môc lôc
LờI NóI ĐầU
Việt Nam vốn là đất nớc có nhiều làng nghề truyền thống đợc hình thành và
phát triển từ nhiều đồ nay. Trải qua hàng trăm. hàng ngàn năm, có rất nhiều nghề
và làng nghề đã tồn tại và phát triển nh một phần không thể tách rời lịch sử dân
tộc. Nh là làng nghề dệt vải, làm gốm sứ, đúc đồng, dệt chiếu, dệt thổ cẩm
Trong đó chúng ta không thể không kể đến nghề làm đồ gỗ truyền thống đã gắn
bó với cuộc sống của bao thế hệ ngời dân Việt Nam từ thuở cha ông ta dựng nớc
đến nay. Những sản phẩm của nghề này không chỉ đáp ứng nhu cầu hàng ngày
mà còn là những sản phẩm văn hóa phục vụ cho đời sống tinh thần của ngời dân
Việt.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nớc, ngành nghề
truyền thống này đã phát triển thành ngành công nghiệp sản xuất và chế biến gỗ.
Sản phẩm của ngành là mặt hàng xuất khẩu mang nhiều nét đặc trng độc đáo của
nền văn hóa dân tộc, do vậy nó cũng là thông điệp giới thiệu cho bạn bè quốc tế
về đất nớc, cảnh quan thiên nhiên và con ngời Việt Nam. Bên cạnh đó, các sản
phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam còn đem lại giá trị ngoại tệ rất lớn. Chính
bởi những lợi ích kinh tế xã hội lâu dài và tiềm năng phát triển của chúng mà
hiện nay nhà nớc đang có nhiều biện pháp và chính sách để khuyến khích ngành
chế biến sản xuất gỗ xuất khẩu phát triển.
Trong đề án này tôi xin đợc đề cập đến ba vấn đề lớn là: tổng quan về ngành
gỗ Việt Nam, thực trạng của ngành sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu và các giải
pháp để đẩy mạnh ngành nghề này.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, do còn nhiều sai sót và kiến thức
còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự góp ý của thầy cô
và các bạn.
Tôi xin cảm ơn thầy Nguyễn Đình Trung đã trực tiếp hớng dẫn tôi thực hiện
đề tài này.
2
I.tổng quan về ngành gỗ việt nam:
rộng sản xuất với quy mô lớn, nên hoạt động đầu t trong lĩnh vực sản xuất và chế
biến gỗ xuất khẳu đang tăng rất mạnh. Lực lợng doanh nghiệp trong ngành chế
biến gỗ hiện nay có khoảng 1.800 doanh nghiệp, trong đó có trên 300 doanh
nghiệp đang sản xuất hàng xuất khẩu. Cả nớc có 3 cụm công nhiệp chế biến gỗ
là: Thành phố Hồ Chí Minh Bình Dơng; Bình Định Tây Nguyên và Hà Nội
Bắc Ninh. Riêng Bình Dơng đang có 371 doanh nghiệp sản xuât và xuất khẩu
sản phẩm gỗ, trong đó có 176 doanh nghiệp trong nớc và 195 doanh nghiệp có
vốn FDI.
3
2. Vai trò và những lợi ích kinh tế xã hội từ việc phát triển ngành sản
xuất , chế biến đồ gỗ xuất khẩu:
a) Giúp chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Trong quá trình phát triển các làng nghề, hoạt động sản xuất, chế biến đồ gỗ
đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông
nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.
Lịch sử ra đời và phát triển của mặt hàng này đã làm thay đổi cơ cơ cấu kinh tế
nông thôn của các làng nghề. Sự tác động này đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở
nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất, mà bên cạnh là các
ngành thủ công nghiệp, thơng nghiệp và dịch vụ, cùng tồn tại và phát triển.
Phát triển sản xuất đồ gỗ xuất khẩu là quá trình hình thành và phát triển các
cơ sở, các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ ở nông thôn ngoại thành. Thông qua việc
làm tăng thêm số lợng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và quá
trình tích tụ, tập trung sản xuất cũng nh thông qua việc tích luỹ vốn của các cơ sở
đó hoặc qua sự liên kết giữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sự phát triển của
ngành hàng này cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế
hiện có trong nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo h-
ớng tăng dần tỷ trọng công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm dần
sản phẩm những nét riêng, độc đáo mang bản sắc văn hoá đặc trng của dân tộc
hay của mỗi vùng miền (nh những nét chạm trổ bằng tay), từ đó mà làm nên lợi
thế cạnh tranh riêng của sản phẩm Made in Viet Nam. Do vậy, đẩy mạnh xuất
khẩu đồ gỗ thủ công mỹ nghệ nói riêng và các sản phẩm đồ gỗ khác nói chung
sẽ góp phần giới thiệu và quảng bá văn hoá Việt Nam với bạn bè Quốc tế.
d) Góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nớc và mở rộng
giao lu hợp tác quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế:
Sản phẩm đồ gỗ không chỉ là một mặt hàng chủ lực của Việt Nam mà chúng
còn có thể mang những yếu tố văn hoá đậm nét. Điển hình là trên những sản
phẩm đồ gỗ mỹ nghệ tryền thống thờng biểu đạt phong cảnh sinh hoạt, con ng-
ời, cảnh quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống, quan niệm về tự nhiên Những
nét chấm phá nghệ thuật trên các sản phẩm chạm khắc gỗ, khảm trai vói cánh
cò bay, cành trúc uốn cong, mái đình, cây đa, con đò, bến nớc, con sông trải
dài đã thể hiện hình ảnh đất n ớc, con ngời và tâm hồn tình cảm Việt Nam, làm
cho ngời nớc ngoài thêm yêu mến dân tộc và đất nớc Việt Nam.
3. Đặc điểm của ngành sản xuất và chế biến gỗ:
a) Đã hình thành và phát triển từ lâu đời ở nớc ta:
b) Đợc sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề:
Sự ra đời của mặt hàng đồ gỗ truyền thống lúc đầu là để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của từng gia đình, đồng thời giải quyết lao động d thừa, nhàn rỗi giữa các
mùa vụ. Sau xuất hiện những gia đình chuyên làm nghề này để sản xuất sản
phẩm phục vụ nhu cầu của ngời dân trong làng. Song đa phần các gia đình này
vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nào đó. Hiện nay, Việt Nam có
khoảng 200 làng nghề làm đồ gỗ. Do đặc điểm , điều kiện giao thông trớc kia
nên các làng nghề truyền thống thờng gắn với các con sông để thuận tiện cho
việc đi lại, vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm.
c) Có nhiều nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề:
5
ở các làng nghề truyền thống thờng có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành
1.Những thành tựu ngành sản xuất, chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã
giành đợc trong những năm gần đây:
Theo nhận định của Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, liên tục trong ngững
năm qua, nhóm hàng đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam luôn đứng trong nhóm hàng
xuát khẩu có tốc độ tăng trởng cao nhất,với mức tăng trởng trung bình trên 30%.
Các sản phẩm đồ gỗ đứng thứ 5 trong số các mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất sau
dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản. Việt Nam đã qua mặt cả Malaisia, Thái
Lan và Indonesia để trở thành nớc xuất khẩu nhiều nhất về đồ gỗ ở Đông Nam á
trong năm 2007.
Biểu đồ cột thể hiện kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ từ năm 2001
đến nay.
(triệu USD)
Bảng tốc độ tăng trởng của kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ:
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng
trởng
74% 100% 37,2% 23,5% 22%
Theo dự kiến, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt 3 tỷ USD năm
2008, tăng 28,2% so với năm 2007. Riêng tỉnh Bình Dơng trong năm 2007 kim
ngạch xuất khẩu gỗ đã đạt 1,7 tỷ USD. Ngày 2/1/2008 tỉnh Bình Dơng nhận đợc
một dự án lớn của tập đoàn DongWha ( Hàn Quốc) trị giá 180 triệu USD về đầu
t xây dựng nhà máy chế biến gỗ tại tỉnh. Sản phẩm đồ gỗ chế biến của tỉnh Bình
7
Dơng đang xuất khẩu trực tiếp sang thị trờng của tất cả các khu vực trên thế giới,
trong đó châu á chiếm hơn 50% sản lợng, tiếp đó là Bắc Mỹ, châu Âu.
Bộ Công Thơng đã đa ra chiến lợc phát triển cho mặt hàng này trong những
năm tới, trong đó bao gồm các giải pháp để thực hiện mục tiêu đạt 7 tỷ USD kim
ngạch xuất khẩu gỗ vào năm 2010. Mục tiêu này là hoàn toàn có thể thực hiện đ-
tín của Việt Nam đợc nâng cao nhờ t cách là thành viên WTO và nhà nớc
Việt Nam đang có các cơ chế ngày càng thông thoáng.
Với thị trờng Nhật Bản, Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng đồ gỗ khá đa
dạng, phong phú, bao gồm đồ gỗ nội thất, đồ gỗ công nghiệp, ván sàn,
khung tranh, hòm, hộp, đồ gỗ trang trí Việt Nam đứng thứ 2, sau Trung
Quốc về xuất khẩu mặt hàng này vào Nhật Bản. Đồ gỗ Việt Nam xuất
8
khẩu sang Nhật Bản đạt tốc độ tăng trởng khá. Năm 2004: đạt 180 triệu
USD; năm 2005: 240 triệu USD; năm 2006: 286 triệu USD; 9 tháng đầu
năm 2997 đạt 228 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2006.
Với thị trờng EU, đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện đợc hởng thuế GSP
với mức thuế suất chủ yếu là 0% (một số mã hàng chịu thuế 2,1%) đã giúp
Việt Nam có một lợi thế nhất định khi chen chân vào thị trờng EU so với
Trung Quốc, Indonesia, Braxin, Malaisia do các n ớc này không đợc h-
ởng GSP. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gỗ Việt Nam vào EU trong thời
gian qua có mức tăng trởng trung bình 15%/năm, tập trung vào đỗ gỗ nội
thất và đồ dùng ngoài trời. Trong năm 2006 đạt 501,9 triệu USD, chiếm
26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc, riêng 3 tháng đầu năm 2007 đạt
200,72 triệu USD. Tuy nhiên so với tổng lợng nhập khẩu của EU thì mức
xuất khẩu của Việt Nam còn rất khiêm tốn và cha phản ánh đúng tiềm
năng.
2. Những thuận lợi với ngành chế biến, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam:
a) Việt Nam đã gia nhập WTO:
Điều này là một thách thức nhng cũng là một cơ hội đối với các doanh nghiệp
chế biến gỗ Việt Nam. Thông qua quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới,
lĩnh vực xuất khẩu gỗ đợc đẩy mạnh, các rào cản thuế quan của nớc ngoài với
sản phẩm cuả Việt Nam đợc dỡ bỏ dần dần, các doanh nghiệp sản xuất gỗ xuất
khẩu đợc giảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Thêm vào đó là làn sóng đầu t
mạnh mẽ từ nớc ngoài vào lĩnh vực này. Ngành sản xuất, chế biến gỗ của nớc ta
đợc đánh giá là đầy tiềm năng. Cùng với đó là những điều kiện thuận lợi về kinh
Ngày nay những thị trờng đồ gỗ chính trên thế giới nh châu âu, Mỹ, úc có
xu hớng chuyển dịch dần đầu t và mua hàng ở Việt Nam. Thị trờng xuất khẩu
ngày càng đợc mở rộng nên hoạt động đầu t trong lĩnh vực này cũng tăng rất
mạnh. Chính tốc độ phát triển ngành chế bién gỗ tăng mạnh, đặc biệt là từ cuối
năm 2002 đã nói lên điều đó.
Các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã tạo đợc vị thế mới trên thị tr-
ờng quốc tế. Trớc đây, ít ai nghĩ rằng đồ gỗ Việt Nam có thể chen chân vào các
siêu thị lớn, thì nay, hầu hết các siêu thị lớn trên thế giới đều có bán đồ gỗ chế
biến tại Việt Nam. Việc có nhiều nhà nhập khẩu đồ gỗ quốc tế tới tham dự hội
chợ EXPO
đồ gỗ hàng năm vào tháng 10 tại TPHCM trong 4 năm qua, để tìm hiểu và ký kết
hợp đồng đã phần nào khẳng định vị thế của công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
trên thị trờng thế giới.
e) Nguồn nhân lực dồi dào, phong phú:
Nớc ta có dân số trên 84 triệu ngời, đa phần là dân số trẻ, do vậy lực lợng lao
động rất đông đảo. Ngời dân Việt Nam từ lâu đã có truyền thống chăm chỉ, cần
cù, chịu khó, lại thông minh, tháo vát, nhanh nhẹn. Nguồn tri thức của ngời lao
10
động Việt Nam đủ sức để tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ cao cấp, quy
trình kỹ thuật tiên tiến của sự phát triển tri thức toàn cầu. Việc phát triển ngành
nghề sản xuất gỗ xuất khẩu vừa phát huy lợi thế về lao động, vừa tạo thêm việc
làm, góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội bức xúc của đất nớc.
f) Đã thành lập đợc Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam:
Hiện nay, Hiệp hội này có trên 300 thành viên là các doanh nghiệp sản xuất và
kinh doanh gỗ trên toàn quốc. Từ năm 2003 đến nay, hội đã thực hiện hỗ trợ cho
các thành viên theo chơng trình xúc tiến thơng mại quốc gia. Cụ thể nh hỗ trợ họ
tập huấn, đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên về marketing,
trình độ quản lý, kỹ năng buôn bán ; hỗ trợ họ áp dụng công nghệ thông tin
vào sản xuất kinh doanh (quản trị mạng, xử lý thông tin trên mạng ); chuyển
giao công nghệ mới; tổ chức giao lu học tập, trao đổi kinh nghiệm cũng nh hợp
Do sự phụ thuộc vào thị trờng cung cấp nguyên liệu từ nớc ngoài cũng nh tình
trạng giao động của thị trờng này nên khi giá nguyên liệu tăng cao và đang ngày
càng trở nên khan hiếm nh hiện nay thì hoạt động của các doanh nghiệp đang bị
ảnh hởng rất nhiều. Trong khi thị trờng đang ngày càng đợc mở rộng thì nhiều
doanh nghiệp trong lĩnh vực đồ gỗ, nhất là các doanh nghiệp tại TP Hồ Chí
Minh, Bình Định, Đồng Nai, Gia Lai, Đăc Lắc cho biết họ đang rất khó khăn
trong việc tìm kiếm gỗ nguyên liệu để duy trì sản xuất. Nguồn cung cấp nguyên
liệu từ các nớc cận kề nh Lào và Campuchia đang cạn kiệt, trong khi thị trờng
nhập khẩu gỗ lớn nhất của Việt Nam là Malaisia thì giá đang tăng mạnh, đây
cũng là nớc thờng xuyên thay đổi về chính sách xuất khẩu gỗ, lúc cho xuất khẩu,
lúc lại cấm không cho xuất khẩu. Nhiều nớc nh LB Nga lại tăng thuế xuất khẩu
gỗ nguyên liệu. Đó là cha tính đến giá xăng dầu trên thế giới tăng kéo theo cớc
phí vận chuyển tăng Giá gỗ tăng cao từ 40-100% trong năm qua cũng gây
không ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Điển hình là gỗ lim nhập khẩu từ Lào
tăng giá từ 16 triệu/mét khối vào giữa năm 2007 đến 40 triệu/mét khối cuối năm
2007 do nguồn cung cấp gỗ lim từ nớc này giảm mạnh.
Có một nghịch lý nữa là hàng năm chúng ta xuất khẩu tới hàng triệu tấn gỗ
dăm khai thác từ rừng trồng trong nớc. Đây là nguyên liệu chính để sản xuất ván
nhân tạo, tuy nhiên, mỗi năm ta lại phải nhập tới gần 1 triệu mét khối ván nhân
tạo. Nguyên nhân chính là do ngành công nghiệp sản xuất ván nhân tạo ở nớc ta
cha phát triển, hiện nay cả nớc mới chỉ có 4 nhà máy sản xuất ván MDF với công
suất cha tới 100.000 mét khối/năm với chất lợng cha đáp ứng đợc tiêu chuẩn sản
xuất hàng xuất khẩu. Hiện nớc ta rất cần thêm nhà máy sản xuất ván nhân tạo để
tận dụng nguồn nguyên liệu trong nớc và cũng là nguồn cung cấp cho các doanh
nghiệp chế biến xuất khẩu đồ gỗ từ ván nhân tạo. Nh vậy, giá thành sản phẩm sẽ
giảm đi rất nhiều và có thể cạnh tranh đợc với các nớc.
b) Cha xây dựng đợc thơng hiệu, cha hình thành đợc hệ thống phân phối
hàng hoá chuyên nghiệp:
thơng hiệu. Thứ hai, các doanh nghiệp cha hình thành đợc một hệ thống phân
phối hàng hoá chuyên nghiệp, một doanh nghiệp đảm nhận mọi khâu từ tìm
nguyên liệu đến bán sản phẩm. Mô hình này sẽ dần dần không còn phù hợp nữa.
Thứ ba, là do thủ tục hành chính còn quá rờm rà. Để xây dựng đợc thơng hiệu,
trớc khi tung sản phẩm ra thị trờng, doanh nghiệp cần đăng ký bản quyền sở hữu
mẫu mã lên Cục sở hữu trí tuệ để khẳng định trên cơ sở pháp lý quyền sở hữu
của mình và đợc pháp luật bảo vệ. Nhng vì thủ tục đăng ký bản quyền phức tạp,
rắc rối, có nhiều chồng chéo, mang tính chất hành chính, thời gian hoàn thành
khá lâu đã khiến nhiều doanh nghiệp nản mà bỏ cuộc. Nhiều doanh nghiệp
không những không đăng ký mà còn ăn cắp bản quyền của nhau dẫn đến tình
trạng tranh chấp, kiện tụng tràn lan. Hiện nay, chúng ta vẫn cha tìm ra lối thoát
cho tình trạng vi phạm bản quyền, sao chép mẫu mã giữa các doanh nghiệp dẫn
đến hạn chế sự phát triển. Thứ t, việc nhận gia công và làm theo mẫu đặt sẵn của
ngời mua, hiếm có mẫu sáng tạo của riêng mình đã biến các doanh nhiệp của
chúng ta thành ngời làm thuê cho các doanh nghiệp nớc ngoài. Thứ năm, công
tác xúc tiến thơng mại cha có sự liên kết tốt, nhất là giữa Cục XTTM với các
trung tâm XTTM và các doanh nghiệp gỗ. Tất cả những điều này đang làm ảnh
hởng đến thơng hiệu gỗ Việt Nam trên thị trờng thế giới.
c) Các doanh nghiệp còn đang rất thiếu thông tin do khả năng tiếp cận thị
trờng còn hạn chế:
Đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến gỗ, họ không có bất
kì sự t vấn, tham mu nào của các công ty t vấn, của các hiệp hội ngành gỗ, hoặc
các cơ quan hữu quan, dẫn đến việc mất phơng hớng mở rộng đầu t, đi sau các n-
ớc bạn về đầu t công nghệ, máy móc, và hiển nhiên thua kém nớc bạn về chiếm
thị phần trên thơng trờng quốc tế. Còn đối với các doanh nghiệp mới muốn xâm
13
nhập, đầu t vào ngành này, cũng không hề có bất kỳ sự t vấn hớng dẫn nào về
các kế hoạch, dự án đầu t máy móc, thiết bị, công nghệ của thế giới. Họ bị động
và dẫn đến nhiều doanh nghiệp tự đầu t và đầu t sai, không mang lại hiệu quả
nhận đợc hợp đồng lớn thì lại không đủ năng lực sản xuất, chia cơ sở khác cùng
làm thì không đúng tiến độ, cuối cùng đành bỏ. Những doanh nghiệp cỡ nhỏ ở
địa phơng thiếu sự phối hợp, rất khó có thể cung ứng nổi khi nhận đợc những
khối lợng hàng đặt mua thật lớn.
Quy mô các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu vẫn ở mức vừa và nhỏ, sản
xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí. Số lợng các doanh nghiệp đầu t mới về
thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất còn thấp, mức độ đầu t cha cao.
Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất gỗ, đặc biệt là đồ gỗ mỹ nghệ có hệ
14
thống thiết bị lạc hậu. Trong khi đó, yêu cầu của thị trờng ngày càng cao. Hiện
chỉ có 10% trong tổng số hơn 1.800 cơ sở chế biến gỗ tại Việt Nam đạt tiêu
chuẩn quốc tế.
Các doanh nghiệp đồ gỗ hiện nay vừa nhỏ lại vừa phân tán, phát triển tự phát
thiếu sự liên kết nên dù các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế là có nguồn nhân
công giá rẻ, tay nghề khéo léo, kỹ thuật tinh xảo và sản phẩm đạt chất lợng tơng
đơng hàng nớc ngoài, giá bán lại thấp hơn 20% so với hàng hóa cùng loại của n-
ớc ngoài vẫn khó cạnh tranh. Khách hàng quốc tế thờng đặt yêu cầu cao về sự
an toàn của hợp đồng trong khi các doanh nghiệp Việt Nam cha biết liên kết
với nhau trong sản xuất.
Ngành chế biến gỗ của nớc ta phát triển mạnh trong những năm gần đây, nh-
ng vẫn mang tính chất đơn lẻ, không có sự kết hợp, phát triển đồng bộ của các
ngành cơ khí, chế tạo vật t, Hardware đi kèm với sản phẩm gỗ, thờng chỉ chiếm
5-10% giá trị sản phẩm. Các Hardware, vật t lại không đợc đảm bảo, giá thành
cao, phần nào làm chậm bớc tiến phát triển của ngành này. Ngoài ra, còn các
lĩnh vực, ngành nghề khác hỗ trợ cho ngành gỗ, nhng cho đến nay vẫn hoàn toàn
bế tắc, nh ngành chế biến và sản xuất hoá chất chẳng hạn. Việt Nam không có
bất kỳ nhà máy chế biến, sản xuất hoá chất tầm cỡ, đảm bảo chất lợng và giá cả
hợp lý nào cả, giá thành cung cấp quá cao trong khi chất lợng quá yếu kém,
không cung cấp kịp thời cho doanh nghiệp.
e) Những quy định khắt khe từ những thị trờng lớn (Mỹ, Nhật, EU ):
a) Tập trung trồng rừng theo phơng thức thâm canh để tự túc nguồn
nguyên liệu gỗ vào năm 2020.
Giải quyết vấn đề nguyên liệu đầu vào không thể chỉ trong một sớm, một
chiều mà cần phải có quy hoạch vùng nguyên liệu ngay từ bây giờ. Do vậy, Bộ
NN-PTNT đã đề ra mục tiêu phát triển lâm nghiệp, trồng rừng là hình thành
vùng nguyên liệu gỗ từ rừng trồng ổn định với diện tích 825.000 ha từ nay tới
năm 2020. Để có thể thực hiện đợc mục tiêu này thì Chính phủ đã chỉ thị các Bộ,
ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung làm tốt một số việc sau
đây:
Khẩn trơng rà soát, hoàn chỉnh và phê duyệt quy hoạch trồng rừng
nguyên liệu, trong đó đảm bảo cung cấp ổn định cho nhu cầu của công
nghiệp chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ; quy hoạch diện tích thích hợp để
trồng loại rừng cây gỗ lớn, các loại cây bản địa quý hiếm, tạo nguồn gỗ ổn
định dể duy trì và phát triển sản xuất hàng gỗ thủ công mỹ nghệ.
Chỉ đạo lựa chọn cơ cấu cây rừng phù hợp với điều kiện của từng vùng,
có hiệu quả kinh tế, đảm bảo tiêu chuẩn nguyên liệu cho chế biến, sản
xuất sản phẩm gỗ; đồng thời có biện pháp đảm bảo đủ giống cây lâm
nghiệp (bao gồm cả nghiên cứu, sản xuất trong nớc và nhập khẩu) để cung
cấp cho trồng rừng nguyên liệu; làm tốt công tác khuyến lâm chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật về sản xuất cây giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ
rừng.
Trên cơ sở quy hoạch trồng rừng nguyên liệu, rà soát bổ sung những
chính sách để khuyến khích hơn nữa các thành phần kinh tế đầu t trồng
rừng, hởng lợi từ rừng, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,
sản xuất sản phẩm gỗ, nhất là các chính sách về đất đai, đầu t, tín dụng, hỗ
trợ về giống cây, xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng nguyên liệu, khuyến
lâm, tiêu thụ sản phẩm.
Khuyến khích, đẩy mạnh hơn nữa việc đầu t công nghệ sản xuất ván
nhân tạo trong nớc. Đánh giá đầy đủ về hiệu quả đầu t và thị trờng tiêu thụ
để có hớng phát triển trong những năm tới.
a) Các giải pháp để xúc tiến thơng mại tầm vĩ mô:
Tăng cờng mối liên kết giữa xúc tiến thơng mại với xúc tiến đầu t.
Gắn công tác xúc tiến thơng mại với yêu cầu tăng trởng xuất khẩu sản
phẩm gỗ, đẩy mạnh công tác xây dựng thơng hiệu đi đôi với việc đề cao
chữ tín trong thơng mại quốc tế.
Nâng cao năng lực tổ chức thị trờng nớc ngoài của các Thơng vụ Việt
Nam.
Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xúc tiến thơng mại cấp cao để thúc
đẩy hợp tác, đầu t và buôn bán giữaViệt Nam với các nớc, thu hút các
18
tập đoàn đa quốc gia đầu t vào Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất sản
phẩm gỗ xuất khẩu.
Đổi mới công tác tổ chức các chơng trình xúc tiến thơng mại theo hớng
chú trọng vào khâu tổ chức và cung cấp thông tin thị trờng, giảm bớt các
cuộc khảo sát thị trờng mang tính nhỏ lẻ.
Tập trung xúc tiến thơng mại tại các thị trờng trọng điểm có kim ngạch
nhập khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam lớn nh Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU,
Canada
b) Các biện pháp cụ thể để thực hiện việc xúc tiến thơng mại thành công:
Trên thế giới có rất nhiều các hoạt động xúc tiến thơng mại cũng khá tơng tự
nhau. Tuy nhiên, vấn đề chính là làm thế nào để các hoạt động này mang lại hiệu
quả. Hoạt động tổ chức các đoàn doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ tham gia
các kỳ triển lãm hội chợ quốc tế sẽ có quy mô ngày càng lớn hơn cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng các doanh
nghiệp, bởi số lợng doanh nghiệp tham gia vàp hoạt động xuất nhập khẩu ngày
một tăng.
Để phát triển về chiều rộng thì ở từng nớc cụ thể, ngoài những hội chợ mà các
doanh nghiệp đã từng tham dự, chúng ta sẽ đăng ký tham gia thêm một số kỳ hội
chợ khác nữa. Còn để phát triển về chiều sâu thì đối với những kỳ hội chợ đã
và hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, quản lý đến xúc tiến thơng mại trên cơ sở các thị tr-
ờng mục tiêu. Bên cạnh đó, Hiệp hội cần tích cực xây dựng các mối quan hệ
mang tầm khu vực và thế giới nhằm nâng cao hình ảnh và tính cạnh tranh của
ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam. Hiệp hội cũng phải làm tốt chức năng
là một kênh cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình tìm hiểu và
đẩy mạnh phát triển thị trờng, giúp các doanh nghiệp giữ gìn, bảo hộ bản quyền,
xây dựng và quảng bá thơng hiệu cho các sản phẩm gỗ Việt Nam.
3. Doanh nghiệp cần tìm cách nắm bắt kịp thời các thông tin cần thiết, tìm
hiểu kỹ đặc điểm, nhu cầu, xu hớng của từng thị trờng, từ đó mà có các
chiến lợc phát triển cho phù hợp:
Trong những thị trờng chính đầy tiềm năng của sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của
Việt Nam nh: Mỹ, Nhật, EU thì mỗi thị tr ờng đều có những nét đặc trng riêng,
rất khác biệt về nhu cầu, thị hiếu, tập quán văn hoá, thói quen tiêu dùng hay môi
trờng pháp lý Các doanh nghiệp tr ớc khi xâm nhập vào một thị trờng nào đó
thì đều cần phải tìm hiểu kỹ những thông tin cụ thể về thị trờng đó có liên quan
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Với 3 thị trờng mục tiêu lớn của
ngành công nghiệp sản xuất gỗ xuất khẩu của Việt Nam thì các doanh nghiệp
cần chú ý những nét sau:
a) Với thị trờng Mỹ:
Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động khuyếch trơng, quảng cáo, tiếp
thị, khuyến mãi để tìm kiếm khách hàng. Vì làm ăn với Mỹ không có chuyện
hữu xạ tự nhiên hơng mà các doanh nghiệp Việt Nam phải tự đẩy mạnh hoạt
động quảng cáo. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn hạn chế việc quảng
bá hình ảnh của mình do sợ tốn kém và có đặc điểm thiếu tính tiên liệu khi làm
ăn với Mỹ, còn tuỳ cơ ứng biến. Trong khi đó, đối với ngời Mỹ, mọi thứ đều phải
theo nguyên tắc và luật lệ.
Doanh nghiệp Mỹ luôn đòi hỏi cao với đối tác. Ngay cả khi đã chấp nhận làm
ăn, họ còn thờng xuyên kiểm tra và theo dõi cả những vấn đề không liên quan gì
đến hợp đồng nh những chính sách đối xử với ngời lao động. Do vậy, khi có đơn
20
có giá trị sử dụng cao trong cuộc sống hàng ngày.
Nhạy cảm với giá cả tiêu dùng hàng ngày: doanh nghiệp cần đảm bảo
sự cân bằng giữa chất lợng và giá thành sản phẩm. Bởi ngời Nhật bây
giờ luôn quan niệm hàng rẻ là hàng kém chất lợng, họ sẵn sàng trả
giá cao cho những sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng, có chất lợng tốt và
thể hiện địa vị.
21
Thời trang và thị hiếu về màu sắc: xu hớng của ngời Nhật bây giờ là
mua những mặt hàng khác nhau nhng có chung công dụng. Doanh
nghiệp nên đa dạng hoá chủng loại sản phẩm, giảm về số lợng thành
phẩm để đáp ứng nhu cầu của đông đảo ngời tiêu dùng.
Nhạy cảm với những thay đổi theo mùa: Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt:
xuân, hạ, thu, đông, mùa hè nóng và ẩm ớt, mùa đông lạnh và khô. Đặc
điểm khí hậu ảnh hởng đến khuynh hớng tiêu dùng. Khi xây dựng kế
hoạch bán hàng, các doanh nghiệp phải tính đến cả sự khác biệt về thời
tiết.
Ngời Nhật a chuộng sự đa dạng của sản phẩm: hàng hoá có mẫu mã đa
dạng phong phú thu hút đợc ngời tiêu dùng Nhật Bản. Tuy vậy, họ th-
òng chỉ mua sản phẩm với số lợng ít vì không gian chỗ ở của họ tơng
đối nhỏ và còn để tiện thay đổi cho phù hợp với mẫu mã mới. Do vậy,
các doanh nghiệp không nên nản lòng khi khách hàng Nhật chỉ mua
một lợng hàng rất nhỏ, vì nhiều khi chỉ từ một lợng hàng rất nhỏ cũng
có thể hình thành nên cả một trào lu tiêu thụ thông qua sự giới thiệu
của ngời đó với ngời thân, bạn bè.
Môi trờng sinh thái: đây là thị trờng có yêu cầu rất cao về những vấn đề
liên quan đến bảo vệ tài nguyên, môi trờng. Do vậy, các sản phẩm gỗ
nhập khẩu vào thị trờng này bắt buộc phải có nhãn sinh thái (nguyên
liệu đợc khai thác ở khu vực cho phép) và yêu cầu kiểm tra d lợng một
số chất hoá học.
c) Với thị trờng EU:
vào công nghệ. Cần tăng cờng đầu t phát triển khoa học công nghệ theo hớng
phát triển sản phẩm mới, sử dụng nguyên vật liệu mới, ứng dụng công nghệ mới,
thay thế công nghệ lạc hậu, xử lý ô nhiễm môi trờng. Bên cạnh đó, cũng cần có
các tổ chức tiến hành hoạt động t vấn cho các doanh nghiệp về phơng hớng, kế
hoạch, dự án đầu t máy móc, thiết bị, công nghệ mới của thế giới, để tránh sự
đầu t không phù hợp với sự phát triển của ngành chế biến gỗ toàn cầu.
6. Đẩy mạnh cải tiến công tác thiết kế sản phẩm, tạo cho sản phẩm sự khác
biệt mang lại lợi thế cạnh tranh:
Đã đến lúc các doanh nghiệp cần thực sự quan tâm đến khâu thiết kế mẫu mã
nếu muốn tồn tại đợc vững chắc trên thị trờng quốc tế. Trong mỗi doanh nghiệp
nên phát triển một bộ phận thiết kế mẫu mã riêng, và đăng ký quyền Sở hữu trí
tuệ cho các sản phẩm của mình. Doanh nghiệp có thể tạo ra sự khác biệt cho sản
phẩm của mình theo nhiều cách, nh là:
Đa vào sản phẩm những nét đẹp thủ công ( nh chạm trổ tỉ mỉ bằng tay)
khiến cho sản phẩm có nét đặc sắc riêng, toát lên vẻ đẹp của những giá trị
văn hoá truyền thống Việt Nam. Cách này sẽ làm tăng giá trị xuất khẩu
của sản phẩm.
Kết hợp nguyên liệu gỗ với các nguyên liệu khác, tạo nên dòng sản phẩm
độc đáo và có giá trị cao. Chẳng hạn đồ gỗ ngoài trời (outdoor) thờng kết
hợp với nhôm, inox, vải nhựa. Đồ gỗ trong nhà (indoor) thờng kết hợp
với sắt, inox, mây, tre, bèo, cói, kính, vải. Dòng sản phẩm này đợc nhiều
thị trờng nhập khẩu quan tâm nh Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và giá bán lại
23
cao hơn đồ gỗ thuần tuý. Đây là những sản phẩm vừa tiết kiệm nguyên
liệu gỗ, vừa tận dụng những vật liệu rẻ tiền có sẵn trong nớc làm giảm chi
phí sản xuất và tạo điều kiện cho các ngành phụ trợ khác phát triển nh các
ngành nghề thủ công truyền thống, giải quyết thêm việc làm cho nhiều
lao động.
Còn có nhiều cách khác để tạo thêm nét độc đáo cho sản phẩm. Nhng điều
quan trọng hơn cả là mẫu mã sản phẩm cần mang những đặc trng riêng, làm nên
2. Sách Thơng hiệu của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ Việt Nam.
3. Trang web http:\www.vneconomic.com.vn
25