai là: cùng với sự tăng trởng và phát triển kinh tế, môi trờng
sinh thái của đất nớc đợc chủ động bảo vệ qua các dự án đầu t môi
sinh và qua việc chấp hành một cách đúng đắn luật pháp, chính sách
môi trờng của Nhà nớc trong từng thời kỳ.
Ba là: Nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là
nền kinh tế có trình độ phát triển cao. Nếu nh nền kinh tế kế hoạch
hoá trì trệ, kém phát triển, tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân thấp kém dẫn tới mức thu nhập bình quân của dân c còn thấp.
Bốn là: Định hớng XHCN còn đợc thể hiện trong cơ cấu kinh
tế nớc ta. Để có định hớng XHCN kinh tế nhà nớc phải phát huy đợc
vai trò chủ đạo, nó cùng với kinh tế hợp tác là nền tảng của nền kinh

2. 1. Nền kinh tế hàng hoá còn ở trình độ kém phát triển
Đặc điểm này thể hiện ở các mặt chủ yếu nh sau:
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
12
Tiu lun kinh t chớnh tr
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội còn ở trình độ thấp. Bên
cạnh một số lĩnh vực, một số cơ sở kinh tế đã đ ợc trang bị máy móc,
thiết bị, công nghệ hiện đại, bộ phận lao động thủ công vẫn còn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội. Trong nhiều ngành
kinh tế máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ bé.
Do đó năng suất, chất lợng, hiệu quả sản xuất của ta còn rất thấp.
- Do cơ sở vật chất và trình độ công nghệ lạc hậu cho nên sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị tr ờng trong nớc cũng nh n-
ớc ngoài còn rất yếu. Số lợng, chất lợng, chủng loại hàng hoá làm ra
còn nghèo và cha ổn định. Sự phân công hiệp tác, chuyên môn hoá
sản xuất cha rộng, cha sâu, giao lu hàng hoá còn nhiều hạn chế
- Đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp thành thạo còn quá ít,
cha đáp ứng yêu cầu to lớn của thực tiễn.
2.2. Nền kinh tế hàng hoá với nhiều thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế tiến hành sản xuất hàng hoá tuy có bản
chất kinh tế khác nhau, nhng chúng đều là những bộ phận của một
cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất với các quan hệ cung - cầu, tiền
tệ, giá cả chung Bởi vậy, chúng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với
nhau. Mỗi đơn vị kinh tế là một chủ thể độc lập, tự chủ và tất cả đều
bình đẳng trớc pháp luật.
Tuy nhiên, cần nhận thức rõ rằng, mỗi thành phần kinh tế chịu
sự tác động của các quy luật kinh tế riêng. Chính sự tác động của
các quy luật kinh tế khác nhau này mà bên cạnh tính thống nhất của
các thành phần kinh tế còn có những khác nhau và mâu thuẫn khiến
cho nền sản xuất hàng hoá ở nớc ta có khả năng phát triển theo

cả.
b. Kết hợp kế hoạch với thị trờng.
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
14
Tiu lun kinh t chớnh tr
Trong xã hội t bản chủ nghĩa, thị trờng giữ vai trò quyết định.
Nền sản xuất xã hội nói chung bị điều tiết bởi bàn tay vô hình là thị
trờng. Trớc tác động phá hoại của cơ chế thị trờng, các nhà t sản đều
có sử dụng kế hoạch hoá sự phát triển kinh tế đến mức nhất định,
hình thành lý luận về "kinh tế thị trờng xã hội", kết hợp bàn tay vô
hình và bàn tay hữu hình. Trong thực tế, các xí nghiệp, các công
ty, tập đoàn t bản đều sản xuất theo một kế hoạch rất chu đáo và tỷ
mỷ. Tuy nhiên, xét trên bình diện vĩ mô, các nhà nớc t sản đã tỏ ra
bất lực vì quyền lực chi phối sản xuất là thuộc về từng chủ sở hữu
riêng lẻ.
Kế hoạch và thị trờng cần kết hợp với nhau. Kế hoạch có u
điểm là tập trung đợc tiềm năng cho những mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm cho cân bằng tổng thể, gắn đ ợc mục tiêu phát
triển kinh tế với phát triển xã hội ngay từ đầu.
III. Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá theo
định hớng xã hội chủ nghĩa
Muốn phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định h ớng xã hội
chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. D ới đây là những
giải pháp chủ yếu nhất.
1.Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ là một trong những điều kiện cơ sở để thúc đẩy
kinh tế hàng hoá phát triển, nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức
mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.
Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế Nhà nớc và các kinh tế

thị trờng chứng khoán.
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, công
nghệ, tài nguyên, thực hiện mở rộng phân công lao động xã hội cần
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
16
Tiu lun kinh t chớnh tr
phải từng bớc hình thành đồng bộ các loại thị trờng tiền tệ, vốn, sức
lao động, chất xám, thông tin, t liệu sản xuất và tự liệu tiêu dùng
Điều này sẽ đảm bảo cho biệc phân bố và sử dụng các yếu tố đầu
vào, đầu ra của quá trình sản xuất phù hợp với nhu cầu của sự phát
triển kinh tế hàng hoá.
3. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và
công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, các hoạt động chỉ có thể đứng
vững trong cạnh tranh nếu thờng xuyên đổi mới công nghệ để hạ chi
phí, nâng cao chất lợng sản phẩm. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công
tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá. So
với thế giới, trình độ công nghệ sản xuất của ta còn thấp kém, không
đồng bộ. Do đó, khả năng cạnh tranh của hàng hoá nớc ta so với
hàng hoá nớc ngoài trên cả thị trờng nội địa và thế giới còn kém. Bởi
vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá, chúng ta phải đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật
pháp, triệt để xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính bao cấp, đổi mới
các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để phát
triển. Nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nớc và
nớc ngoài yên tâm đầu t. Giữ vững ổn định chính trị ở nớc ta hiện
nay là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng

Phải quán triệt nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào
nộ bộ của nhau và không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Cải
cách cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, thu hút rộng rãi vốn và đầu t n-
ớc ngoài, thu hút kỹ thuật, nhân tài và kinh nghiệm quản lý.
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
18
Tiu lun kinh t chớnh tr
Những giải pháp nói trên tác động qua lại với nhau, sẽ tạo nên
sức mạnh thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá nớc ta phát triển theo định
hớng xã hội chủ nghĩa.
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B
19
Tiu lun kinh t chớnh tr
Kết luận
Sự phát triển kinh tế - xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu
xã hội, nhân văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh
sự gia tăng về lợng (tăng trởng kinh tế) còn bao hàm cả những thay
đổi về chất (những biến đổi về mặt xã hội). "phát triển là nâng cao
phúc lợi của nhân dân. Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo
dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những yếu tố cơ bản
của phát triển kinh tế. Bảo đảm các quyền chính trị và công nhân là
một mục tiêu phát triển rộng hơn". Học thuyết về hình thái kinh tế -
xã hội của C.Mác là một thành tựu khoa học của loài ngời. Nó phác
hoạ quy luật vận động tổng quát của lịch sử nhân loại, và sự phát
triển của xã hội loài ngời sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản, mà giai
đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không đối
lập với phát triển, với kinh tế thị trờng, mà là một nấc thang phát
triển của loài ngời đợc đánh dấu bằng tiến bộ - xã hội của sự phát
triển. Nó là cách thức giải quyết các quan hệ xã hội vì cuộc sống tốt
đẹp của đại đa số nhân dân lao động, của toàn thể xã hội, là sự thiết

Mục lục
I. Phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta là một tất yếu khách quan 1
Kết luận 20
Tài liệu tham khảo 21
Đỗ Thị Hà Thơng Cao học 16B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status